Ý Nghĩa Chữ Phúc Trong Tiếng Hán Là Gì?

Mỗi dịp tết đến xuân về mọi người đều chúc phúc cho nhau, chúc nhau Phúc lộc đầy nhà và nhiều nhà treo chữ Phúc để mong muốn gia đình được gặp nhiều phúc lành. Vậy Chữ phúc có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống hàng ngày? Cùng Tiếng Trung Toàn Diện tìm hiểu nhé!

Phúc (hay còn gọi là Phước) là biểu trưng cho sự may mắn, sung sướng và hạnh phúc. Từ ngày xưa con người đã có nhiều hình tượng biểu thị chữ phúc mà ngày nay chúng ta thường thấy trong các tài liệu nghiên cứu, các áng văn chương, trong kiến trúc, trong các vật trang trí và ngay cả trên các y phục…

Chữ Phúc nghĩa là: Những sự tốt lành đều gọi là Phúc. Trong Kinh Thi chia ra 5 phúc: (1) Giàu 富 (2) Yên lành 安寧 (3) Thọ 壽 (4) Có đức tốt 攸好德 (5) Vui hết tuổi trời 考終命. [1] Cũng có nhiều sách nói: ngũ phúc: năm điều phúc đến nhà, là 富 phú, 貴 quý, 壽 thọ, 康 khang, 寧 ninh

Đây là một niềm ước mơ của người dân khi mùa xuân về. Nếu chiết tự chữ Phúc 福có thể thấy là toàn bộ ước mơ về một cuộc sống đủ đầy: Bên trái là bộ thị – ở đây có nghĩa là kêu cầu, mong muốn thể hiện ước mơ của con người). Bên phải gồm 3 bộ chữ: Bộ miên 宀 chỉ một mái nhà – (phải có nhà để ở, an cư rồi mới lạc nghiệp). Dưới là bộ khẩu nghĩa là miệng – (trong nhà phải có người, cả gia đình sum họp vui vẻ, tiếng nói cười rộn rã, không khí gia đình phải vui tươi đầm ấm). Dưới cùng là bộ điền 田 – (có nhà rồi phải có ruộng để cày cấy sinh sống. có ruộng, có đất đai là có tất cả. Như vậy chữ phúc 福 là một ước mơ bình dị về một cuộc sống yên bình, mong sao cho gia đình có người, có nhà, nề nếp hiếu thuận, ấm êm; có ruộng để làm ăn sinh sống. Đó là ước mơ ngàn đời của những con người lao động, không mơ sự giàu sang, phú quý, mà chỉ ước mơ một cuộc sống giản dị tốt đẹp, bền lâu mãi mãi. Cuộc sống như thế chính là phúc – chỉ một chữ mà gợi lên cảnh sống yên bình, lương thiện, hiền hòa.

Cũng như câu đối, dán chữ “Phúc” cũng là một tập tục rất lâu đời trong dân gian. “Phúc” là một trong những chữ lâu đời nhất của Trung Quốc,chữ “Phúc” ngày nay, do bộ “lễ” ( 礻) và 3 chữ “nhất” (一), “khẩu” (口), “điền” (田) biểu hiện sự cầu mong của con người, sao cho có ruộng có vườn và một đời sống no đủ.

Dán chữ “Phúc” là gửi gắm ước vọng, niềm mong mỏi của con người về cuộc sống hạnh phúc và tương lai tươi sáng. Nhằm thể hiện rõ hơn, đầy đủ hơn niềm hy vọng này, nhiều người còn dán ngược chữ “Phúc” để biểu thị ý nghĩa “Hạnh phúc đã đến”, “Vận may đã đến”.

