Thuật Ngữ Khoa Học Là Gì / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 6/2023 # Top View | 2atlantic.edu.vn

Thế Nào Là Khoa Học Kỹ Thuật. Phân Biệt Khoa Học Kỹ Thuật Và Khoa Học Công Nghệ

Chủ nhật – 27/07/2008 08:19

Thế nào là Khoa học kỹ thuật. Phân biệt khoa học kỹ thuật và khoa học công nghệ

I. CÁC KHÁI NIỆM. II. THẾ NÀO LÀ CÁCH MẠNG KHOA HỌC KỸ THUẬT. Hệ thống kỹ thuật của mỗi thời kỳ lịch sử quyết định lực lượng sản xuất của thời kỳ đó và tính chất nền văn minh của xã hội đó. Trong thời kỳ Cổ đại và Trung đại đó là nền văn minh nông nghiệp. Ở phương Tây, từ cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX đó là văn minh công nghiệp. Với hệ thống công nghệ đương đại, xã hội loài người tại các nước khoa học và công nghệ phát triển đang chuyển sang một hình thái mới được gọi một cách quy ước là xã hội hậu công nghiệp, Avin Toller gọi là nền văn minh làn sóng thứ ba. Thực chất đó là xã hội thông tin với vai trò chủ đạo của thông tin và trí tuệ. Để có được nền văn minh đó trước tiên phải kể đến vai trò đáng kể của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thế kỷ XX.Thuật ngữ cách mạng khoa học kỹ thuật có nhiều cách viết khác nhau. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến sau những năm 60 thuật ngữ này được viết là cách mạng Khoa học và Kỹ thuật. Đầu những năm 60 là khái niệm cách mạng Khoa học và Công nghệ. Đến năm 70 lại là cách mạng Khoa học – Kỹ thuật. Tuy các khái niệm này khác nhau về cách thức thể hiện nhưng nó đều phản ánh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật diễn ra vào thế kỷ XX.Cách mạng hiểu theo nghĩa thông thường nghĩa là thay cũ, đổi mới với sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn cái cũ, ưu việt hơn cái cũ về chất. Cách mạng khoa học kỹ thuật cũng vậy; đó là một sự thay đổi kỹ thuật cũ bằng một kỹ thuật mới, tiến bộ hơn kỹ thuật cũ từ đó làm cho năng suất lao động tăng lên gấp nhiều lần so với kỹ thuật sản xuất trước đây.Ví dụ: Nếu như trước năm 1947 khi chất bán dẫn chưa được tìm thấy thì đèn điện tử trong các thiết bị điện tử là các đèn điện tử bằng sợi đốt với catốt và anốt rất phức tạp, cồng kềnh và tiêu hao nhiều nhiên liệu cho nên nó chưa được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất. Đến khi khoa học tìm ra chất bán dẫn và năm 1947 ba nhà vật lý ở Bell Laboratories đã phát minh transistor, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu nhỏ mạch phức tạp và từ đó trở đi, các linh kiện bán dẫn đã thay thế các đèn điện tử bằng sợi đốt trước đây. Và một thời gian sau, mạch tổ hợp IC ra đời cho đến nay đã được ứng dụng trong hầu hết các thiết bị điện. Hoặc sự ra đời của công nghệ lade được coi là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của thế kỷ XX. Nó được ứng dụng trong nhiều ngành khoa học và kỹ thuật đặc biệt là trong thông tin.Như vậy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật với nội dung cơ bản là thuyết lượng tử và thuyết tương đối đã mở ra cho khoa học những chân trời mới, bao la đi vào tầng sâu thẳm của cấu trúc vật chất, lao vào cái vô cùng tận của vũ trụ, đi sâu tìm hiểu sự sống ở mức phân tử và cơ chế tư duy. Có thể nói cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ra đời gắn liền với sự ra đời của các phát minh trong các lĩnh vực khác nhau của khoa học kỹ thuật như trong điều khiển học (điều khiển từ xa bằng công nghệ vô tuyến, hồng ngoại¦), di truyền học (phát minh ra cấu trúc xoắn kép AND mang mã di truyền của sự sống năm 1953 của Watson và Crick), thiên văn học (với thuyết BigBang về cấu trúc tiến hóa của vũ trụ, con người đặt chân lên mặt trăng¦), công nghệ sinh học¦v.. v..Tóm lại, cách mạng khoa học kỹ thuật là một bước tiến cao hơn so với cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XIX. Với cuộc cách mạng này thì con người bước sang sang một phương thức sản xuất mới là tự động hóa thay cho cơ khí hóa trước đây. Đó là sự đi tiếp của cách mạng công nghiệp đã loại bỏ yếu tố cơ khí và sử dụng điện từ, con người không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất.III. Phân biệt cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng khoa học công nghệ . Từ những thành tựu khoa học kỹ thuật đầu thế kỷ XX tạo cơ sở cho sự xuất hiện một hệ thống công nghệ mới, kỳ diệu khác hẳn về chất so với hệ thống công nghệ trước đây của cách mạng công nghiệp, tạo ra một cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đã đưa lại cho con người một sức mạnh phi thường, có thể tạo ra những loại