Câu 2: Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin? Ý Nghĩa Phương Pháp Luận?

Lênin đã định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin: Toàn tập, t.18, Nxb. Tiến bộ, M., 1980, tr.151).

1. Định nghĩa vật chất của Lênin

+ “Vật chất là một phạm trù triết học”. Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày.

+ Thuộc tính cơ bản của vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Đó cũng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất.

+ “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Điều đó khẳng định “thực tại khách quan” (vật chất) là cái có trước (tính thứ nhất), còn “cảm giác” (ý thức) là cái có sau (Tính thức hai). Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức.

+ “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”. Điều đó nói lên “thực tại khách quan” (vật chất) được biểu hiện thông qua các dạn cụ thể, bằng “cảm giác” (ý thức) con người có thể nhận thức được và “thực tại khách quan” (vật chất) chính là nguồn gốc, nội dung khách quan của “cảm giác” (ý thức).

Định nghĩa của Lênin về chật chất đã giải quyết được cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học theo lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng.

2. Định nghĩa vật chất của Lênin có ý nghĩa

1. Chống lại tất cả các loại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về phạm trù vật chất như: (Đối chiếu với các quan điểm duy tâm đã học ).

2. Đấu tranh khắc phục triệt để tính chất trực quan, siêu hình, máy móc và những biến tướng của nó trong quan niệm về chất chất của các nhà triết học tư sản hiện đại. Do đó, định nghĩa này cũng đã giải quyết được sự khủng hoảng trong quan điểm về vật chất của các nhà triết học và khoa học theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình

3. Khẳng định thế giới vật chất khách quan là vô cùng, vô tận, luôn vận động và phát triển không ngừng, nên đã có tác động cổ vũ, động viên các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất, tìm ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới và những quy luật vận động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại.

3. Ý nghĩa phương pháp luận.

– Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người; vì vậy con người phải tôn trọng tính khách quan, đồng thời phát huy tính năng động, chủ quan của mình. Nếu không tôn trọng tính khách quan sẽ dễ dẫn đến bệnh chủ quan.

– Ý có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công khi phản ánh đúng đắn, sâu sắc thế giới khách quan. Ngược lại, ý thức, tư tưởng có thể làm cho con người hoạt động sai và thất bại khi con người phản ánh sai thế giới khách quan. Nếu quá coi trọng tính khách quan sẽ dễ dẫn đến bệnh bi quan.

– Đảng ta đã chỉ rõ: Mọi đường lối chủ chương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan

* Đối với hoạt động thực tiễn của bản thân: – Phát huy năng động, sáng tạo của ý thức trong quá trình học tập và công tác – Chống bệnh chủ quan duy ý chí, có thái độ tích cực trong học tập và công tác.

Luật Hess Là Gì? »Định Nghĩa Và Ý Nghĩa Của Nó 2024

Định luật Hess trong nhiệt động lực học được sử dụng để kiểm tra gián tiếp nhiệt của phản ứng , và theo tiền thân của định luật này, nhà hóa học người Thụy Sĩ Germain Henri Hess vào năm 1840 cho rằng, nếu một quá trình của các chất phản ứng tạo ra một quá trình sản phẩm thì nhiệt của phản ứng giải phóng hoặc hấp thụ không phụ thuộc vào việc phản ứng được thực hiện trong một hay nhiều giai đoạn. Có nghĩa là, nhiệt của phản ứng chỉ cần các chất phản ứng và sản phẩm, hoặc nhiệt của phản ứng là một hàm của trạng thái.

Nguyên tắc này là một hệ thống khép kín đoạn nhiệt, tức là không có sự trao đổi nhiệt với các hệ thống khác hoặc môi trường của nó như thể nó bị cô lập, hệ thống này phát triển từ pha ban đầu sang pha cuối cùng khác. Ví dụ:

Nhiệt hình thành ðH1 của cacbon monoxit, CO:

C + 1/2 O2 = CO AH1

Nó không thể được thiết lập trực tiếp trong môi trường mà nó được tạo ra , một phần CO được chuyển thành CO2, nhưng nếu nó có thể được đo trực tiếp bằng nhiệt lượng kế , thì độ nóng của phản ứng của các quá trình sau:

CO + 1/2 O2 = CO2 AH2 = 282´6 kJ / mol C + O2 = CO2 AH3 = -392´9 kJ / mol

Nhiệt của phản ứng là tổng đại số của nhiệt của các phản ứng này.

Các nhiệt độ phản ứng của một quá trình hóa học thành lập là liên tục giống nhau, bất cứ điều gì trong quá trình thực hiện bởi các phản ứng hoặc các giai đoạn trung gian của nó.