Vì sao khi dán ngược? Tương truyền, vào thời nhà Thanh, có một năm khi chuẩn bị Tết, viên đại quản gia trong phủ Cung thân vương theo lệ, đã viết rất nhiều chữ “Phúc”, rồi sai người đi dán khắp nơi trong phủ. Chẳng may, có một người hầu không biết chữ đã dán ngược chữ “Phúc” lên chính giữa cánh cửa lớn của vương phủ, khiến người qua lại đều buột miệng: “福 倒 了” (Chữ Phúc dán ngược ). Nghe vậy, đám thân vương quý tộc và các mệnh phụ phu nhân thay vì giận dữ lại tỏ ra vô cùng hoan hỉ, coi đó là điềm lành, bèn cho gọi người hầu đến trọng thưởng!

Trong tiếng Hán, chữ “đảo” (倒) nghĩa là “ngược” với chữ “đáo” (到) có nghĩa là “đến”, “tới” lại có cùng âm đọc là “dào”, nên khi nghe ai đó nói “Phúc đảo liễu” thì người nghe hoàn toàn có thể hiểu là “Phúc đến rồi” (Phúc đáo liễu: 福 到了)

Ngày nay ở Trung Quốc, có một số gia đình vẫn thích dán ngược chữ “Phúc” trong dịp Tết với hi vọng hạnh phúc, vận may sẽ đến.

Tóm lại trong tiếng Hán, chữ Phúc mang đến nghĩa no đầy, hạnh phúc, may mắn. Chữ Phúc lộn ngược đầu được đọc là ” phúc đảo” đồng âm với từ ” phúc đáo” nghĩa là phúc đến. Dán ngược chữ Phúc như vậy mới mang đầy đủ ý nghĩa là phúc tới, đem dán trước cửa nhà thì trở thành “phúc đáo tiền môn – phúc đến trước cửa”.

Ý Nghĩa Chữ Phúc Trong Tiếng Hán

Phúc (hay còn gọi là Phước) là biểu trưng cho sự may mắn, sung sướng và hạnh phúc. Từ ngày xưa con người đã có nhiều hình tượng biểu thị chữ phúc mà ngày nay chúng ta thường thấy trong các tài liệu nghiên cứu, các áng văn chương, trong kiến trúc, trong các vật trang trí và ngay cả trên các y phục…

Chữ Phúc nghĩa là: Những sự tốt lành đều gọi là Phúc. Trong Kinh Thi chia ra 5 phúc: (1) Giàu 富 (2) Yên lành 安寧 (3) Thọ 壽 (4) Có đức tốt 攸好德 (5) Vui hết tuổi trời 考終命. [1] Cũng có nhiều sách nói: ngũ phúc: năm điều phúc đến nhà, là 富 phú, 貴 quý, 壽 thọ, 康 khang, 寧 ninh

Đây là một niềm ước mơ của người dân khi mùa xuân về. Nếu chiết tự chữ Phúc 福có thể thấy là toàn bộ ước mơ về một cuộc sống đủ đầy: Bên trái là bộ thị – ở đây có nghĩa là kêu cầu, mong muốn thể hiện ước mơ của con người). Bên phải gồm 3 bộ chữ: Bộ miên 宀 chỉ một mái nhà – (phải có nhà để ở, an cư rồi mới lạc nghiệp). Dưới là bộ khẩu nghĩa là miệng – (trong nhà phải có người, cả gia đình sum họp vui vẻ, tiếng nói cười rộn rã, không khí gia đình phải vui tươi đầm ấm). Dưới cùng là bộ điền 田 – (có nhà rồi phải có ruộng để cày cấy sinh sống. có ruộng, có đất đai là có tất cả. Như vậy chữ phúc 福 là một ước mơ bình dị về một cuộc sống yên bình, mong sao cho gia đình có người, có nhà, nề nếp hiếu thuận, ấm êm; có ruộng để làm ăn sinh sống. Đó là ước mơ ngàn đời của những con người lao động, không mơ sự giàu sang, phú quý, mà chỉ ước mơ một cuộc sống giản dị tốt đẹp, bền lâu mãi mãi. Cuộc sống như thế chính là phúc – chỉ một chữ mà gợi lên cảnh sống yên bình, lương thiện, hiền hòa.