vật liệu có tính năng mong muốn, những giống loài thực vật, động vật theo yêu cầu của con người, kể cả những loài không có trong tự nhiên, có khả năng khám phá những nguồn năng lượng khổng lỗ ẩn náu trong hạt nhân nguyên tử, không ngừng tạo ra những kỷ lục mới trong việc chinh phục không gian và thời gian. Và hệ thống công nghệ đó còn rất trẻ và rất sung sức, tiềm năng còn rất lớn, hứa hẹn những thành tựu kỳ diệu hơn nữa trong thế kỷ XXI.Cuộc cách mạng khoa học công nghệ là một giai đoạn phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nó bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 80, 90 của thế kỷ XX. Các thành tựu khoa học và công nghệ kỳ diệu nhất của thế kỷ XX mà con người đạt được là: con người bay vào vũ trụ, sử dụng năng lượng nguyên tử, công nghệ gen, máy tính và mạng internet. Có thể nói rằng cách mạng khoa học công nghệ và cách mạng khoa học kỹ thuật là hai khái niệm có gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhờ có sự phát triển của khoa học kỹ thuật tạo điều kiện cho sự ra đời của công nghệ mới và từ đó lại thúc đẩy các ngành khoa học kỹ thuật phát triển hơn nữa bởi khoa học công nghệ là sự ứng dụng của khoa học kỹ thuật để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, trong hoạt động của con người. Bản thân công nghệ đã chứa đựng trong nó thành phần kỹ thuật; một trong bốn thành phần tạo nên công nghệ. Vì vậy khoa học kỹ thuật phát triển sẽ làm cho khoa học con người phát triển theo.Tóm lại; hai khái niệm cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng khoa học công nghệ đều như nhau bởi vì bản thân chúng là một thể thống nhất không tách rời nhau. Vấn đề là cách hiểu chúng như thế nào. Người ta sử dụng từ cách mạng khoa học kỹ thuật để chỉ cuộc cách mạng từ đầu thế kỷ XX, còn từ cách mạng khoa học công nghệ là chỉ một giai đoạn phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật từ những năm 80, 90 của thế kỷ XX. Cách mạng khoa học công nghệ là một bước tiến của cách mạng khoa học kỹ thuật. 1.1. Khái niệm khoa học.Hiện nay, người ta đề cập đến khái niệm khoa học ở ba khía cạnh sau:+ Khoa học là hệ thống những hiểu biết hoặc tri thức của con người về tự nhiên – xã hội – tư duy, nó tồn tại dưới dạng các lý thuyết, định lý, quy luật, nguyên tắc, phạm trù, tiền đề.+ Khoa học là một hình thái ý thức – xã hội thể hiện tồn tại xã hội trong nội dung, mục đích và các chuẩn mực giá trị, các nguyên lý thế giới quan trong triết học và bức tranh chung về thế giới.+ Khoa học là một dạng hoạt động lao động của con người, nó ra đời trong quá trình chinh phục giới tự nhiên và khoa học giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của con người. Đó là một hình thức hoạt động đặc thù, là hoạt động nhận thức. Nó ra đời chỉ ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử.Từ ba khía cạnh trên, chúng ta có thể định nghĩa, khoa học là hệ thống các kiến thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy dựa trên những phương pháp được xác định để thu nhận kiến thức.1.2. Khái niệm kỹ thuật.Kỹ thuật thông thường được hiểu là toàn bộ các thiết bị, phương tiện, máy móc và công cụ vật chất nằm trong tư liệu sản xuất để quản lý, khai thác, bảo quản và chế tạo các sản phẩm dùng cho sản xuất và thỏa mãn các nhu cầu của đời sống xã hội.1.3. Khái niệm công nghệ.Công nghệ là hệ thống các phương tiện dùng để thực hiện quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho xã hội và con người. Hay nói cách khác, công nghệ là sự ứng dụng của khoa học để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong hoạt động của con người.Công nghệ, theo nghĩa truyền thống được hiểu là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, kỹ thuật, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Công nghệ bao gồm nhiều khâu như : điều tra, nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất thử¦ đến các vấn đề thông tin, tư vấn, đào tạo¦ tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm cuối cùng. Công nghệ cũng chính là bản thân những thao tác khai thác, chế tạo, vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, kiểm tra¦ đó đều là mỗi phần của quá trình sản xuất chung nhằm vào một sản phẩm cuối cùng nhất định.Công nghệ gồm bốn thành phần THIO: thành phần kỹ thuật T (Technoware), thành phần con người H (Humanware), thành phần thông tin I (Inforware) và thành phần tổ chức quản lý O (Orgaware). Bốn thành này có tác động qua lại với nhau và cùng thực hiện bất kỳ quá trình sản xuất và dịch vụ nào.