Entanpi là một độ lớn của nhiệt động lực học được biểu diễn bằng chữ cái viết hoa H và mô tả lượng năng lượng mà một hệ trao đổi với môi trường của nó. Trong định luật Hess, nó giải thích rằng sự thay đổi entanpi là phụ gia, ΔHneta = ΣΔHr và chứa ba định mức:

Original text

Nếu phương trình hóa học được đảo ngược, ký hiệu của ΔH cũng bị đảo ngược.

Nếu nhân hệ số, nhân ΔH với cùng hệ số.

Nếu hệ số bị chia hết thì chia ΔH cho cùng một số chia.

Ví dụ: Entanpi của phản ứng được tính cho phản ứng:

2 C (s) + H2 (g) → C2H2 (g )

Các dữ liệu như sau:

Các phương trình tương ứng với các entanpi đã cho được đề xuất :

Các chất phản ứng và sản phẩm của phản ứng hóa học được tìm kiếm nằm trong đó:

Bây giờ các phương trình phải được điều chỉnh:

Phương trình (1) phải được đảo ngược (giá trị của entanpi cũng bị đảo ngược).

Phương trình (2) phải được nhân với 2 (toàn bộ phương trình được nhân lên, cả chất phản ứng và sản phẩm và giá trị của entanpi, vì nó là một tính chất mở rộng .

phương trình (3) được giữ nguyên.

Các tổng của các trang bị phương trình nên cung cấp cho các phương trình vấn đề.

Chất phản ứng và sản phẩm được thêm vào hoặc hủy bỏ.

Enthalpies thêm đại số.

Nội Dung, Ý Nghĩa Phương Pháp Luật Của Định Nghĩa Vật Chất

42096

Tổng kết từ những thành tựu tự nhiên của khoa học, phê phán những quan niệm duy tâm, siêu hình về phạm trù vật chất, Lênin đã đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về phạm trù vật chất như sau:

Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.

Theo định nghĩa của Lênin về vật chất:

– Cần phân biệt “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học với những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất. Vật chất với tư cách là phạm trù triết học là kết quả của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn tất cả những sự vật, những hiện tượng là những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất nên nó có quá trình phát sinh, phát triển, chuyển hóa. Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất với một hay một số dạng biểu hiện cụ thể của vật chất.

– Đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan tức là thuộc tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người, cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó.

– Vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh.

Định nghĩa của Lênin về vật chất có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học:

– Bằng việc tìm ra thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan, Lênin đã phân biệt sự khác nhau giữa vật chất và vật thể, khắc phục được hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp căn cứ nhận thức khoa học để xác định những gì thuộc về vật chất; tạo lập cơ sở lý luận cho việc xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, khắc phục được những hạn chế duy tâm trong quan niệm về lịch sử của chủ nghĩa duy vật trước Mác.

– Khi khẳng định vật chất là thực tại khách quan “được đem lại cho con người trong cảm giác” và “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lai, phản ánh”, Lênin không những đã khẳng định tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức theo quan điểm duy vật mà còn khẳng định khả năng con người có thể nhận thức được thực tại khách quan thông qua sự “chép lại, chụp lại, phản ánh” của con người đối với thực tại khách quan.

Theo định nghĩa vật chất của Lê-nin, thì trước tiên cần phải phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học với “vật chất là toàn bộ thực tại khách quan”. Nó khái quát những thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng tồn tại của vật chất với khái niệm vật chất được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành, hay nói cách khác là khác dùng để chỉ những dạng vật chất cụ thể như: nước lửa không khí, nguyên tử, thịt bò…

Thứ hai thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất chính là thuộc tính tồn tại khách quan, nghĩa là sự tồn tại vận động và phát triển của nó không lệ thuộc vào tâm tư, nguyện vọng, ý chí và nhận thức của con người.

Thứ ba vật chất ( dưới những hình thức tồn tại cụ thể của nó) là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức; những cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến các giác quan của con người.

Thứ tư trong định nghĩa này, Lê-nin đã giải quyết triệt để vấn đề cơ bản của triết học . Cụ thể là vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau thể hiện ở câu” được đem lại cho con người trong cảm giác“; con người có khả năng nhận thức được thế giới thông qua câu ” đ ược cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh “, Lê-nin khẳng định bằng nhiều cách thức khác nhau, bằng nhiều trình độ khác nhau con người tiến hành nhận thức thế giới.

Định nghĩa này đã bao quát cả 2 mặt của vấn đề cơ bản của TH, thể hiện rõ lập trường DV biện chứng. Lenin đã giải đáp toàn bộ vấn đề cơ bản của triết học đứng trên lập trường của Chủ nghĩa duy vật biện chứng.

