Xu Hướng 3/2024 # William Henry Keeler – Du Học Trung Quốc 2024 # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết William Henry Keeler – Du Học Trung Quốc 2024 được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Vốn là một giáo sĩ trong vai trò lãnh đạo giáo hội địa phương, ông từng đảm trách nhiều vai trò tại Hoa Kỳ trước khi tiến đến trở thành Tổng giám mục Baltimore như: Giám mục phụ tá Giáo phận Harrisburg (1979 – 1983), Giám quản Tông Tòa Giáo phận Harrisburg (1983), Giám mục chính tòa Harrisburg (1983 – 1989); ngoài ra, ông cũng từng đảm nhiệm vai trò Giám quản Tông Tòa Giáo phận Richmond (2003 – 2004). Ngoài lãnh đạo các giáo phận được bổ nhiệm, ông còn đám nhận nhiều vị trí quan trong tại Hội đồng giám mục quốc gia như: Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ (1989 – 1992), Chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ (1992 – 1995). Ông được vinh thăng Hồng y ngày 26 tháng 11 năm 1994, bởi Giáo hoàng Gioan Phaolô II . [1]

Hồng y William Henry Keeler sinh ngày 4 tháng 3 năm 1931 tại San Antonio, bang Texas, Hoa kỳ. Sau quá trình tu học dài hạn tại các cơ sở chủng viện theo quy định của Giáo luật, ngày 17 tháng 7 năm 1955, Phó tế Keeler, 24 tuổi, tiến đến việc được truyền chức linh mục. Cử hành nghi thức truyền chức cho tân linh mục là Tổng giám mục Luigi Traglia, Phó Giám quản Giáo phận Rôma.[2]

Sau 24 năm thi hành các công việc mục vụ với thẩm quyền và cương vị của một linh mục, ngày 24 tháng 7 năm 1979, Tòa Thánh loan tin Giáo hoàng đã quyết định tuyển chọn linh mục William Henry Keeler, 48 tuổi, gia nhập Giám mục đoàn Công giáo Hoàn vũ, với vị trí được bổ nhiệm là Giám mục phụ tá Giáo phận Harrisburg, Pennsylvania, danh nghĩa Giám mục hiệu tòa Ulcinium. Lễ tấn phong cho vị giám mục tân cử được tổ chức sau đó vào ngày 21 tháng 9 cùng năm, với phần nghi thức chính yếu được cử hành cách trọng thể bởi 3 giáo sĩ cấp cao, gồm chủ phong là giám mục Joseph Thomas Daley, chính tòa Harrisburg; hai vị giáo sĩ còn lại, với vai trò phụ phong, gồm có giám mục Francis Joseph Gossman, giám mục chính tòa Giáo phận Raleigh, Bắc Carolina và Giám mục Martin Nicholas Lohmuller, giám mục phụ tá Tổng giáo phận Philadelphia, Pennsylvania.[2] Tân giám mục chọn cho mình châm ngôn:OPUS FAC EVANGELISTÆ.[1]

Từ ngày 3 tháng 9 năm 1983, ông đảm nhiệm vai trò Giám quản Tông Tòa Giáo phận Harrisburg. Không lâu sau đó, ngày 11 tháng 10 cùng năm, Tòa Thánh ra quyết định bổ nhiệm Giám mục Keeler đảm nhiệm vai trò Giám mục chính tòa Harrisburg.[2]

Sau khoảng thời gian 6 năm cai quản Harrisburg, Giám mục William Henry Keeler được Tòa Thánh thăng Tổng giám mục, qua việc bổ nhiệm giám mục này làm Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Baltimore, Maryland. Thông báo về việc bổ nhiệm này được công bố cách rộng rãi vào ngày 6 tháng 4 năm 1989.[2]

Bằng việc tổ chức công nghị Hồng y năm 1994 được cử hành chính thức vào ngày 26 tháng 11, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đưa ra quyết định vinh thăng Tổng giám mục William Henry Keeler tước vị danh dự, Hồng y. Tân Hồng y thuộc Đẳng Hồng y Linh mục và Nhà thờ Hiệu tòa được chỉ định là Nhà thờ S. Maria degli Angeli.[2]