Cũng như câu đối, dán chữ “Phúc” cũng là một tập tục rất lâu đời trong dân gian. “Phúc” là một trong những chữ lâu đời nhất của Trung Quốc,chữ “Phúc” ngày nay, do bộ “lễ” ( 礻) và 3 chữ “nhất” (一), “khẩu” (口), “điền” (田) biểu hiện sự cầu mong của con người, sao cho có ruộng có vườn và một đời sống no đủ.

Dán chữ “Phúc” là gửi gắm ước vọng, niềm mong mỏi của con người về cuộc sống hạnh phúc và tương lai tươi sáng. Nhằm thể hiện rõ hơn, đầy đủ hơn niềm hy vọng này, nhiều người còn dán ngược chữ “Phúc” để biểu thị ý nghĩa “Hạnh phúc đã đến”, “Vận may đã đến”.

Vì sao khi dán ngược? Tương truyền, vào thời nhà Thanh, có một năm khi chuẩn bị Tết, viên đại quản gia trong phủ Cung thân vương theo lệ, đã viết rất nhiều chữ “Phúc”, rồi sai người đi dán khắp nơi trong phủ. Chẳng may, có một người hầu không biết chữ đã dán ngược chữ “Phúc” lên chính giữa cánh cửa lớn của vương phủ, khiến người qua lại đều buột miệng: “福 倒 了” (Chữ Phúc dán ngược ). Nghe vậy, đám thân vương quý tộc và các mệnh phụ phu nhân thay vì giận dữ lại tỏ ra vô cùng hoan hỉ, coi đó là điềm lành, bèn cho gọi người hầu đến trọng thưởng!

Trong tiếng Hán, chữ “đảo” (倒) nghĩa là “ngược” với chữ “đáo” (到) có nghĩa là “đến”, “tới” lại có cùng âm đọc là “dào”, nên khi nghe ai đó nói “Phúc đảo liễu” thì người nghe hoàn toàn có thể hiểu là “Phúc đến rồi” (Phúc đáo liễu: 福 到了)

Ngày nay ở Trung Quốc, có một số gia đình vẫn thích dán ngược chữ “Phúc” trong dịp Tết với hi vọng hạnh phúc, vận may sẽ đến.

Tóm lại trong tiếng Hán, chữ Phúc mang đến nghĩa no đầy, hạnh phúc, may mắn. Chữ Phúc lộn ngược đầu được đọc là ” phúc đảo” đồng âm với từ ” phúc đáo” nghĩa là phúc đến. Dán ngược chữ Phúc như vậy mới mang đầy đủ ý nghĩa là phúc tới, đem dán trước cửa nhà thì trở thành “phúc đáo tiền môn – phúc đến trước cửa”.

Chữ Phúc Trong Tiếng Hán: Ý Nghĩa, Cách Viết

Tìm hiểu về ý nghĩa chữ phúc trong tiếng Hán. Học cách viết chữ phúc tiếng Hán đẹp nhất. Trả lời câu hỏi tại sao người ta treo chữ phúc ngược trong nhà. 1. Các ý nghĩa của chữ phúc trong tiếng Trung

Chữ Phúc tiêu biểu cho may mắn sung sướng, thường dùng trong từ ngữ hạnh phúc. Người Á Đông, từ lâu đã có nhiều hình tượng biểu thị chữ phúc, mà ngày nay người ta còn thấy trong nhiều vật trang trí, trong kiến trúc, và cả trên y phục.