– Coi vật chất là có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức, ý thức con người là sự phản ánh của thực tại khách quan đó. Con người có khả năng nhận thức thế giới.

– Định nghĩa này bác bỏ quan điểm duy tâm về phạm trù vật chất. (Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức).

– Định nghĩa này khắc phục tính chất siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của CNDV trước Mac (quan niệm vật chất về các vật thể cụ thể, về nguyên tử, không thấy vật chất trong đời sống xã hội là tồn tại).

– Định nghĩa vật chất của Lê Nin bác bỏ quan điểm của CNDV tầm thường về vật chất (coi ý thức cũng là 1 dạng vật chất)

– Định nghĩa này bác bỏ thuyết không thể biết.

– Định nghĩa này đã liên kết CNDV biện chứng với CNDV lịch sử thành một thể thống nhất. (vật chất trong TN, vật chất trong xã hội đều là những dạng cụ thể của vật chất mà thôi, đều là thực tại khách quan).

– Mở đường cổ vũ cho KH đi sâu khám phá ra những kết cấu phức tạp hơn của thế giới vật chất (Định nghĩa này không quy vật chất về vật thể cụ thể, vì thế sẽ tạo ra kẻ hở cho CNDT tấn công, cũng không thể quy vật chất vào 1 khái niệm nào rộng hơn để định nghĩa nó, vì không có khái niệm nào rộng hơn khái niệm vật chất. Vì thế chỉ định nghĩa nó bằng cách đối lập nó với ý thức để định nghĩa vạch rõ tính thứ nhất và tính thứ 2, cái có trước và cái có sau).

Định nghĩa vật chất của Lê-nin có hai ý nghĩa quan trọng sau đây.

Thứ nhất bằng việc chỉ ra thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất là thuộc tính tồn tại khách quan, đã giúp chúng ta phân biệt được sự khác nhau căn bản giữa phạm trù vật chất với tư cách là phạm trù triết học, khoa học chuyên ngành, từ đó khắc phục được hạn chế trong các quan niệm của các nhà triết học trước đó, cung cấp căn cứ khoa học để xác định những gì thuộc và không thuộc về vật chất.

Thứ hai khi khẳng định vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh, Lê-nin đã giải quyết triệt để vấn đề cơ bản của triết học đó là vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ý thức. Đó là con người có thể nhận thức được thế giới khách quan thông qua sự chép lại, chụp lại, phản ánh của con người đối với thực tại khách quan. Định nghĩa vật chất của Lê-nin đã tạo cơ sở nền tảng, tiền đề để xây dựng quan niệm duy vật về xã hội,về lịch sử

Mặc dù định nghĩa vật chất của Lê-nin đã ra đời gần hai thế kỷ nhưng nó vẫn giữ nguyên giá trị thực tiễn và khoa học.

Nghị Luận Ý Nghĩa Của Tính Tự Lập?

Ý nghĩa của tính  tự lập

Mở bài:

Không có sức mạnh nào lớn lao bằng niềm tin vào bản thân. Cũng không có sức mạnh nào mạnh hơn tính tự lập. Chính mỗi chúng ta mới là người quyết định vận mệnh của bản thân mình một cách sáng suốt và đáng tin cậy nhất. Bởi thế, tính tự lập là phẩm chất cần có ở mỗi con người.

Thân bài:

Tự lập là gì?

Tự lập là tự làm lấy, tự giải quyết công việc của mình, tự lo liệu, tạo dựng cho cuộc sống của mình: Không trông chờ, ỷ lại hay dựa dẫm, phụ thuộc vào người khác.

Điều đó có nghĩa là mỗi con người hãy biết dựa vào sức mạnh của bản thân mình làm tốt công việc, xây dựng cuộc sống của mình chứ không nên trong chờ hay phó thác công việc và cuộc đời mình cho người khác. Muốn thành công cần phải rèn luyện tính tự lập.

Biểu hiện của người có tính tự lập trong cuộc sống:

Người có tính tự lập luôn tự tin trong công việc và trong đời sống. Trong công việc, họ luôn chủ động làm việc, không đợi nhắc nhở hay sai bảo. Ít khi họ bị khiển trách. Họ tiến hành công việc một cách tích cực, năng động và tin tưởng ở thành công. Trong đời sống, họ luôn biết giúp đỡ người khác, sống chan hòa và trọng tình trọng nghĩa.