Ngoài lãnh đạo các giáo phận được bổ nhiệm, ông còn đám nhận nhiều vị trí quan trong tại Hội đồng giám mục quốc gia như: Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, từ năm 1989 cho đến khi được bầu chọn làm Chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ năm 1992. Ông giữ chức vụ này đến năm 1995.[1]

Trong khoảng thời gian ngắn từ ngày 16 tháng 9 năm 2003 đến ngày 31 tháng 3 năm 2004, ông còn kiêm nhiệm thêm vai trò Giám quản Tông Tòa Giáo phận Richmond.[1]

Ngày 12 tháng 7 năm 2007, Tòa Thánh chấp thuận đơn xin hồi hưu của ông, theo Giáo luật. Ông qua đời sau đó vào ngày 23 tháng 3 năm 2024, thọ 86 tuổi.[2]

Abjad – Du Học Trung Quốc 2024

Từ nguyên

Tên “abjad” (abjad أبجد) có nguồn gốc từ việc phát âm các chữ cái đầu tiên của bảng chữ cái tiếng Ả Rập cổ. Thứ tự (abjadī) của các chữ cái Ả Rập được sử dụng để khớp với các chữ cái Hebrew, Phoenicia và Semit: ʾ (aleph) - b - g - d.

Thuật ngữ

Theo sự trình bày của Daniels[3], abjad khác với alphabet ở chỗ nó chỉ biểu diễn các phụ âm chứ không hề biểu diễn nguyên âm. So với abugida, một loại hệ thống cũng được định nghĩa bởi Daniels, abjad khác ở việc nguyên âm được hiểu ngầm theo âm vị học và khác nơi dấu phụ xuất hiện, chẳng hạn nikkud trong tiếng Hebrew hay ḥarakāt trong tiếng Ả Rập, dấu phụ là một tuỳ chọn không bắt buộc và cũng không được dùng phổ biến. Abugida đánh dấu tất cả nguyên âm (trừ nguyên âm mặc định — inherent vowel) bằng một dấu phụ. Một số hệ thống abugida dùng biểu tượng đặc biệt để loại trừ nguyên âm mặc định, nhờ đó, những phụ âm đứng riêng lẻ (không kèm dấu phụ) chỉ thể hiện chính bản thân nó mà thôi. Trong khi đó, với syllabary, mỗi tự vị (grapheme) biểu diễn một âm tiết hoàn chỉnh chứ không phải chỉ là một nguyên âm riêng lẻ hoặc tổ hợp một nguyên âm với một hay một vài phụ âm.

Nguồn gốc

Abjad đầu tiên được dùng rộng rãi là chữ Phoenicia. Không như những chữ viết khác cùng thời, chẳng hạn chữ hình nêm hay chữ tượng hình Ai Cập, nó gồm lượng ký tự ít hơn đáng kể (22 ký tự). Điều đó làm cho thứ chữ này trở nên dễ học hơn và các thương nhân đi biển người Phoenicia đã đem theo nó đi khắp nơi.

Chữ Phoenicia là một phiên bản đơn giản hoá triệt để của cách viết biểu âm, trong khi chữ tượng hình yêu cầu người viết phải chọn một hình (hieroglyph) có cùng âm đọc để từ đó viết ra chữ mình muốn theo kiểu biểu âm, chẳng hạn Man’yōgana (hệ thống hán tự chỉ dùng cho việc biểu âm) được dùng để viết tiếng Nhật trước khi có kana.

Chữ Phoenicia đã làm xuất hiện nhiều hệ thống chữ viết mới, trong đó có chữ Hy Lạp và Aramaic, một abjad cũng được dùng rộng rãi. Chữ Hy Lạp phát triển thành nhiều hệ chữ viết phương tây hiện đại, như chữ Latinh và Kirin, còn chữ Aramaic lại là nguồn gốc của nhiều abjad và abugida hiện đại ở châu Á.