Chữ Phúc trong viết thư phápChữ phúc trong nội thất nhà ở

Chữ phúc gồm bộ thị đi liền ký tự phúc. Bộ thị vốn là hình vẽ cái bàn thờ. Ký tự phúc – mà người đời sau chiết thành nhất khẩu điền – vốn là hình vẽ một vò rượu. Nghĩa là sao? Cầu cho trong nhà được bình rượu luôn đầy. Thế là đầy đủ, dồi dào và hoàn bị. Ý nghĩa của chữ phúc thoạt kỳ thủy tương tự chữ phú 富, ngày nay được hiểu là giàu.

Chữ phúc lần hồi được hiểu là “điều tốt lành” hoặc “việc may mắn” . Do đó, nhiều kết hợp từ có yếu tố phúc nhằm chỉ sự vui vẻ, no ấm, an lành: phúc đức, phúc ấm, phúc tinh, phúc hạnh, hạnh phúc, hồng phúc, diễm phúc, v.v.

Lưu ý rằng trong từ Hán – Việt còn mấy chữ phúc đồng âm dị nghĩa:

Phúc 輹 có nghĩa thanh gỗ ngang dưới xe dùng nắt liền trục xe với thân bánh xe;

Phúc 輻 / 辐 có nghĩa nan hoa bánh xe;

Phúc 蝮 có nghĩa rắn độc (như phúc xà là rắn hổ mang);

Phúc 腹 có nghĩa là bụng (như tâm phúc, phúc mạc, v.v.);

Phúc 覆 /复 có nghĩa lật lại, xem xét lại kỹ càng (như phúc khảo, phúc hạch, v.v..);

Phúc 蝮 có nghĩa là chiều ngang, khổ, viền mép vải, bức (như nhất phúc hoạ là một bức tranh); phúc có nghĩa là con dơi.

Chữ phúc chỉ con dơi được viết khác: không phải bộ thị mà là bộ trùng (tức côn trùng, rắn rết, v.v.) đi kèm. Gọi cho đầy đủ theo tiếng Hán, con dơi là biên phúc 蝙蝠.

Tuy nhiên : cả hai chữ phúc đều được phát âm là phú. Do đó, họ lấy hình ảnh con dơi tượng trưng cho điều tốt lành, may mắn.

2. Tại sao ngày Tết người ta treo chữ phúc lộn ngược

Chữ phúc treo ngược

Nhiều người khi đến nhà ai đó chơi nhìn thấy chữ phúc treo lộn người thì chê gia chủ không biết tiếng mà còn đòi chơi chữ. Nhưng thực chất đó mới là người chưa hiểu được ý nghĩa sâu xa của việc treo đó.

Thực chất, đây là một phong tục độc đáo và có nhiều cách giải thích khác nhau, ví như điển tích “thợ mộc Thái Sơn” chẳng hạn. Trên phương diện ngôn ngữ, đây lại là lối “chơi chữ” đặc sắc dựa theo tính chất đồng âm.

Chữ phúc tiếng Hán lộn ngược gọi là gì ? Phúc đảo. Tiếng Bắc Kinh đọc là phú dào, y hệt như… phúc đáo, nghĩa là “điều tốt, vận may đến”. Đầu năm đầu tháng (hoặc làm lễ khai trương cửa hiệu, ăn mừng tân gia, v.v.), hỏi ai chẳng mong “bồng ông Phúc vào nhà” như vế đối Nguyễn Công Trứ từng nêu ?

3. Chữ phúc biến hoá thành phước

Phúc và phước là từ đồng nghĩa dị âm. Chính âm là phúc. Biến âm thành phước. Vấn đề đặt ra: sự biến âm ấy diễn ra từ bao giờ? Vì sao? Đâu là giới hạn?

Mọi người đều biết rằng hiện tượng “viết chệch, đọc lệch” từng xuất hiện trong lịch sử do kiêng húy. Chữ phúc bị kiêng, thoạt tiên từ thời Tây Sơn. Thoái thực ký văn của Trương Quốc Dụng (1797 – 1864) có đoạn: “Xã tôi xưa gọi là Long Phúc, vì Nguyễn Huệ có tên giả là Phúc, nên đổi gọi là Long Phú”.