Tác giả bài viết: Phạm Quang Tùng

2017: Những Thuật Ngữ Khoa Học Cần Được Nghiên Cứu Nhiều Hơn

Trạng thái thần kinh của con người khá đa dạng. Trong đó tự kỷ là một dạng khuyết tật, nhiều người cho rằng đó là hệ quả của sự biến đổi gen. Hiện nay trên thế giới, nhiều người đang kêu gọi không cần thiết phải chữa bệnh tự kỷ bởi đó là một trong các trạng thái tự nhiên của đa dạng thần kinh, do đó cần phải được duy trì.

Lòng vị tha đến từ hai phía (Reciprocal Altruism)

Để xã hội tồn tại và phát triển, mọi cá thể đều phải có lòng vị tha. Mọi người (thậm chí cả các loài động vật) đôi khi vẫn phải tốn nhiều công sức chỉ để mang lại lợi ích cho những người khác, dù có khi họ không phải là người thân thiết.

Những con tinh tinh chăm sóc cho nhau, một biểu hiện của lòng vị tha ở động vật. (Nguồn: Attracmeny.com)

Trên thực tế, lòng vị tha đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên tinh thần tương hỗ giúp nâng cao phúc lợi, khả năng sinh tồn và sức khỏe của con người.

Nguyên lý có tính ảnh hưởng (Effective Theory)

Mọi người có thể không thống nhất ý kiến về nhiều vấn đề mang tính cơ bản và chuyên sâu, nhưng tất cả chúng ta đều tin tưởng rằng khi ngồi trên một chiếc ghế chắc chắn, chúng ta sẽ cảm thấy an tâm hơn, và khi hít thở trên bề mặt Trái Đất nghĩa là chúng ta sẽ đủ có lượng khí oxy cần thiết cho sự sống. Khái niệm này được gọi là Nguyên lý có tính ảnh hưởng.

Tất cả chúng ta đều làm việc dựa trên các nguyên lý có tính ảnh hưởng. Chúng ta tìm kiếm các nội dung mô tả khớp với những gì chúng ta nhìn thấy trên thực tế, và rồi tương tác với chúng.

Nguyên lý có tính ảnh hưởng rất có giá trị khi chúng ta tự hỏi các nguyên lý khoa học được thực hiện như thế nào, và khi chúng ta muốn nhận định một vấn đề là sai hay đúng.

Xu hướng về sự xác nhận (Confirmation Bias) Trí Quyển (The Noosphere)

Lợi ích của Internet là càng nhiều thông tin sẽ giúp bạn đưa ra được các quyết định đúng đắn hơn. Tuy nhiên, nghịch lý cũng nằm ở chỗ càng nhiều thông tin sẽ càng tăng thêm khả năng xác nhận những gì bạn vốn đã tin tưởng từ trước đó.

Trí quyển nằm trong tập hợp các khái niệm nói về các quyển của Trái Đất gồm có sinh quyển, khí quyển, thủy quyển… trong đó bản chất của trí quyển chính là trí tuệ của con người.