Tham khảo

Liên kết ngoài

Prom – Du Học Trung Quốc 2024

PROM là viết tắt của programmable Read-only memory trong tiếng Anh , hay “chíp bộ nhớ chỉ đọc lập trình được”. PROM là vi mạch lập trình đầu tiên và đơn giản nhất trong nhóm các vi mạch bán dẫn lập trình được ( programmable logic device , hay PLD). PROM chỉ lập trình được một lần duy nhất bằng phương pháp hàn cứng. PROM có số đầu vào hạn chế, thông thường đến 16 đầu vào, vì vậy chỉ thực hiện được những hàm đơn giản

PROM được phát minh bởi Wen Tsing Chow năm 1956 khi làm việc tại Arma Division của công ty American Bosch Arma tại Garden, New York . PROM được chế tạo theo đơn đặt hàng từ lực lượng Không quân Hoa Kỳ lúc bấy giờ với mục đích có được một thiết bị lưu trữ các tham số về mục tiêu một các an toàn và linh động. Thiết bị này dùng trong máy tính của Atlas E/F và được giữ bí mật trong vòng vài năm trước khi Atlas E/F trở nên phổ biến.

Cấu trúc của PROM tạo bởi ma trận tạo bởi mảng cố định các phần tử AND nối với mảng các phần tử OR lập trình được.

Tại mảng nhân AND, các đầu vào sẽ được tách thành hai pha, ví dụ a thành pha thuận a và nghịch ( a ¯ ) {displaystyle ({bar {a}})}  , các chấm (•) trong mảng liên kết thể hiện kết nối cứng, tất cả các kết nối trên mỗi đường ngang sau đó được thực hiện phép logic AND, như vậy đầu ra của mỗi phần tử AND là một nhân tử tương ứng của các đầu vào. Ví dụ như hình trên thu được các nhân tử T 1 , T 3 {displaystyle T_{1},T_{3}}   như sau:

T 1 = a ¯ . b ¯ . c ¯ {displaystyle T_{1}={bar {a}}.{bar {b}}.{bar {c}}}  ,

T 3 = a . b ¯ . c ¯ {displaystyle T_{3}=a.{bar {b}}.{bar {c}}}  .

Các nhân tử được gửi tiếp đến mảng cộng OR, ở mảng này “X” dùng để biểu diễn kết nối lập trình được. Ở trạng thái chưa lập trình thì tất cả các điểm nối đều là X tức là không kết nối, tương tự như trên, phép OR thực hiện đối với toàn bộ các kết nối trên đường đứng và gửi ra các đầu ra X, Y, Z,… Tương ứng với mỗi đầu ra như vậy thu được hàm dưới dạng tổng của các nhân tử, ví dụ tương ứng với đầu ra Y:

Y = T 3 + T 1 = a ¯ . b ¯ . c ¯ + a . b ¯ . c ¯ {displaystyle Y=T_{3}+T_{1}={bar {a}}.{bar {b}}.{bar {c}}+a.{bar {b}}.{bar {c}}}  .

Hạt Dưa – Du Học Trung Quốc 2024

Hạt dưa là một món ăn nhâm nhi trong ngày Tết của người Việt Nam, đây là món chủ nhà đãi khách trong dịp Tết. Nguyên liệu chính của món hạt dưa đơn giản là chỉ từ những hạt của các loại dưa nhưng chủ yếu là dưa gang. Hạt dưa gang được tách ra và nướng lên làm phần bên trong hạt chín. Khi thưởng thức, người ta sẽ dùng răng (thường là răng cửa) cắn mạnh vào đầu hạt dưa và tách làm đôi hạt dưa để ăn phần lõi màu vàng bên trong gọi là chíp hạt dưa hay cúp hạt dưa. Thực khách vừa nhâm nhi hạt dưa vừa uống trà, trò chuyện giúp không khí Tết thêm sinh động.