Người biết tự lập luôn là người giàu bản lĩnh. Họ không ngại khó, ngại khổ nhận lấy nhiệm vụ khó khăn. Ít khi họ từ chối hay né tránh công việc. Khi gặp khó khăn, họ bình tĩnh suy nghĩ và tìm cách khắc phục, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Ở người có tính tự lập, ta dễ dàng nhận thấy họ rất quyết liệt trong công việc, sẵn sàng đối đầu và vượt qua gian nan, thử thách. Bởi thế, người tự lập luôn được người khác tin tưởng, yêu mến.

Người có tính tự lập luôn là người có ý chí nỗ lực phấn đấu, kiên trì bền bỉ. Họ là người luôn cầu tiến, suy nghĩ tích cực, hướng đến tương lai. Sự kiên định của họ luôn làm người khác kính phục. Người có tính tự lập luôn tạo nguồn cảm hứng làm việc cho người khác.

Tại sao con người cần phải rèn luyện tính tự lập?

Nếu muốn thành công trong cuộc sống hay làm nên những điều lớn lao, có ích cho đời thì mỗi con người phải không ngừng nỗ lực rèn luyện và bồi dưỡng cho mình những phẩm chất tốt đẹp. Tự lập là một trong những phẩm chất hàng đầu mà con người cần phải có. Chỉ có những phẩm chất cao quý mới có thể giúp con người thành công và khẳng định mình trong cuộc sống này. Mọi hành động xấu xa, gây hại sớm muộn gì cũng bị xã hội lên án, trừng trị và loại bỏ.

Người có tính tự lập sẽ thành công hơn trong cuộc sống. Không phải vì may mắn mà vì sự chuẩn bị kĩ lưỡng các năng lực cộng với những may mắn sẽ giúp họ thành công nhanh hơn, bền vững hơn. Trong công việc, họ không trong chờ vào các nguồn sức mạnh khác, cũng không trong chờ vào sự may rủi, họ biết bắt đầu công việc ngay từ đầu dựa vào sức mình và kiên trì đi đến thành công.

Không có sức mạnh nào luôn sẵn sàng và dồi dào hơn sức mạnh có ở bản thân. Có tính tự lập giúp con người luôn chủ động trong công việc và trong đời sống. Trước khó khăn, trở ngại, nhờ có tính tự lập giúp ta bình tĩnh, sáng suốt và có những hành động đúng đắn, thiết thực và hiệu quả.

Từ tính tự lập tiến đến tự chủ năng lực và tự chủ bản thân. Tính tự lập giúp ta làm chủ các năng lực, biết sử dụng năng lực một cách hiệu quả vào những công việc hữu ích, tiến đến làm chủ bản thân, làm chủ sự nghiệp. Thực tế cho thấy, ai có tính tự lập vững vàng luôn thành công trong cuộc sống. Quan trọng hơn hết, tính tự lập giúp ta được mọi người tin tưởng và kính trọng.

Học sinh cần rèn luyện tính tự lập như thế nào?

Đức tính tự lập không phải tự nhiên mà có. Nó là sản phẩm của quá trình học hỏi rèn luyện không ngừng. Ở học sinh, phải tập thói quen tự lập từ nhỏ. Hình thành và rèn luyện tính tự lập từ sớm thì năng lực ấy mới vững vàng và hiệu quả lâu bền.

Trước hết là phải biết tự lập trong công việc học tập. Tự giác học tập theo chương trình và hướng dẫn của thầy cô giáo và nhà trường. Tự giác lắng nghe bài giảng, tự thực hành luyện tập các bài tập được giao. Tự tìm tòi, học hỏi, nhiên cứu các vấn đề học tập để mở rộng tri thức và kiện toàn các kĩ năng. Tri thức là vô tận, sự học kéo dài suốt cuộc đời người. bởi thé, tự giác học tập là điều cần thiết đối với mỗi học sinh.

Trong đời sống, tự làm những việc mình có thể làm được. Không ỷ lại, dựa dẫm vào gia đinh, bạn bè, thầy cô. Không né tránh hay từ chối công việc được giao. Luôn sống năng động, tích cực hòa nhập cùng lớp học, tập thể. Tích cực tham gia các hoạt động chung của tập thể và cộng đồng. Luôn tự tin và sáng tạo trong công công việc. Luôn yêu thương, giúp đỡ bạn bè, kính trọng thầy cô giáo, nghe lời ba mẹ.

Phê phán nhưng người không có tính tự lập, luôn ỷ lại, dựa dẫm vào người khác:

Trong cuộc sống, vẫn còn có nhiều người không biết tự lập. Họ là những người lười biếng, nhút nhát, sống dựa dẫm vào người khác. Họ luôn là người tránh việc khó, chọn việc dễ, sống hẹp hòi, so đo tính toán, so bì thiệt hơn. Bởi thế, họ luôn bị mọi người xa lánh và khinh ghét. Những người như thé thật đáng chê trách.

