Thế Nào Là Khoa Học Kỹ Thuật. Phân Biệt Khoa Học Kỹ Thuật Và Khoa Học Công Nghệ

Chủ nhật – 27/07/2008 08:19

Thế nào là Khoa học kỹ thuật. Phân biệt khoa học kỹ thuật và khoa học công nghệ

I. CÁC KHÁI NIỆM. II. THẾ NÀO LÀ CÁCH MẠNG KHOA HỌC KỸ THUẬT. Hệ thống kỹ thuật của mỗi thời kỳ lịch sử quyết định lực lượng sản xuất của thời kỳ đó và tính chất nền văn minh của xã hội đó. Trong thời kỳ Cổ đại và Trung đại đó là nền văn minh nông nghiệp. Ở phương Tây, từ cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX đó là văn minh công nghiệp. Với hệ thống công nghệ đương đại, xã hội loài người tại các nước khoa học và công nghệ phát triển đang chuyển sang một hình thái mới được gọi một cách quy ước là xã hội hậu công nghiệp, Avin Toller gọi là nền văn minh làn sóng thứ ba. Thực chất đó là xã hội thông tin với vai trò chủ đạo của thông tin và trí tuệ. Để có được nền văn minh đó trước tiên phải kể đến vai trò đáng kể của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thế kỷ XX.Thuật ngữ cách mạng khoa học kỹ thuật có nhiều cách viết khác nhau. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến sau những năm 60 thuật ngữ này được viết là cách mạng Khoa học và Kỹ thuật. Đầu những năm 60 là khái niệm cách mạng Khoa học và Công nghệ. Đến năm 70 lại là cách mạng Khoa học – Kỹ thuật. Tuy các khái niệm này khác nhau về cách thức thể hiện nhưng nó đều phản ánh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật diễn ra vào thế kỷ XX.Cách mạng hiểu theo nghĩa thông thường nghĩa là thay cũ, đổi mới với sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn cái cũ, ưu việt hơn cái cũ về chất. Cách mạng khoa học kỹ thuật cũng vậy; đó là một sự thay đổi kỹ thuật cũ bằng một kỹ thuật mới, tiến bộ hơn kỹ thuật cũ từ đó làm cho năng suất lao động tăng lên gấp nhiều lần so với kỹ thuật sản xuất trước đây.Ví dụ: Nếu như trước năm 1947 khi chất bán dẫn chưa được tìm thấy thì đèn điện tử trong các thiết bị điện tử là các đèn điện tử bằng sợi đốt với catốt và anốt rất phức tạp, cồng kềnh và tiêu hao nhiều nhiên liệu cho nên nó chưa được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất. Đến khi khoa học tìm ra chất bán dẫn và năm 1947 ba nhà vật lý ở Bell Laboratories đã phát minh transistor, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu nhỏ mạch phức tạp và từ đó trở đi, các linh kiện bán dẫn đã thay thế các đèn điện tử bằng sợi đốt trước đây. Và một thời gian sau, mạch tổ hợp IC ra đời cho đến nay đã được ứng dụng trong hầu hết các thiết bị điện. Hoặc sự ra đời của công nghệ lade được coi là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của thế kỷ XX. Nó được ứng dụng trong nhiều ngành khoa học và kỹ thuật đặc biệt là trong thông tin.Như vậy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật với nội dung cơ bản là thuyết lượng tử và thuyết tương đối đã mở ra cho khoa học những chân trời mới, bao la đi vào tầng sâu thẳm của cấu trúc vật chất, lao vào cái vô cùng tận của vũ trụ, đi sâu tìm hiểu sự sống ở mức phân tử và cơ chế tư duy. Có thể nói cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ra đời gắn liền với sự ra đời của các phát minh trong các lĩnh vực khác nhau của khoa học kỹ thuật như trong điều khiển học (điều khiển từ xa bằng công nghệ vô tuyến, hồng ngoại¦), di truyền học (phát minh ra cấu trúc xoắn kép AND mang mã di truyền của sự sống năm 1953 của Watson và Crick), thiên văn học (với thuyết BigBang về cấu trúc tiến hóa của vũ trụ, con người đặt chân lên mặt trăng¦), công nghệ sinh học¦v.. v..Tóm lại, cách mạng khoa học kỹ thuật là một bước tiến cao hơn so với cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XIX. Với cuộc cách mạng này thì con người bước sang sang một phương thức sản xuất mới là tự động hóa thay cho cơ khí hóa trước đây. Đó là sự đi tiếp của cách mạng công nghiệp đã loại bỏ yếu tố cơ khí và sử dụng điện từ, con người không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất.III. Phân biệt cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng khoa học công nghệ . Từ những thành tựu khoa học kỹ thuật đầu thế kỷ XX tạo cơ sở cho sự xuất hiện một hệ thống công nghệ mới, kỳ diệu khác hẳn về chất so với hệ thống công nghệ trước đây của cách mạng công nghiệp, tạo ra một cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đã đưa lại cho con người một sức mạnh phi thường, có thể tạo ra những loại vật liệu có tính năng mong muốn, những giống loài thực