Vậy là Phúc biến thành Phú, tức thay hẳn cả chữ lẫn nghĩa. Còn Phúc biến thành Phước thì giữ nguyên chữ nghĩa, chỉ đổi âm, thực sự phổ biến kể từ năm Quý Mùi 1883 – thời điểm công tử Ưng Đăng lên ngôi vua, chọn niên hiệu Kiến Phúc.

Dù đây không phải là trọng húy được triều đình chuẩn định ban bố, song từ hoàng thân quốc thích đến quan quân lẫn thứ dân thảy đều gọi kiêng. Dòng họ Nguyễn Phúc được đọc trại ra Nguyễn Phước. Theo đó, Phúc – Lộc – Thọ biến thành Phước – Lộc – Thọ; may phúc thành may phước; phúc đức thành phước đức; diễm phúc thành diễm phước, v.v.

Tuy nhiên, do không phải trọng húy mà chỉ là khinh huý, nên sự biến âm đã diễn ra chẳng triệt để. Vì thế cần lưu ý rằng trong Việt ngữ, chẳng phải bất kỳ trường hợp nào phước đều có thể thay thế hoàn toàn cho phúc. Ví dụ: hạnh phúc, phúc đáp, phúc âm, v.v.

Tương tự trường hợp hoa đổi thành bông (do kiêng húy danh Tá Thiên Nhơn hoàng hậu Hồ Thị Hoa), nhiều khi phúc biến ra phước lại mang màu sắc có vẻ “thuần Việt” hơn. So sánh ân phúc với ơn phước ắt rõ điều này.

ĐĂNG KÝ HỌC TẠI ĐÂY

Thủ đô của Việt Nam là gì (viết liền in hoa không dấu) ?

Hán Việt Trong Tiếng Tiếng Anh

Từ điển Hán–Việt — Hán ngữ cổ đại và hiện đại.

Of Choristers – ancient and modern.

WikiMatrix

“Bác sĩ” là từ Hán Việt.

Hồ is a Vietnamese surname.

WikiMatrix

Ví dụ, “mười triệu” kết hợp chữ thuần Việt “mười” và chữ Hán Việt “triệu”.

For instance, “mười triệu” combines native “mười” and Sino-Vietnamese “triệu”.

WikiMatrix

Phiên âm Hán Việt Phiên thiết Hán Việt ^ “Pinyin celebrates 50th birthday”.

“Pinyin celebrates 50th birthday”.

WikiMatrix

Cái tên Tết Nguyên Đán là từ tiếng Hán–Việt , nghĩa là Buổi lễ sáng mồng một .

The name Tết Nguyên Đán is Sino–Vietnamese for Feast of the First Morning

EVBNews

Năm 1606, ông được người Mông Cổ tôn xưng danh hiệu Kundulun Khan (âm Hán Việt: Côn Đô Luân Hãn).

In 1606, he was granted the title of Kundulun Khan by the Mongols.

WikiMatrix

Từ “thủ phủ” trong tiếng Anh là “capital” có nguồn gốc từ tiếng Latin có nghĩa là “đầu” (head) hay “thủ” (Hán Việt).

The word chef or “chief” in English comes from the Latin word caput meaning “head”.

WikiMatrix

Home City là Edo (Hán–Việt: Giang Hộ, Tên cũ của Tokyo trước cuộc Minh Trị Duy Tân) và nhà lãnh đạo là Tokugawa Ieyasu.

Their Home City is Edo and their leader is Tokugawa Ieyasu.

WikiMatrix

Tinh vân (từ Hán Việt nghĩa là mây sao; tiếng Latinh: nebulae có nghĩa là “đám mây”) là hỗn hợp của bụi, khí hydro, khí helium và plasma.

A nebula (Latin for “cloud” or “fog”; pl. nebulae, nebulæ, or nebulas) is an interstellar cloud of dust, hydrogen, helium and other ionized gases.