Đây là thuật ngữ ra đời từ đầu thế kỷ 20 nhưng sau đó không được sử dụng phổ biến. Tuy nhiên thuật ngữ này cũng cần được lưu tâm.

Khả năng đạt được mục tiêu (Affordance)

Lợi thế so sánh (Comparative Advantage) Mật mã thần kinh (The Neural Code)

Theo nghiên cứu của Stigler, các khám phá khoa học đều không được đặt tên theo người khám phá đầu tiên, có thể kể ra các ví dụ điển hình như định l‎ý Pitago, sao chổi Halley, số Avogardo, định luật Gresham, đồ thị Venn… Nhà xã hội học Robert K. Merton cũng cho biết những người khám phá đầu tiên có vẻ như không bao giờ được ghi nhận. Như vậy, vấn đề ở đây là thứ tự không phải là yếu tố quyết định. Đóng góp của nhà thiên văn học Edmund Halley không nằm ở việc quan sát được sao chổi Halley năm 1682 mà nằm ở việc thừa nhận sao chổi đó với sao chổi được quan sát năm 1531 chỉ là một.

Lợi thế rõ ràng của thuế quan – hướng tới các hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu – là hỗ trợ các nhà sản xuất nội địa đồng thời gây khó khăn cho các nhà sản xuất nước ngoài.

Chủ nghĩa Hiện thực khoa học (Scientific Realism)

Ví dụ, thuế suất của Mỹ đối với các sản phẩm săm lốp của Trung Quốc đã khiến cho săm lốp Trung Quốc nhập khẩu vào Mỹ có giá cao hơn so với hàng nội địa, từ đó mang lại hiệu quả cạnh tranh cao hơn cho các nhà sản xuất săm lốp của Mỹ.

Thuật ngữ này muốn nói tới các quy luật hoặc thuật toán biến các khả năng hành động và quy trình khác xuất hiện trong não thành nhận thức, ‎ý thức, cảm xúc, mục đích và hành động. Mật mã thần kinh được ví như là phần mềm của não bộ.

Lỗi nhận định sai cơ bản (Fundamental Attribution Error)

Khoa học đã phát hiện ra sự tồn tại của proton và protein, neuron và neutrino? Chúng ta cho rằng các hạt chính là sự kích thích của các trường lượng tử và sự thừa hưởng tính cách là do di truyền bởi các gen mã hóa thông tin? Có những người phủ nhận những điều này, và họ chưa chắc đã là những người không hiểu biết gì về khoa học, mà họ chính là tín đồ của chủ nghĩa hiện thực khoa học.

Chủ nghĩa hiện thực khoa học nêu quan điểm rằng, khoa học cần được mở rộng ra thêm và đôi khi chứng minh rằng những quan điểm mà thế giới đã biết (những quan điểm này do con người chúng ta đạt được thông qua các các cơ quan cảm giác) – đều là sai lầm.

Nhà khoa học, triết gia Hy Lạp cổ đại Aristotle cho rằng một viên đá bị chìm khi được thả xuống nước là do sức hút của trọng lực. Ông cho rằng những người có đạo đức sẽ làm như thế này thế kia, do họ có phẩm hạnh tốt; còn những người không cư xử có đạo đức là những người thiếu phẩm hạnh tốt. Tất nhiên không phải mọi thứ đều chìm khi rơi xuống nước. Gỗ nổi trên nước là do có trọng lượng nhẹ.

Nhà viết kịch Molière đã phản bác lại lối tư duy này với lý lẽ về hiện tượng tại sao thuốc phiện lại gây ngủ.

Tâm lý học hiện đại khẳng định rằng lời giải thích về hành vi của con người luôn luôn đòi hỏi phải tham khảo và đối chiếu với tình huống mà người đó tham gia. Nếu không nhận định đúng theo cách thức này thì sẽ được gọi là Lỗi nhận định sai cơ bản.

Loài chó đã đồng hành với con người lâu hơn chúng ta tưởng

Từ lâu, giới khoa học đã đặt nhiều nghi vấn về nguồn gốc của chó nhà bởi còn nhiều chứng cứ mâu thuẫn về địa …

Những phát minh khoa học đột phá của năm 2016

Một số thành tựu và khám phá của các nhà khoa học năm 2016 có vẻ giống chuyện khoa học viễn tưởng, nhưng thật sự …

Biến đổi khí hậu tạo ra những vòi rồng nguy hiểm

Các nghiên cứu về khí hậu cho thấy, điều kiện để vòi rồng xuất hiện chính là do nhiệt độ khí quyển tăng cao.