vật, động vật theo yêu cầu của con người, kể cả những loài không có trong tự nhiên, có khả năng khám phá những nguồn năng lượng khổng lỗ ẩn náu trong hạt nhân nguyên tử, không ngừng tạo ra những kỷ lục mới trong việc chinh phục không gian và thời gian. Và hệ thống công nghệ đó còn rất trẻ và rất sung sức, tiềm năng còn rất lớn, hứa hẹn những thành tựu kỳ diệu hơn nữa trong thế kỷ XXI.Cuộc cách mạng khoa học công nghệ là một giai đoạn phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nó bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 80, 90 của thế kỷ XX. Các thành tựu khoa học và công nghệ kỳ diệu nhất của thế kỷ XX mà con người đạt được là: con người bay vào vũ trụ, sử dụng năng lượng nguyên tử, công nghệ gen, máy tính và mạng internet. Có thể nói rằng cách mạng khoa học công nghệ và cách mạng khoa học kỹ thuật là hai khái niệm có gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhờ có sự phát triển của khoa học kỹ thuật tạo điều kiện cho sự ra đời của công nghệ mới và từ đó lại thúc đẩy các ngành khoa học kỹ thuật phát triển hơn nữa bởi khoa học công nghệ là sự ứng dụng của khoa học kỹ thuật để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, trong hoạt động của con người. Bản thân công nghệ đã chứa đựng trong nó thành phần kỹ thuật; một trong bốn thành phần tạo nên công nghệ. Vì vậy khoa học kỹ thuật phát triển sẽ làm cho khoa học con người phát triển theo.Tóm lại; hai khái niệm cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng khoa học công nghệ đều như nhau bởi vì bản thân chúng là một thể thống nhất không tách rời nhau. Vấn đề là cách hiểu chúng như thế nào. Người ta sử dụng từ cách mạng khoa học kỹ thuật để chỉ cuộc cách mạng từ đầu thế kỷ XX, còn từ cách mạng khoa học công nghệ là chỉ một giai đoạn phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật từ những năm 80, 90 của thế kỷ XX. Cách mạng khoa học công nghệ là một bước tiến của cách mạng khoa học kỹ thuật. 1.1. Khái niệm khoa học.Hiện nay, người ta đề cập đến khái niệm khoa học ở ba khía cạnh sau:+ Khoa học là hệ thống những hiểu biết hoặc tri thức của con người về tự nhiên – xã hội – tư duy, nó tồn tại dưới dạng các lý thuyết, định lý, quy luật, nguyên tắc, phạm trù, tiền đề.+ Khoa học là một hình thái ý thức – xã hội thể hiện tồn tại xã hội trong nội dung, mục đích và các chuẩn mực giá trị, các nguyên lý thế giới quan trong triết học và bức tranh chung về thế giới.+ Khoa học là một dạng hoạt động lao động của con người, nó ra đời trong quá trình chinh phục giới tự nhiên và khoa học giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của con người. Đó là một hình thức hoạt động đặc thù, là hoạt động nhận thức. Nó ra đời chỉ ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử.Từ ba khía cạnh trên, chúng ta có thể định nghĩa, khoa học là hệ thống các kiến thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy dựa trên những phương pháp được xác định để thu nhận kiến thức.1.2. Khái niệm kỹ thuật.Kỹ thuật thông thường được hiểu là toàn bộ các thiết bị, phương tiện, máy móc và công cụ vật chất nằm trong tư liệu sản xuất để quản lý, khai thác, bảo quản và chế tạo các sản phẩm dùng cho sản xuất và thỏa mãn các nhu cầu của đời sống xã hội.1.3. Khái niệm công nghệ.Công nghệ là hệ thống các phương tiện dùng để thực hiện quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho xã hội và con người. Hay nói cách khác, công nghệ là sự ứng dụng của khoa học để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong hoạt động của con người.Công nghệ, theo nghĩa truyền thống được hiểu là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, kỹ thuật, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Công nghệ bao gồm nhiều khâu như : điều tra, nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất thử¦ đến các vấn đề thông tin, tư vấn, đào tạo¦ tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm cuối cùng. Công nghệ cũng chính là bản thân những thao tác khai thác, chế tạo, vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, kiểm tra¦ đó đều là mỗi phần của quá trình sản xuất chung nhằm vào một sản phẩm cuối cùng nhất định.Công nghệ gồm bốn thành phần THIO: thành phần kỹ thuật T (Technoware), thành phần con người H (Humanware), thành phần thông tin I (Inforware) và thành phần tổ chức quản lý O (Orgaware). Bốn thành này có tác động qua lại với nhau và cùng thực hiện bất kỳ quá trình sản xuất và dịch vụ nào.