Bài học nhận thức:

Tự lập là phẩm chất cần có ở mỗi con người. Muốn thành công và hạnh phúc trong cuộc sống, không có gì quan trọng hơn đó là hình thành và rèn luyện tính tự lập cho bản thân mình.

Kết bài:

Tính tự lập chính là sức mạnh đưa ta đi xa hơn vào thế giới muôn màu kì diệu và chiếm lĩnh các giá trị trong đời sống này. Hãy tự mình làm chỗ nương tựa cho chính mình. Không có gì quý giá hơn niềm tin tưởng vào bản thân và niềm tin của người khác vào mình. Cuộc đời là một hành trình đầy gian khó, không tự lập tất sẽ bị nhấn chìm trong trong đau khổ và bất trắc.

Tự lập là gì? Cần làm gì để có tính tự lập?

Mở bài:

Trong khó khăn mà trong chờ đợi người khác cứu giúp, bản thân bất lực, khả năng vượt qua được quả thực rất mong manh. Không ai có thể giúp mình tốt hơn chính mình. Bởi thế, mỗi con người cần phải rèn luyện và đức tính tự lập, hoàn thiện khả năng tự lập cho bản thân mình để sẵn sàng đối diện với khó khăn, có đủ sức mạnh chiến thắng nghịch cảnh.

Thân bài:

Thời gian dành cho mỗi chúng ta luôn có giới hạn. Vì vậy đừng phí phạm nó để sống một cuộc đời của người khác. Đừng để sa vào những giáo điều mà người khác đặt ra cho bạn. Đừng để sự ồn ào của những ý kiến trái chiều nhấn chìm giọng nói bên trong bạn. Và điều quan trọng hơn hết, bạn cần phải nỗ lực để nghe theo con tim và trực giác của mình. Không gì quan trọng hơn việc bạn cần phải biết sống tự lập càng sớm càng tốt.

Tự lập là gì?

Tự lập là tự lực làm lấy mọi việc, là tự xây dựng lấy cuộc sống cho mình, không ỷ lại, nhờ vả người khác.

Tại sao cần phải rèn luyện tính tự lập?

Con người cần được rèn luyện tính tự lập ngay từ nhỏ để có thể tự lo liệu cuộc sống của mình. Đó là con đường giúp con người trưởng thành, tự hoàn thiện bản thân:

Rèn luyện tính tự lập từ những công việc nhỏ nhặt, thường nhật. Tính tự lập thể hiện ở việc biết chọn lựa cho mình con đường đi, nghề nghiệp phù hợp với khả năng và đúng với khát vọng của chính mình…

Tính tự lập cần được rèn luyện từng bước nhưng phải bền bỉ và đều đặn. (Như người mẹ nắm tay con những bước đầu đời, sau đó mẹ “buông tay” con ra nhưng không phải buông ngay mà từ từ, cho đến khi con đủ kĩ năng sống; mẹ không “cầm tay” con nhưng vẫn dõi theo bước con đi)

Bàn luận mở rộng:

Tự lập là điều quan trọng nhất mà mỗi người ai cũng cần phải có. Tính tự lập khẳng định nhân cách, bản lĩnh của con người trong cuộc sống. Sống phụ thuộc vào người khác không chỉ tự giới hạn bản thân bạn mà tệ hơn bạn còn trở thành gánh nặng cho họ nữa.

Phê phán những người thích sống dựa dẫm, ỷ lại vào người khác. Tự lập không có nghĩa là tự tách mình khỏi cộng đồng. Trái lại, tự lập là con đường giúp con người khẳng định bản thân mình trong cuộc sống gắn bó với cộng đồng. Những sự lựa chọn lớn sẽ vạch ra con đường ta đi. Và chính những sự lựa chọn nhỏ nhất mới đưa chúng ta đến đích.

Bài học nhận thức:

Tự lập là cách tốt nhất để nuôi dưỡng tâm hồn và làm cho cuộc sống của ta trở nên đẹp đẽ, hạnh phúc, và thực sự có ý nghĩa. Bản thân mỗi người cần phải nỗ lực, có ý chí mạnh mẽ vượt qua mọi thử thách, khó khăn, trau dồi năng lực, rèn luyện những kĩ năng sống… để có thể sống tự lập.

Con người chúng ta đôi khi không thể tự lập vì vô vàn lý do với những nỗi sợ luôn đè nén: sợ phải ở một mình, sợ bị từ chối và sợ những điều xấu có thể xảy ra trong tương lai. Nhưng bạn phải biết rằng, không ai có thể là trẻ con mãi được, vì vậy chúng ta cần học cách tự lập và đưa ra những quyết định tốt nhất cho cuộc sống mà mình mong muốn có được.