Hạt dưa (màu đỏ và màu đen) trong khay bánh mứt ngày Tết

Nhân hạt dưa có vị béo, thơm khá đặc trưng. Ngoài hạt dưa hấu là chủ yếu còn có hạt bí, hạt hướng dương. Hạt dưa thường được tẩm màu đỏ hay màu đen bên ngoài, màu đỏ của hạt dưa tượng trưng cho sự may mắn.[1] Màu hồng đỏ của hạt dưa nhuộm bằng phẩm màu thực phẩm thường đem lại sắc hồng tươi thắm cho đôi môi. Đây cũng là một nét văn hóa đặc sắc của người Việt Nam.[2] Không chỉ lễ Tết, ngày nào trong năm cũng có hạt dưa đỏ để ăn. Vào quán trà chén ven đường phố cũng có món hạt dưa, vào các nhà hàng cũng có món hạt dưa. Sinh nhật, cưới hỏi, người ta vẫn cúp hạt dưa.[3]

Một số công dụng

Hạt dưa là một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng và rất hữu ích với người bị viêm gan, rối loạn lipid máu… Ăn hạt dưa thường xuyên giúp tăng cường trí nhớ và chức năng não-thần kinh, phục hồi nhanh sức hoạt động của tế bào não. Hạt dưa chứa nhiều chất dinh dưỡng như protid, glucid, lipid, vitamin B1, B2, E, PP, calci, sắt, kẽm, phosphor, selen… Trong đó, protid của hạt dưa là chất đạm không thể thiếu cho thần kinh, cơ bắp, huyết dịch, nội tạng, xương khớp. Chất glucid trong hạt dưa là thành phần chính cấu tạo tế bào và thần kinh.[4]

Theo Đông y, hạt dưa có vị ngọt, tính mát khi chưa rang chín, sau khi rang có tính bình, tác dụng hạ nhiệt, lợi tiểu, hạ huyết áp, tăng cường sinh lực. Nếu dùng chữa bệnh thì dùng hạt dưa luộc tốt hơn hạt dưa rang. Y học cổ truyền cho rằng hạt dưa làm mát phổi, tan đàm, điều hòa hệ tiêu hóa. Người bị ho do phổi nóng, đàm nhiều, ăn uống kém nên dùng.[4] Có nghiên cứu ghi nhận hạt dưa có tác dụng giúp ổn định men gan và lượng lipid huyết thanh rất có ích cho người bị viêm gan và những người bị rối loạn lipid máu (mỡ trong máu cao), giúp phòng ngừa xơ vữa động mạch.[2] Cũng có các nghiên cứu cho thấy, hạt dưa giúp tăng cường trí nhớ, nâng cao chức năng não-thần kinh, nhanh chóng phục hồi sức hoạt động của tế bào não. Chất béo trong hạt dưa, phần nhiều là acid béo không bão hòa, sẽ giúp ích trong việc phòng ngừa xơ cứng động mạch, bệnh mạch vành, chứng cao mỡ máu…[4]

Nguy cơ

Tuy hạt dưa là món ăn ngon và vui trong ngày Tết tuy nhiên trước đây khá lâu cũng có nhiều cảnh báo về những nguy cơ khi ăn hạt dưa như một số nơi phát hiện hạt dưa có chất gây ung thư bởi tính chất độc hại của phẩm màu công nghiệp được dùng để nhuộm hạt dưa. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, màu công nghiệp Rhodamin B là chất độc có thể gây ngộ độc hoặc gây ung thư nếu dùng lâu dài nên bị cấm sử dụng trong thực phẩm. Rhodamin B là một hợp chất hóa học thường được sử dụng như thuốc nhuộm đánh dấu vết để xác định hướng và lưu tốc của dòng chảy. Thuốc nhuộm rhodamin phát huỳnh quang, do đó có thể phát hiện dễ dàng bằng huỳnh quang kế. Do giá thành thấp, giúp màu sắc tươi tắn, sặc sỡ, bền màu nên trước đây các cơ sở sản xuất hạt dưa thường chọn phẩm màu này để nhuộm màu mà không biết rằng nó là một chất độc hại. Tuy nhiên ngày nay khi các thông tin về chất này được phổ biến rộng rãi thì không ai sử dụng nó trong chế biến hạt dưa nữa. Bên cạnh việc quản lý xuất xứ hàng hóa và các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm được các cơ quan chức năng giám sát chặt chẽ thì nhận thức của người tiêu dùng cũng đã được nâng cao nên nếu hạt dưa nhuộm phẩm màu thì không thể tiêu thụ được do đó các cơ sở sản xuất ngày nay không ai dùng phẩm màu để nhuộm hạt dưa mà tất cả đều để nguyên màu tự nhiên của hạt dưa khi chế biến. Bên cạnh đó các biện pháp quản lý chất lượng sản phẩm cũng được các cơ sở sản xuất thực hiện một cách nghiêm chỉnh theo tiêu chuẩn GMP nên các sản phẩm hạt dưa ngày nay đang lưu thông trên thị trường có nhãn mác và số hiệu đăng ký, mã vạch, tên cơ sở sản xuất, địa chỉ sản xuất rõ ràng đều là những sản phẩm đảm bảo độ an toàn cao cho người sử dụng.