Tác giả bài viết: Phạm Quang Tùng

Thuật Ngữ Y Khoa Việt

Mô tả

Sách THUẬT NGỮ Y KHOA VIỆT- ANH của tác giả BS NGUYỄN VĂN HÙNG do NXB Y HỌC phát hành. Nhà Sách Y Dược giao sách toàn quốc miễn phí, thu tiền mặt (COD) tại địa chỉ quý khách cung cấp.

Ahh Cuối cùng thì quyển sách tác giả BS NGUYỄN VĂN HÙNG đầu tư công phu về THUẬT NGỮ Y KHOA VIỆT- ANH đã hoàn thành.

Quyển sách THUẬT NGỮ Y KHOA VIỆT- ANH của tác giả BS NGUYỄN VĂN HÙNG do NXB Y HỌC in ấn và phát hành cho đọc giả là học sinh sinh viên ngành y, dược, các y bác sĩ đang cần tài liệu tra cứu. Sách THUẬT NGỮ Y KHOA VIỆT- ANH sẽ giúp đỡ nhiều thông tin cho đọc giả với những kiến thức y khoa nâng cao đã được tác giả BS NGUYỄN VĂN HÙNG tích lũy qua nhiều năm khám chữa bệnh thực tế. Sách THUẬT NGỮ Y KHOA VIỆT- ANH đã được NXB Y HỌC kiểm tra chất lượng và chấp nhận cho in và phát hành với giá bán ra thị trường là 480.000 Vnđ. chúng tôi xin giới thiệu quyển sách này tới cho quý đọc giả.

Nội dung sách THUẬT NGỮ Y KHOA VIỆT- ANH

Thông báo: Nếu bạn đọc được nội dung này, thì hiện tại chúng tôi vẫn chưa kịp thời cập nhật nội dung cho quyển sách THUẬT NGỮ Y KHOA VIỆT- ANHcủa tác giả BS NGUYỄN VĂN HÙNG, bạn vui lòng liên hệ hotline để được tư vấn nếu muốn biết thêm thông tin về quyển sách THUẬT NGỮ Y KHOA VIỆT- ANH do NXB Y HỌC phát hành.