WikiMatrix

Các số đếm từ 1 đến 1000 có thể được thể hiện bằng tiếng Việt, và chỉ một vài con số (như 1.000.000) là được thể hiện dựa trên từ Hán Việt.

Numbers from 1 to 1000 are expressed using native Vietnamese vocabulary, and only a few numbers (such as 1,000,000, triệu) are based on Sino–Vietnamese vocabulary.

WikiMatrix

Các nguyên tắc đó là: Độc lập về chính trị (chaju, Hán Việt: tự chủ); Tự chủ về kinh tế (charip: tự lập); Tự vệ về quốc phòng (chawi: tự vệ).

The principles are “independence in politics” (chaju), “self-sustenance in the economy” (charip) and “self-defense in national defense” (chawi).

WikiMatrix

Mặt Trời lặn (Hán–Việt: nhật lạc) là sự biến mất hàng ngày của Mặt Trời phía dưới đường chân trời do kết quả của sự tự quay của Trái Đất.

Sunset or sundown is the daily disappearance of the Sun below the horizon due to Earth’s rotation.

WikiMatrix

Euljiro (Hán Việt: Ất Chi lộ) là một đại lộ ở Seoul được đặt tên theo Eulji Mundeok, một vị tướng đã cứu Triều Tiên từ sự xâm lược của Nhà Tùy.

Euljiro is an avenue in Seoul named after Eulji Mundeok, the general who saved Korea from the invading Sui Dynasty Chinese.

WikiMatrix

Từ thời gian đó Tây Tạng bắt đầu xâm lấn vào các xứ thuộc nhà Đường, tiến tới thủ đô Chang’an (Xian hiện nay, Hán Việt: Trường An) của Trung Quốc năm 763/764.

From that time onward the Tibetans pressed into the territory of the Tang emperors, reaching the Chinese capital Chang’an (modern Xian) in late 763.

WikiMatrix

Gō (mang nghĩa Hán Việt là “cương”), muốn nói đến những kỹ thuật bàn tay nắm hoặc những đòn tấn công tuyến tính; jū, (Hán Việt là “nhu”), là những kỹ thuật bàn tay mở hoặc những chuyển động vòng cung.

Gō, which means hard, refers to closed hand techniques or straight linear attacks; jū, which means soft, refers to open hand techniques and circular movements.

WikiMatrix

Nhiều địa danh tại Việt Nam kết hợp từ Long (Hán – Việt: Rồng), hoặc Rồng: Vịnh Hạ Long, phần sông Mekong chảy qua Việt Nam gồm 9 chi lưu và được gọi là Cửu Long (nghĩa là chín con rồng), cầu Hàm Rồng, cầu Long Biên.

Many place-names in Vietnam incorporate the word Long, or Rồng (also meaning dragon): Hạ Long Bay (vịnh Hạ Long), the section of the Mekong river flowing through Vietnam contains 9 branches and is called Cửu Long (meaning nine dragons); Hàm Rồng Bridge, Long Biên Bridge.

WikiMatrix

Nhật Bản đã phát động Chiến dịch Ichi-Go, một kế hoạch nhằm kiểm soát tuyến đường sắt từ Vũ Xương đến Quảng Châu (Việt Hán tuyến).

Japan launched Operation Ichigo, a plan to control the railroad from Wuchang to Guangzhou (Yuehan Railway).

WikiMatrix

Ông đồng thời cũng là nhà văn, nhà thơ và nhà báo với nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Việt, tiếng Hán và tiếng Pháp.

He is a Poet, writer and story-writer in both Arabic and French.

WikiMatrix

Trong lịch sử, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam đều sử dụng chữ Hán.

Historically, Japan, Korea, and Vietnam have used Chinese characters.

WikiMatrix

Có ba trận Bạch Đằng trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam: Trận Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền chống quân Nam Hán.