Kết bài:

Trở thành một con người tự lập có thể tự đưa ra những quyết định cho bản thân là kết quả đáng giá nhất mà chúng ta luôn phải phấn đấu, không phải vì ai hết mà vì cho chính bản thân chúng ta. Có được tính tự giác, tự lập là có được một yếu tố đầu tiên đưa ta đến thành công.

“Hãy đặt tương lai vào bàn tay đáng tin cậy – bàn tay của chính bạn”. Đây là một câu nói của ai đó về tính tự lập mà tôi rất tâm đắc. Đúng vậy các bạn ạ, mỗi một sinh vật sinh ra và tồn tại trên trái đất này đều phải có tính tự lập. Những chú chim non mới sinh ra khi xa mẹ cần phải tự học cách vỗ cánh để bay và tự kiếm mồi nuôi sống bản thân. Hay những con thú ở trong rừng cần tự lập học cách rình mồi, kiếm mồi để duy trì sự sống. Và con người cũng cần sống tự lập để sinh tồn. Vậy tự lập là điều rất cần thiết trong cuộc sống của bất kì một ai.

Tự lập là tự mình làm việc, tự xây dựng cuojc sống và sự nghiệp riêng, không lệ thuộc vào bất kì ai hay đợi chờ ai nhắc nhở. Đây là cách sống tự quyết, tự hành động, tự lựa chọn cho mình một con đường để đi, giúp con người bản lĩnh, tự tin với bản thân mình hơn.

Trong cuộc sống , tự lập biểu hiện rất cụ thể ở những hành động nhỏ nhất, gần gũi và bình dị như: cậu bé Bill – 8 tuổi đã tự tay giặt tất bẩn của mình và có được những đôi tất rất sạch sẽ dưới sự hướng dẫn của mẹ; hay niềm vui của cả gia đình khi được thưởng thức bát canh rau cải do cô bé Mai đã tự tay trồng và chăm sóc … Và tự lập còn được biểu hiện ở sự tự tin, bản lĩnh cá nhân, dám đương đầu với những khó khăn, thử thách của cuộc sống giống như Mai An Tiêm trong câu chuyện sự tích dưa hấu. Nếu không có ý chí , nỗ lực vươn lên thì làm sao có được giống dưa hấu, ngon bổ mà ngày nay chúng ta đang sử dụng.

Con người lại cần phải có tự lập bởi chính tự lập giúp cho mỗi người tự tin, chủ động giải quyết mọi công việc thuận tiện và đạt kết quả tốt. Nếu lười biếng, không rèn luyện thân thể, chỉ biết sống dựa dẫm vào người khác sẽ làm cho ta yếu đuối và không có khả năng sống tự lập, lúc gặp hoàn cảnh khó khăn sẽ chịu thiệt thòi, không thể tự mình đối phó được.

Không những thế, cuộc đời không bao giờ bằng phẳng như những gì chúng ta nghĩ mà nó luôn luôn là những khó khăn, thử thách và chông gai ở phía trước hay đó chính là nghịch cảnh. Nếu có tự lập, bạn sẽ có một sức mạnh tiềm ẩn để đương đầu và vượt qua nó đúng như lời Thomas Edison đã từng nói “Tôi không bao giờ nản chí và đối với tôi mỗi một nỗ lực không thành công là một bước tiến bộ”. Trong những hoàn cảnh như vậy, với sự nỗ lực, tự suy nghĩ, tự làm lấy, tự quyết định tương lai, số phận của mình mà không phụ thuộc vào quyết định hay ý muốn của người khác, bạn sẽ có được thành công và thành công đó thật đáng tự hào!

Để rèn luyện được tính tự lập, ngay từ khi còn nhỏ, cha mẹ hãy dạy dỗ con cái tính tự lập và cách hành xử hợp lí, xứng đáng. Cha mẹ không thể làm cái ô che cho con cả đời được, nếu không sẽ vô tình đẩy con vào hoàn cảnh sống thụ động và phải chịu những cái kết đau thương như cậu bé trong câu chuyện “Cậu bé và bức tranh sư tử”. Nếu khi còn trẻ, các con học được tính tự lập, tự cường thì sau này lớn lên sẽ có đủ dũng khí để đối mặt với cuộc sống và có được thành công đáng ngưỡng mộ.