Quyển sách THUẬT NGỮ Y KHOA VIỆT- ANH là một tài liệu được bán chạy của tác giả BS NGUYỄN VĂN HÙNG.

NhaSachYDuoc.com tin tưởng rằng bạn sẽ thu nạp được nhiều thông tin giá trị và hữu ích trong việc học tập và nghiên cứu cũng như có được tư liệu tham khảo chuyên môn nhằm tìm được được phương pháp áp dụng vào thực hành để điều trị và cứu chữa cho người bệnh. Tài liệu THUẬT NGỮ Y KHOA VIỆT- ANH được in khổ lớn, giấy đẹp, chất lượng in cao. Đọc giả sẽ thấy hài lòng khi có được quyển sách THUẬT NGỮ Y KHOA VIỆT- ANH trong tay. Hãy đặt mua tài liệu THUẬT NGỮ Y KHOA VIỆT- ANH ngay hôm nay để chúng tôi kịp thời giao cho quý khách trong thời gian nhanh nhất. Đặc biệt: Chúng tôi miễn phí vận chuyển và chỉ thu tiền khi giao hàng tận tay quý khách theo hình thức COD.

Chi tiết vui lòng liên hệ: Thúy Huyền – 0966.285.427, Email: [email protected]

7 Thuật Ngữ Khoa Học Bị Lạm Dụng Trong Đời Sống

Giả thuyết. Lí thuyết. Định luật. Những thuật ngữ khoa học này được mang ra nói thường xuyên, nhưng đa số công chúng thường hiểu sai ý nghĩa của chúng.

Nay một nhà khoa học cho rằng người ta nên bỏ đi những từ bị hiểu sai này và thay chúng bằng từ “mô hình”. Nhưng đâu phải chỉ có các thuật ngữ khoa học mới gây ra rắc rối, và việc thay thuật ngữ này bằng thuật ngữ kia một cách đơn giản sẽ chỉ mang đến những thuật ngữ mới bị hiểu sai nhiều hơn – một số nhà khoa học cho biết.

“Một từ như ‘lí thuyết’ là một thuật ngữ khoa học kĩ thuật,” phát biểu của nhà hóa học Michael Fayer tại trường Đại học Stanford. “Thực tế nhiều người hiểu sai ý nghĩa khoa học của nó không có nghĩa là chúng ta nên ngừng sử dụng nó. Nó có nghĩa là chúng ta cần có nền giáo dục khoa học tốt hơn nữa,” ông nói.

Giả thuyết

Trong một bài đăng trên blog Wired Science, nhà vật lí Rhett Allain ở trường Đại học Southeastern Louisiana cho rằng phần đông công chúng hay lạm dụng các từ giả thuyết, lí thuyết và định luật nên các nhà khoa học cần dừng việc sử dụng những thuật ngữ này.

“Tôi không nghĩ lúc này việc gìn giữ những từ như thế là đáng giá,” Allain nói.

Giả thuyết là một lí giải cho cái gì đó được đề xuất có thể thật sự kiểm tra được. Nhưng “nếu bạn chỉ cần hỏi bất kì ai đó một giả thuyết là gì, thì họ lập tức đáp ngay đó là ‘dự đoán của người có học’,” Allain nói.

Chỉ là lí thuyết ư?

Những người phủ nhận sự biến đổi khí hậu và tiến hóa viện dẫn từ “lí thuyết” để nêu lên ngờ vực về sự biến đổi khí hậu và tiến hóa.

“Như thể là nó không đúng chỉ bởi vì nó là một lí thuyết,” Allain nói.

Một phần của vấn đề nằm ở chỗ từ ‘lí thuyết’ có nghĩa là cái gì đó rất khác về mặt ngôn ngữ với ngữ nghĩa của nó trong khoa học. Một lí thuyết khoa học là một lí giải của một phương diện nào đó của thế giới tự nhiên đã được chứng minh qua các thí nghiệm hay thử nghiệm lặp đi lặp lại nhiều lần. Nhưng nói chung, một lí thuyết chỉ là một quan điểm tồn tại trong trí não của người nào đó, chứ không phải một lí giải có gốc rễ trong thí nghiệm và thử nghiệm.