Chú thích

Định Luật Okun – Du Học Trung Quốc 2024

Đồ thị dữ liệu kinh tế hàng quý của Mỹ (chưa hiệu chỉnh theo năm – not annualized) từ 1947 đến năm 2002 biểu diễn ước lượng phiên bản sai phân của định luật Okun: % Mức thay đổi GNP =.856 – 1.827*(Mức thay đổ của tỉ lệ thất nghiệp). R^2 là.504. Sai khác trong các kết quả khác phần nhiều do sử dụng kết quả quý.

Trong kinh tế học , định luật Okun (đặt theo tên của Arthur Melvin Okun, người đề xuất định luật này vào năm 1962 [1] ) cho biết mối quan hệ giữa thất nghiệp và mức sụt giảm sản lượng của 1 quốc gia, được đúc kết từ quan sát thực nghiệm. “Phiên bản gap” cho biết với mỗi 1% tăng lên của tỉ lệ thất nghiệp , GDP sẽ giảm tương đương 2% so với GDP tiềm năng. “Phiên bản sai phân” [2] mô tả mối quan hệ giữa mức thay đổi của tỷ lệ thất nghiệp so với GDP thực trên cơ sở dữ liệu quý. Tính ổn định và hữu dụng của định luật này đến giờ vẫn còn gây tranh cãi. [3]

Định luật Okun, một cách chính xác, thường được xem là một dạng “Quy luật ngón tay cái” bởi vì nó là ước lượng xấp xỉ được rút ra từ quan sát thực nghiệm thay vì từ lý thuyết. Gọi là xấp xỉ vì còn có những yếu tố khác (như năng suất) ảnh hưởng đến kết quả. Trong bản báo cáo gốc của Okun phát biểu rằng 2% gia tăng trong sản lượng sẽ dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp chu kỳ giảm 1%, số người tham gia lực lượng lao động tăng 0.5%, số giờ làm việc của mỗi lao động tăng 0.5%; và sản lượng trong mỗi giờ làm việc (năng suất lao động) tăng 1%.[4]

Định luật Okun cho biết tỷ lệ thất nghiệp tăng lên mỗi 1 điểm phần trăm sẽ dẫn đến tăng trưởng GDP thực giảm 2%. Dù vậy, các nhà nghiên cứu vẫn đang tranh luận khi xem xét ảnh hưởng của khung thời gian và quốc gia được chọn lên kết quả.

Mối quan hệ được kiểm định bằng cách hồi quy tốc độ tăng trưởng GDP hoặc GNP theo mức thay đổi của tỷ lệ thất nghiệp. Martin Prachowny đã ước lượng được rằng sản lượng cứ giảm 3% lại dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp tăng 1%. Tuy nhiên, tác giả cũng tranh luận rằng thực tế mức giảm sản lượng phần lớn do ảnh hưởng của các yếu tố khác bên cạnh tỷ lệ thất nghiệp. Khi giữ cho các yếu tố khác không đổi, tác giả ước lượng mức giảm sản lượng giảm bớt khoảng 0.7% (Prachowny 1993). Tại Mỹ, mức sụt giảm sản lượng dường như có xu hướng giảm bớt theo thời gian. Theo Andrew Abel và Ben Bernanke, với khung thời gian nghiên cứu gần hơn đã ước lượng sản lượng giảm khoảng 2% tương ứng với mỗi 1% tăng của thất nghiệp (Abel & Bernanke, 2005).