Biết sống tự lập ngay từ nhỏ trong môi trường đói nghèo, cơ cực đã rèn luyện cho Trương Nguyện Thành một bản lĩnh vững vàng, dám đương đầu với mọi khó khăn và một tấm lòng thương yêu con người, chính vì vậy mà ông mới có thể đạt tới những đỉnh cao khoa học và trở thành gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo. Hay như Bill-gates – một tỷ phú nổi tiếng thế giới – người sống tự lập từ nhỏ, suốt đời đấu tranh cho sự độc lập của bản thân và để khẳng định cái “tôi” của chính mình vì ông có một niềm tin kiên định vào tài năng của bản thân và theo đuổi chỉ những mục tiêu nào mà ông chắc chắn thành công. Vì thế mà ông đã thắng được các đối thủ trong những cuộc cạnh tranh khốc liệt để vươn lên hàng đầu.

Người ta thường nói “đồng tiền xương máu” là chỉ sự gian nan, vất vả mới đạt được nó; chỉ có tự mình kiếm được đồng tiền thì mới biết quý trọng chắt chiu trong chi dụng; còn những kẻ lười biếng chỉ biết hưởng thụ nhờ vào người khác, không phải đổ mồ hôi trong cuộc mưu sinh, sống ăn chơi bữa bãi, hoang phí và như vậy là đã làm hỏng cả một đời người.

Một cách nữa để bồi dưỡng tính tự lập cho mình là khi nghe những lời khuyên của người khác tức là bạn đã có tinh thần cầu tiến, nhưng cần biết chắt lọc, lựa chọn cái gì mà mình thấy hợp lí để làm theo hay bạn phải có ý thức độc lập trong suy nghĩ, hành động thì mới có được kết quả tốt đẹp. Hãy nhớ rằng, trong cuộc sống, tự do là thứ đáng quý nhất. Trong câu chuyện “Chó sói và chó nhà”, Sói đã lựa chọn một cuộc sống tuy thiếu thốn, vất vả nhưng tự do thay vì một cuộc sống no đủ nhưng lại bị xiềng xích và bị phụ thuộc. Đó là một cách lựa chọn thật sáng suốt.

Định Nghĩa, Tiên Đề, Định Luật Và Định Lý

Đến sinh viên đại học cũng rất có thể không phân biệt thế nào là định nghĩa, định luật, định lý, tiên đề. Tôi cũng để ý thấy rằng dường như trong các chương trình, từ phổ thông đến đại học, ít sách nào đề cập đến mấy khái niệm căn bản đó. Giáo viên dường như cũng quên đi việc đưa ra các khái niệm trên, còn người học được chép từ định nghĩa này đến định luật nọ, từ tiên đề này cho đến việc chứng minh định lý kia. Để rồi khi gặp những vấn đề cần động não, một bài tập nhỏ chẳng hạn, cũng chưa biết phải bắt đầu từ đâu.

Định nghĩa quan trọng hơn cả còn bởi vì các định luật định lý đều đề cập đến những đối tượng được định nghĩa trước. Tôi lấy ví dụ: định luật bảo toàn moment động lượng. Nhưng để sử dụng được định luật này cần trải qua một số “thủ tục”:

– Thế moment động lượng là gì? – Là moment của động lượng! – Thế moment là gì, động lượng là gì? – Moment của một vector là tích có hướng của vector cánh tay đòn với vector đó, động lượng là một đại lượng đặc trưng cho khả năng tương tác của vật, có giá trị bằng khối lượng nhân cho vector vận tốc. – Vậy vector là cái gì?

Câu chuyện trên nhằm minh họa cho vai trò của định nghĩa. Không có định nghĩa không làm gì được. Muốn nói gì đầu tiên cần định nghĩa. Tuy nhiên phải cẩn thận vì đôi khi những người viết sách, những người thầy của chúng ta, cũng mâu thuẫn với nhau. Tôi đã có những lần khi đối mặt với các thầy đã phải nói những câu như: “Thưa thầy theo sách Sivukhin thì nó được định nghĩa như thế này…, còn sách của Irodov lại viết khác…”

Giờ tôi nói tiếp đến và định lý. Sở dĩ tôi bàn một lúc cả hai cái để tiện so sánh. Còn vì sao tôi so sánh, vì chữ và chữ lý làm cho hai từ bắt đầu bằng chữ này trở nên dễ nhầm lẫn. Điều đó thường xuyên xảy ra vì chúng ta thường chỉ biết lấy và sử dụng chúng thôi. Về mặt này, cả định luật lẫn định lý có giá trị gần như nhau. Cấu trúc và cách phát biểu của chúng cũng rất giống nhau. Chuyện nhầm là dễ hiểu.