Mô hình

Tuy nhiên, lí thuyết không phải là cụm từ khoa học duy nhất gây ra rắc rối. Thuật ngữ ưu tiên của Allain để thay thế cho giả thuyết, lí thuyết và định luật là “mô hình”. Từ này không chỉ gợi đến những chiếc xe đồ chơi của trẻ em, mà nó còn chỉ những cái khác nhau trong những lĩnh vực khoa học khác nhau. Một mô hình khí hậu thì rất khác với một mô hình toán học chẳng hạn.

“Các nhà khoa học trong những lĩnh vực khác nhau sử dụng những thuật ngữ này không giống nhau,” phát biểu của nhà nhân chủng học John Hawks tại trường Đại học Wisconsin-Madison. “Tôi không nghĩ từ ‘mô hình’ sẽ cải thiện được vấn đề. Nó có hiện thân vững chắc trong vật lí học hiện nay chủ yếu bởi vì Mô hình Chuẩn. Trái lại, trong di truyền học và tiến hóa học, các ‘mô hình’ được sử dụng với ý nghĩa rất khác.”

Hoài nghi

Khi ai đó không tán thành sự biến đổi khí hậu, giới truyền thông thường mô tả những cá nhân đó là “kẻ hoài nghi khí hậu”. Nhưng như thế có lẽ đã vinh danh họ quá rồi, theo lời nhà khoa học khí hậu Michael Mann tại trường Đại học Pennsylvania.

“Việc bác bỏ dòng khoa học chính thống dựa trên những chỉ trích khoa học mong manh, không đúng và bị chính trị chi phối quá nhiều xét cho cùng không phải là hoài nghi. Nó là chống đối… hay phủ nhận,” Mann nói.

Thay vậy, những người hoài nghi thật sự đón mở bằng chứng khoa học và sẵn sàng đánh giá nó một cách công bằng.

“Không phải nhà khoa học nào cũng hoài nghi. Những người hoài nghi đích thực, như Carl Sagan mô tả, là ‘cỗ máy tự hiệu chỉnh’ của khoa học,” Mann nói.

Nature vs. nurture

Cụm từ “nature vs. nurture” (tự nhiên vs. nuôi dưỡng) còn khiến các nhà khoa học nhức đầu, bởi vì nó đơn giản hóa triệt để một quá trình rất phức tạp, theo lời nhà sinh học tiến hóa Dan Kruger tại trường Đại học Michigan.

“Đây là cái mà các nhà tiến hóa học hiện đại đang lép vế,” Kruger nói.

Các gen có thể ảnh hưởng đến cuộc sống con người, nhưng sự biến đổi biểu sinh cũng thế. Những biến đổi này làm thay đổi gen hoạt tính, và cả hai đều có thể di truyền và dễ dàng bị tác động bởi môi trường. Môi trường định hình hành vi con người có thể là bất cứ cái gì từ những hóa chất mà một bào thai tiếp xúc lúc còn trong bụng mẹ cho đến ngôi nhà mà một người lớn lên cho đến loại thực phẩm họ ăn lúc còn nhỏ. Toàn bộ những yếu tố này tương tác với nhau theo kiểu lộn xộn, không thể dự báo được.

Ý nghĩa

Một từ nữa khiến các nhà khoa học răng cắn vào lưỡi là từ “ý nghĩa”.

“Đó là một từ hết sức lộn xộn. Nó có nghĩa là ý nghĩa thống kê, hay nó có nghĩa là quan trọng?”, phát biểu của Michael O’Brien, chủ nhiệm khoa nghệ thuật và khoa học tại trường Đại học Missouri.

Trong thống kê, cái gì đó có ý nghĩa nếu một sự chênh lệch không có khả năng là do sự may rủi ngẫu nhiên. Nhưng điều đó không thể phiên dịch thành một sự chênh lệch có nghĩa, nói ví dụ như trong các triệu chứng nhức đầu hay IQ.