There have been three Battles of Bạch Đằng recorded in the history of Vietnam: Battle of Bạch Đằng (938) between the Vietnamese commanded by Ngô Quyền and troops of the Southern Han.

WikiMatrix

Jerry Norman xác định bốn lớp từ vựng chính trong các dạng tiếng Mân hiện đại: Một lớp từ phi Hán từ các ngôn ngữ gốc của Mân Việt, mà Norman và Mei Tsu-lin tin là mang gốc Nam Á.

Jerry Norman identifies four main layers in the vocabulary of modern Min varieties: A non-Chinese substratum from the original languages of Minyue, which Norman and Mei Tsu-lin believe were Austroasiatic.

WikiMatrix

Hội nghị cũng nghe trình bày các phát hiện chính của báo cáo, Hướng tới Quản lý rủi ro tổng hợp và Thích ứng với Hạn hán và Xâm nhập mặn ở Việt Nam, trong đó báo cáo đã có những phản ánh đặc biệt về đợt hạn hán kéo dài trong năm 2024 và 2024 để mô tả sự sự cần thiết phải có một phương cách quản lý rủi ro thiên tai tổng hợp.

The conference also presented the key findings of Toward Integrated Risk Management and Resilience for Drought and Saltwater Intrusion in Vietnam, a report that highlights the prolonged drought of 2024 and 2024 to illustrate the need for integrated disaster risk management.

worldbank.org

Hạn hán năm 2024 làm ảnh hưởng tới 18 tỉnh, và sinh kế của 2 triệu người Việt, với thiệt hại cho quốc gia lên tới 15 tỉ đồng.

The 2024 drought affected 18 provinces, damaged the livelihoods of 2 million Vietnamese, and cost the nation VND 15 billion.

worldbank.org

Với bờ biển dài 3.260 km Việt Nam thường xuyên phải hứng chịu các cơn bão, lũ lụt, hạn hán, sạt lở bờ biển và sạt lở đất.

The country 3,260-km coastline is regularly exposed to typhoons, floods, drought, coastal erosion and landslides.

worldbank.org

Tại Việt Nam, các cơn bão ngày càng có cường độ mạnh hơn, các trận lụt và hạn hán ngày càng thường xuyên hơn.

Across Vietnam, stronger storms and increased floods and droughts are having an impact.

worldbank.org

Chữ Phúc Trong Tiếng Hán

 

Là một trong 3 khát cầu lớn nhất của đời người, chữ Phúc đóng một vai trò quan trọng trong văn hóa, tín ngưỡng cũng như cuộc sống của người dân nước ta từ xa xưa. Hiện nay, các mẫu chữ Phúc được sử dụng để treo trong nhà hầu hết được viết theo chữ cải cách với vần abc, tuy nhiên, nếu muốn nói đễn ý nghĩa sâu xa của chữ này thì ta cần đề cập đến

chữ Phúc trong tiếng Hán

. Theo đó ý nghĩa chữ Phúc trong tiếng hán xưa được cho thấy ngay cả trong cấu tạo, cách viết. Chữ Phúc ngày nay kế thừa hầu hết các ý nghĩa này, tuy nhiên về mặt cấu tạo, cách viết thì không còn mang hàm ý giải nghĩa như trước.

Ý nghĩa chữ Phúc trong tiếng Hán

chữ Phúc trong tiếng Hán

được giải thích rất cụ thể qua cấu tạo của chữ này. Cụ thể, chữ Phúc trong tiếng Hán được viết như sau:   

Ý nghĩa củađược giải thích rất cụ thể qua cấu tạo của chữ này. Cụ thể, chữ Phúc trong tiếng Hán được viết như sau:

福 

Theo phương pháp chiết tự, ta có thể thấy chữ Phúc trong tiếng Hán được cấu tạo bởi 4 bộ phận như sau:

Bộ phận thứ nhất là bộ thủ bên trái của chữ Phúc. Bộ thủ bên trái này là bộ thị 

Nghĩa đen của bộ này là sự cầu thị. Việc sử dụng bộ thị trong chữ này thể hiện sự cầu mong, khát khao của con người về một thứ gì đó.