1.Ngôn Ngữ Khoa Học Là Gì? Văn Bản Khoa Học Gồm Mấy Loại? 2.Đặc Trưng

Lời giải của Tự Học 365

Giải chi tiết:

1.*Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là trong các văn bản khoa học.

*Văn bản khoa học gồm ba loại chính: các văn bản khoa học chuyên sâu, các văn bản khoa học giáo khoa, các văn bản khoa học phổ cập.

2.Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ khoa học

*Tính khái quát, trừu tượng

-Đặc trưng này biểu hiện không chỉ ở nội dung khoa học mà cả ở các phương tiện ngôn ngữ, trước hết là các thuật ngữ khoa học.

-Trong văn bản khoa học có sử dụng một số lượng lớn các thuật ngữ khoa học thuộc về lớp từ vựng khoa học chuyên ngành, không giống với từ ngữ thông thường được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày.

-Tính khái quát, trừu tượng của phong cách ngôn ngữ khoa học còn thể hiện ở kết cấu của văn bản. Kết cấu đó phục vụ cho hệ thống các luận điểm khoa học từ lớn đến nhỏ, từ cấp độ cao đến cấp độ thấp, từ khái quát đến cụ thể (hoặc ngược lại).

*Tính lí trí, logic

-Từ ngữ trong các văn bản khoa học phần lớn là những từ ngữ thông thường, nhưng chỉ dùng được với một nghĩa. Trong văn bản khoa học, người ta không dùng từ đa nghĩa, không dùng từ theo nghĩa bóng và ít dùng các phép tu từ.

-Câu văn trong văn bản khoa học là một đơn vị thông tin, đơn vị phán đoán logic. Mỗi câu thường tương đương với một phán đoán logic, nghĩa là được xây dựng từ hai khái niệm khoa học trở lên theo một quan hệ nhất định. Câu văn trong văn bản khoa học yêu cầu chính xác, chặt chẽ, logic.

-Tính lí trí, logic cũng thể hiện ở việc cấu tạo đoạn văn, văn bản. Các câu, các đoạn trong văn bản phải được liên kết chặt chẽ và mạch lạc. Mối liên hệ giữa các câu, các đoạn, các phần phục vụ cho lập luận khoa học. Toàn bộ văn bản khoa học cũng thể hiện một lập luận logic, từ khâu đặt vấn đề, giải quyết vấn đề đến khâu kết luận.

*Tính khách quan, phi cá thể

-Nét phổ biến của ngôn ngữ khoa học là sử dụng ngôn ngữ khách quan, phi cá thể.

-Ngôn ngữ trong văn bản khoa học, đặc biệt là văn bản khoa học chuyên sâu, văn bản khoa học giáo khoa, rất hạn chế sử dụng những biểu đạt có tính chất cá nhân.

Cdt: Hiện Nay Thuật Ngữ Nha Khoa

CDT có nghĩa là gì? CDT là viết tắt của Hiện nay thuật ngữ Nha khoa. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Hiện nay thuật ngữ Nha khoa, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Hiện nay thuật ngữ Nha khoa trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của CDT được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài CDT, Hiện nay thuật ngữ Nha khoa có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

CDT = Hiện nay thuật ngữ Nha khoa

Tìm kiếm định nghĩa chung của CDT? CDT có nghĩa là Hiện nay thuật ngữ Nha khoa. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của CDT trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của CDT bằng tiếng Anh: Hiện nay thuật ngữ Nha khoa. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

Như đã đề cập ở trên, CDT được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Hiện nay thuật ngữ Nha khoa. Trang này là tất cả về từ viết tắt của CDT và ý nghĩa của nó là Hiện nay thuật ngữ Nha khoa. Xin lưu ý rằng Hiện nay thuật ngữ Nha khoa không phải là ý nghĩa duy chỉ của CDT. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của CDT, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của CDT từng cái một.

Ý nghĩa khác của CDT

Bên cạnh Hiện nay thuật ngữ Nha khoa, CDT có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của CDT, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Hiện nay thuật ngữ Nha khoa bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Hiện nay thuật ngữ Nha khoa bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.