Tự nhiên

“Tự nhiên” (natural) là một ngáo ộp khác nữa đối với các nhà khoa học. Từ này đồng nghĩa với đức hạnh, khỏe mạnh hay tốt đẹp. Nhưng không phải cái gì nhân tạo là không lành mạnh, và không phải cái gì tự nhiên cũng tốt cho bạn.

“Uranium là tự nhiên, nhưng nếu bạn tiêm nhiễm đủ lượng uranium, bạn sẽ chết,” Kruger nói.

Từ chị em ruột của tự nhiên, “hữu cơ” cũng có ý nghĩa lộn xộn. Trong khi đối với các nhà khoa học từ hữu cơ có nghĩa đơn giản là “gốc carbon”, thì thuật ngữ này hiện nay lại được sử dụng để mô tả những loại rau quả không có thuốc trừ sâu và các tấm cotton siêu bền.

Nền giáo dục kém

Nhưng mặc dù những từ này có thể bị hiểu sai, theo các nhà khoa học, vấn đề thật sự là vì người ta đã không được dạy dỗ tốt ở trường học phổ thông. Vì thế, công chúng không hiểu những lí giải khoa học đã được hình thành, kiểm nghiệm rồi được chấp nhận như thế nào.

Ngoài ra, bộ não con người có lẽ chưa tiến hóa đến mức hiểu theo trực giác những khái niệm khoa học chủ chốt như giả thuyết hay lí thuyết, Kruger nói.

Đa số mọi người có xu hướng sử dụng các lối tắt tinh thần để làm cho có nghĩa sự lộn xộn thông tin mà họ bắt gặp mỗi ngày.

Một trong những xu hướng đó là tạo ra “một sự phân biệt nước đôi giữa cái gì đó đúng theo nghĩa tuyệt đối và cái gì đó sai hay là dối trá,” Kruger nói. “Với khoa học, đó là một sự liên tục. Chúng ta liên tục xây dựng bồi đắp kiến thức của mình.”

Nguồn: Tia Ghose (LiveScience) Vui lòng ghi rõ “Nguồn chúng tôi khi đăng lại bài từ CTV của chúng tôi.

Thêm ý kiến của bạn

2023: Những Thuật Ngữ Khoa Học Cần Được Nghiên Cứu Nhiều Hơn

Trạng thái thần kinh của con người khá đa dạng. Trong đó tự kỷ là một dạng khuyết tật, nhiều người cho rằng đó là hệ quả của sự biến đổi gen. Hiện nay trên thế giới, nhiều người đang kêu gọi không cần thiết phải chữa bệnh tự kỷ bởi đó là một trong các trạng thái tự nhiên của đa dạng thần kinh, do đó cần phải được duy trì.

Lòng vị tha đến từ hai phía (Reciprocal Altruism)

Để xã hội tồn tại và phát triển, mọi cá thể đều phải có lòng vị tha. Mọi người (thậm chí cả các loài động vật) đôi khi vẫn phải tốn nhiều công sức chỉ để mang lại lợi ích cho những người khác, dù có khi họ không phải là người thân thiết.

Những con tinh tinh chăm sóc cho nhau, một biểu hiện của lòng vị tha ở động vật. (Nguồn: Attracmeny.com)

Trên thực tế, lòng vị tha đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên tinh thần tương hỗ giúp nâng cao phúc lợi, khả năng sinh tồn và sức khỏe của con người.

Nguyên lý có tính ảnh hưởng (Effective Theory)

Mọi người có thể không thống nhất ý kiến về nhiều vấn đề mang tính cơ bản và chuyên sâu, nhưng tất cả chúng ta đều tin tưởng rằng khi ngồi trên một chiếc ghế chắc chắn, chúng ta sẽ cảm thấy an tâm hơn, và khi hít thở trên bề mặt Trái Đất nghĩa là chúng ta sẽ đủ có lượng khí oxy cần thiết cho sự sống. Khái niệm này được gọi là Nguyên lý có tính ảnh hưởng.