Ba bộ phận tiếp theo là tổ hợp 3 bộ thủ nằm bên phải của bộ thị. Ba bộ thủ này gồm có bộ miên

 trên cùng, bộ khẩu 

 ở giữa và bộ điền 

 ở dưới cùng. Theo đó:

Bộ miên 

 ý chỉ mái nhà, là nơi che chở cho một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, là nơi đánh dấu sự trưởng thành của một con người, là dấu mốc cuối cùng trong 3 dấu mốc “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà” mà ông bà ta ngày xưa đã dạy. Trong chữ Phúc, bộ miên có nghĩa là cuộc sống có Phúc phải là cuộc sống có nhà để ở, có nơi để về, để an cư lạc nghiệp

Nằm ở giữa, dưới bộ miên là bộ khẩu 

, bộ khẩu đại diện cho nhân khẩu, ý chỉ người, hay cụ thể hơn là con cháu. Vì thế, bộ khẩu trong chữ Phúc có ý nghĩa con cháu đầy đàn, gia đình vui vẻ, đầm ấm, quây quần, hạnh phúc bên nhau.

Cuối cùng là bộ điền 

 , bộ điền ý chỉ đất đai, ruộng vườn. Một cuộc sống hạnh phúc không chỉ cần có nhà, có con cháu đầy đàn mà còn cần có của cải vật chất. Đất đai ruộng vườn xưa là cái cốt lõi phát triển của một con người, là của cải để cuộc sống ngày một sung túc, ấm no, là tiền đề cho một cuộc sống hạnh phúc, an cư lạc nghiệp

Cách đọc và viết chữ Phúc trong tiếng Hán

Mang trong mình nhiều ý nghĩa quan trọng, điểm đặc biệt của chữ Phúc còn thể hiện qua cả cách phát âm và cách viết.

Cách đọc chữ Phúc trong tiếng Hán

Cách viết chữ Phúc trong tiếng Hán

Chữ Phúc trong tiếng Hán được cấu tạo bởi 13 nét, được viết theo thứ tự từ trên xuống dưới, từ trái sang phải. Cụ thể là bộ thị sẽ được viết trước, sau đó lần lượt đến bộ miên, bộ khẩu và cuối cùng là bộ điền. Cách viết này cũng thể hiện thứ tự truy cầu của người xưa với chữ Phúc, từ có nhà, có gia đình vui vẻ đến có của cải, ấm no. Như vậy ta có thể thấy, dù chỉ là một chữ trong hàng ngàn chữ tiếng Hán xưa nhưng chữ Phúc lại mang trong mình mong ước, sự truy cầu mà con người cần phải dùng cả đời để có thể phấn đấu đạt được.

Tập tục treo chữ Phúc lộn ngược

Ngày nay, dù tranh chữ Phúc được viết theo lối viết hiện đại ngày càng được phổ biến, tuy nhiên, rất nhiều gia đình cũng rât thích treo chữ Phúc xưa, và nếu bạn chú ý kỹ, bạn có thể thấy được rằng, đa phần những chữ phúc này đều được treo ngược. Tại sao lại như vậy? Trên thực tế, đây là một cách chơi chữ của người Trung Quốc, cụ thể, việc treo ngược chữ Phúc có nghĩa là Chữ Phúc bị ngược rồi. Trong tiếng Hán, chữ Phúc bị ngược rồi được phát âm là “fú dào le” trong đó “dào” cung là phát âm của đến. Vì thế Phúc ngược rồi đọc sẽ giống như Phúc đến rồi. Đây chính là lý do người ta khi dán chữ Phúc tiếng Hán sẽ dán ngược.