Điểm khác biệt rõ ràng nhất giữa hai khái niệm này chính là nguồn gốc của nó. Định luật vốn xuất phát từ thực nghiệm. Nó xác định quy luật của tự nhiên. Ví dụ: dựa theo kết quả quan sát thiên văn, Kepler phát hiện ra rằng các hành tinh chuyển động theo đường elip, người ta gọi đó là định luật Keple thứ nhất. Không một chứng minh duy ý chí nào ở đây cả, cứ theo khách quan mà nói, sự thật thế nào ta rút ra thế ấy, đó chính là định luật. Nói nghe có vẻ dễ dàng, nhưng để đúc kết các sự kiện trở thành định luật cũng không đơn giản. Còn định lý là phát biểu được chứng minh dựa trên những thứ có sẵn. Ví dụ như một khi đã có định nghĩa về động năng, công, lực và một số thứ khác, ta có thể kết luận một cách đàng hoàng rằng: độ biến thiên động năng bằng công của ngoại lực. Đó là một định lý, vì ta chỉ việc làm một vài phép toán biến đổi để đi đến kết luận đó mà không cần đến thực nghiệm. Định lý chính là hệ quả tất yếu nảy sinh. Theo ý nghĩa này thì các khái niệm như “hệ quả” hay “bổ đề” cũng mang nét tượng tự định lý.

Vì xuất phát từ thực nghiệm nên chỉ có khoa học tự nhiên mới có định luật, còn toán học thì không. Trong hai thứ này, ở toán học chỉ có định lý. Không hề tồn tại một định luật toán học nào cả. Ngược lại, trong bộ môn cơ học lý thuyết, chúng ta không thể tìm thấy một định luật vật lý nào. Đây là một phát hiện thú vị, các bạn cứ thử kiểm tra xem. Sở dĩ có chuyện đó bởi do đây là thứ cơ học chỉ dựa trên một vài tiên đề rồi suy ra toàn bộ phần còn lại, không lấy dẫn chứng từ bất kì thực nghiệm nào. Bởi thế người ta mới gọi là cơ học lý thuyết.

Việc nắm rõ nguồn gốc giúp ta phân định rõ ràng đâu là định lý, đâu là định luật. Sự phân định như thế lại giúp ta tư duy đúng đắn về vật lý. Có một số nhầm lẫn khá phổ biến, như định luật bảo toàn cơ năng chẳng hạn. Tôi xin nhấn mạnh rằng không có định luật nào về bảo toàn cơ năng cả. Bảo toàn cơ năng là hệ quả tất yếu sau phép định nghĩa về lực bảo toàn, hay lực thế. Nói cho đúng thì nó là một định lý. Trên thực tế chỉ có định luật bảo toàn năng lượng mà thôi.

Sau cùng tôi đề cập đến tiên đề, có lẽ không cần phải nói nhiều. Tiên đề là thứ mặc nhiên thừa nhận, dù nó có đơn giản đến mức nào đi nữa, nếu người ta muốn chọn nó làm điểm khởi đầu cho một lý thuyết. Tiên đề cũng giống như định luật hay định lý vậy, chỉ khác ở chỗ, định luật do thực nghiệm, định lý do suy diễn, còn tiên đề do chúng ta đặt lấy, thường là sự khái quát hoá một kinh nghiệm của con người.

Ta biết rằng, các định luật của Kepler về quy luật chuyển động của các hành tinh được phát minh ra trước định luật vạn vật hấp dẫn của Newton. Tuy nhiên, sau khi Newton viết ra công thức tính lực hấp dẫn thì tự nhiên sẽ suy ra được các phương trình chuyển động của các hành tinh, đúng như Kepler đã nói. Nói cách khác, từ lúc bấy giờ trở đi nếu ta coi định luật vạn vật hấp dẫn là quan trọng nhất thì theo đó các định luật Keple tự nhiên biến thành hệ quả hay định lý. Mặc dù vậy, có lẽ vì tôn trọng lịch sử, người ta vẫn coi các kết luận của Keple là định luật.

Một lý thuyết vật lý bao giờ cũng có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa định nghĩa, định luật, định lý và tiên đề. Nhưng đôi khi cũng có sự thiếu rõ ràng giữa chúng. Định luật thứ hai của Newton hiện nay được dùng không khác gì một định nghĩa về lực, và cũng không khác gì một tiên đề. Tôi sẽ quay lại vấn đề cụ thể này ở bài viết sau. Ngay chính định luật bảo toàn năng lượng theo tôi không phải là một định luật, mà là một tiên đề không hơn không kém. Tôi cũng xin để dành vấn đề này cho một bài viết khác.

Vật lý cũng như các môn khoa học khác, rất lâu nữa mới tạm gọi là hoàn chỉnh. Nhưng con đường đi đến chân lý bao giờ cũng vậy, bao giờ cũng cần đến tiên đề, định nghĩa, định luật và định lý. Đối với người học, nắm chắc và phân định rạch ròi là cần thiết.