Tất cả chúng ta đều làm việc dựa trên các nguyên lý có tính ảnh hưởng. Chúng ta tìm kiếm các nội dung mô tả khớp với những gì chúng ta nhìn thấy trên thực tế, và rồi tương tác với chúng.

Nguyên lý có tính ảnh hưởng rất có giá trị khi chúng ta tự hỏi các nguyên lý khoa học được thực hiện như thế nào, và khi chúng ta muốn nhận định một vấn đề là sai hay đúng.

Xu hướng về sự xác nhận (Confirmation Bias) Trí Quyển (The Noosphere)

Lợi ích của Internet là càng nhiều thông tin sẽ giúp bạn đưa ra được các quyết định đúng đắn hơn. Tuy nhiên, nghịch lý cũng nằm ở chỗ càng nhiều thông tin sẽ càng tăng thêm khả năng xác nhận những gì bạn vốn đã tin tưởng từ trước đó.

Trí quyển nằm trong tập hợp các khái niệm nói về các quyển của Trái Đất gồm có sinh quyển, khí quyển, thủy quyển… trong đó bản chất của trí quyển chính là trí tuệ của con người.

Đây là thuật ngữ ra đời từ đầu thế kỷ 20 nhưng sau đó không được sử dụng phổ biến. Tuy nhiên thuật ngữ này cũng cần được lưu tâm.

Khả năng đạt được mục tiêu (Affordance)

Lợi thế so sánh (Comparative Advantage) Mật mã thần kinh (The Neural Code)

Theo nghiên cứu của Stigler, các khám phá khoa học đều không được đặt tên theo người khám phá đầu tiên, có thể kể ra các ví dụ điển hình như định l‎ý Pitago, sao chổi Halley, số Avogardo, định luật Gresham, đồ thị Venn… Nhà xã hội học Robert K. Merton cũng cho biết những người khám phá đầu tiên có vẻ như không bao giờ được ghi nhận. Như vậy, vấn đề ở đây là thứ tự không phải là yếu tố quyết định. Đóng góp của nhà thiên văn học Edmund Halley không nằm ở việc quan sát được sao chổi Halley năm 1682 mà nằm ở việc thừa nhận sao chổi đó với sao chổi được quan sát năm 1531 chỉ là một.

Lợi thế rõ ràng của thuế quan – hướng tới các hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu – là hỗ trợ các nhà sản xuất nội địa đồng thời gây khó khăn cho các nhà sản xuất nước ngoài.

Chủ nghĩa Hiện thực khoa học (Scientific Realism)

Ví dụ, thuế suất của Mỹ đối với các sản phẩm săm lốp của Trung Quốc đã khiến cho săm lốp Trung Quốc nhập khẩu vào Mỹ có giá cao hơn so với hàng nội địa, từ đó mang lại hiệu quả cạnh tranh cao hơn cho các nhà sản xuất săm lốp của Mỹ.

Thuật ngữ này muốn nói tới các quy luật hoặc thuật toán biến các khả năng hành động và quy trình khác xuất hiện trong não thành nhận thức, ‎ý thức, cảm xúc, mục đích và hành động. Mật mã thần kinh được ví như là phần mềm của não bộ.

Lỗi nhận định sai cơ bản (Fundamental Attribution Error)

Khoa học đã phát hiện ra sự tồn tại của proton và protein, neuron và neutrino? Chúng ta cho rằng các hạt chính là sự kích thích của các trường lượng tử và sự thừa hưởng tính cách là do di truyền bởi các gen mã hóa thông tin? Có những người phủ nhận những điều này, và họ chưa chắc đã là những người không hiểu biết gì về khoa học, mà họ chính là tín đồ của chủ nghĩa hiện thực khoa học.

Chủ nghĩa hiện thực khoa học nêu quan điểm rằng, khoa học cần được mở rộng ra thêm và đôi khi chứng minh rằng những quan điểm mà thế giới đã biết (những quan điểm này do con người chúng ta đạt được thông qua các các cơ quan cảm giác) – đều là sai lầm.