Có một số nguyên nhân giải thích tại sao GDP có thể tăng/giảm nhanh hơn tương ứng mức giảm/ tăng của tỷ lệ thất nghiệp:

Khi thất nghiệp tăng,

Hiệu ứng số nhân tiền tệ giảm do người lao động có xu hướng giảm bớt chi tiêu 

Một lượng người thất nghiệp từ bỏ tìm kiếm việc làm, và không được tính vào lực lượng lao động. Không được thống kê là thất nghiệp. 

Công nhân có thể làm việc ít giờ hơn

Năng suất lao động có thể giảm, có lẽ bởi vì chủ lao động duy trì số công nhân nhiều hơn mức cần thiết

Một hàm ý từ các phân tích trên đó là sự gia tăng năng suất lao động hoặc sự mở rộng quy mô lực lượng lao động có thể dẫn đến tăng trưởng sản lượng ròng nhưng tỷ lệ thất nghiệp ròng không giảm (hiện tượng “jobless growth”). 

Eosin Xanh Methylene – Du Học Trung Quốc 2024

Eosin methylene blue (EMB, còn được gọi là”Công thức của Levine“) là một chất nhuộm màu chọn lọc cho vi khuẩn gram âm.[1] EMB chứa thuốc nhuộm độc hại đối với vi khuẩn gram dương. EMB là môi trường chọn lọc và vi phân cho coliforms. Nó là sự pha trộn của hai chất nhuộm màu, eosin và xanh methylen theo tỷ lệ 6:1. Một ứng dụng phổ biến của chất nhuộm màu này là trong việc tạo ra môi trường thạch EMB, một môi trường vi sinh khác biệt, ức chế một chút sự phát triển của vi khuẩn gram dương và cung cấp một chỉ thị màu phân biệt giữa các sinh vật lên men lactose (ví dụ E. coli) không (ví dụ Salmonella, Shigella).[2] Các sinh vật lên men lactose sẽ thể hiện là một loại”khuẩn lạc có nhân”có màu đen với các phần trung tâm tối.[3]

E.coli trên môi trường thạch EMB

trên môi trường thạch EMB

Phương tiện này rất quan trọng trong các phòng thí nghiệm y tế bằng cách phân biệt các vi khuẩn gây bệnh trong một khoảng thời gian ngắn.[4]

Lên men nhanh chóng tạo ra axit, làm giảm độ pH. Điều này khuyến khích sự hấp thụ chất nhuộm của các khuẩn lạc, hiện có màu tím đen.

Lactose không lên men có thể làm tăng độ pH bằng cách khử protein. Điều này đảm bảo rằng chất nhuộm không được hấp thụ. Các khuẩn lạc sẽ không có màu.

Trên EMB, nếu E. coli được nuôi cấy, nó sẽ tạo ra ánh sáng màu xanh kim loại đặc biệt (do tính chất chuyển hóa của chất nhuộm, chuyển động của E. coli sử dụng Flagella và các sản phẩm cuối của axit mạnh lên men). Một số loài Citrobacter và Enterobacter cũng sẽ phản ứng theo cách này với EMB.[5] Phương tiện này đã được thiết kế đặc biệt để ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn gram dương.[6]

EMB chứa các thành phần sau: peptone, lactose, dipotali phosphate, eosin Y (chất nhuộm), xanh methylen (chất nhuộm) và agar.

Ngoài ra còn có agar EMB không chứa lactose.

Cập nhật thông tin chi tiết về William Henry Keeler – Du Học Trung Quốc 2024 trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!