Nhà khoa học, triết gia Hy Lạp cổ đại Aristotle cho rằng một viên đá bị chìm khi được thả xuống nước là do sức hút của trọng lực. Ông cho rằng những người có đạo đức sẽ làm như thế này thế kia, do họ có phẩm hạnh tốt; còn những người không cư xử có đạo đức là những người thiếu phẩm hạnh tốt. Tất nhiên không phải mọi thứ đều chìm khi rơi xuống nước. Gỗ nổi trên nước là do có trọng lượng nhẹ.

Nhà viết kịch Molière đã phản bác lại lối tư duy này với lý lẽ về hiện tượng tại sao thuốc phiện lại gây ngủ.

Tâm lý học hiện đại khẳng định rằng lời giải thích về hành vi của con người luôn luôn đòi hỏi phải tham khảo và đối chiếu với tình huống mà người đó tham gia. Nếu không nhận định đúng theo cách thức này thì sẽ được gọi là Lỗi nhận định sai cơ bản.

Loài chó đã đồng hành với con người lâu hơn chúng ta tưởng

Từ lâu, giới khoa học đã đặt nhiều nghi vấn về nguồn gốc của chó nhà bởi còn nhiều chứng cứ mâu thuẫn về địa …

Những phát minh khoa học đột phá của năm 2023

Một số thành tựu và khám phá của các nhà khoa học năm 2023 có vẻ giống chuyện khoa học viễn tưởng, nhưng thật sự …

Biến đổi khí hậu tạo ra những vòi rồng nguy hiểm

Các nghiên cứu về khí hậu cho thấy, điều kiện để vòi rồng xuất hiện chính là do nhiệt độ khí quyển tăng cao.

Thuật Ngữ Y Khoa Việt – Anh

Thuật Ngữ Y Khoa Việt – Anh

Chủ biên: BS. Nguyễn Văn Hùng

Nhà xuất bản y học năm 2014

Quyển sách “THUẬT NGỮ Y KHOA VIỆT – ANH” là một bộ sưu tập về thuật ngữ chuyên ngành y khoa được tác giả dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh, rất thiết thực và hữu ích dành cho tất cả bạn đọc thuộc chuyên ngành y khoa. Trong thực hành ngoại ngữ, việc dịch những thuật ngữ chuyên ngành y từ ngôn ngữ Việt sang ngôn ngữ Anh đã khiến không ít người cảm thấy bối rối. Với mục đích giúp cho các bạn đọc đang học tập hay công tác trong lĩnh vực y học cảm thấy tự tin hơn và vận dụng chuẩn xác những cụm từ thuật ngữ chuyên ngành, Bs. Nguyễn Văn Hùng đã dành hơn mười năm nghiên cứu và cho ra đời bộ sưu tập hơn 20.000 thuật ngữ được dịch từ Việt sang Anh. Hình thức quyển sách trình bày rõ ràng, hệ thống từ được sắp xếp theo dạng thứ tự ABC giúp bạn có thể dễ dàng tra cứu cụm từ cần tìm kiếm

XEM THÊM

Tags: Y HỌC, TIẾNG ANH, Y KHOA, TỪ ĐIỂN, thuật ngữ anh văn hệ mạch vành, từ điển thuật ngữ viết tắt y học anh việt, Sổ Tay Luyện Dịch Tài Liệu Y Khoa, từ điển y khoa anh việt, Tiếng anh y khoa, từ điển thuật ngữ y khoa việt anh , Tiếng anh trong y khoa, thuật ngữ y khoa, thuật ngữ y khoa việt anh, anh van chuyen nganh, Từ điển y khoa Việt Anh, từ điển, nguyễn văn học, anh văn chuyên ngành, sách dịch y khoa, tu dien duoc, Tiếng anh chuyên ngành, thuật ngử y khoa, Thuật Ngữ Y Khoa Việt – Anh, tiếng anh chuyên ngành tu dien