Phương Pháp Vnen Là Gì / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | 2atlantic.edu.vn

Cháy Nhà Ra Mặt “Phương Pháp Vnen”

LTS: Tiếp theo bài Cây kim trong “bọc” VNEN đã lòi ra, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam xin giới thiệu phần 2 trong bài viết của thầy Đạt Nguyễn trao đổi xung quanh Báo cáo Đánh giá tác động VNEN được cho là “của Ngân hàng Thế giới”.

Xin có đôi điều nêu rõ về góc độ phương pháp của VNEN như sau.

Với chiếc áo khoác hiện đại có tên là “phương pháp học tập tích cực và hợp tác”, các vị cổ suý mô hình VNEN (hay phương pháp VNEN) đã mộng tưởng:

Đây sẽ là “phương thuốc bách bệnh” cho giáo dục phổ thông Việt Nam ở mọi cấp học, mọi địa phương và tất cả đối tượng học sinh.

Sự thật là:

(i) “Phương pháp học tập tích cực và hợp tác” nêu trong báo cáo đánh giá tác động VNEN được dịch từ “Participating and collaborating learning”.

Đây là phương pháp tổ chức việc học theo hướng người học và cha mẹ học sinh (hay những thành phần liên quan khác; ví dụ, người sử dụng lao động) có thể tham gia (participate) vào quá trình xây dựng nội dung, mục tiêu của chương trình đào tạo/giáo dục;

Và trong quá trình thực hiện, có sự hợp tác (collaborate) giữa các thành phần tham gia, trong đó hợp tác giữa người học và người dạy, và người học với người học được đề cao.

Phương pháp tiếp cận này thường được áp dụng đối với các chương trình đào tạo nghề ở các nước tiên tiến;

(ii) Trong các tài liệu tập huấn chính thức của mô hình VNEN không sử dụng thuật ngữ này, mà chỉ có tên gọi “phương pháp học tập hợp tác”.

Tên gọi này thường được diễn giải như một hình thức/phương pháp tổ chức học tập/hoạt động nhóm theo kiểu VNEN – trong đó, sự thành bại chủ yếu được đặt trên khả năng của học sinh làm nhóm trưởng;

(iii) Do đó, cách dịch “phương pháp học tập tích cực và hợp tác” không làm rõ ý nghĩa nội hàm của thuật ngữ gốc, ngoài việc cố ý nhấn mạnh yếu tố tích cực của phương pháp chủ đạo trong mô hình VNEN.

(iv) Mô hình Trường học mới (EN) tại Colombia được nhìn nhận là một thành công và tác giả của nó, bà Vicky, được tôn vinh là hoàn toàn xứng đáng.

Vì trải qua thời gian gần 3 thập kỉ (từ năm 1970), bà Vicky và cộng sự đã tiến hành nghiêm túc và thận trọng một công trình thực nghiệm sư phạm.

Các tác giả mô hình này đã vận dụng phù hợp các lí thuyết giáo dục hiện đại vào điều kiện và hoàn cảnh kinh tế, xã hội của đối tượng trẻ em cụ thể.

Đó là trẻ em thất học ở vùng chuyên canh cây cà phê ở Colombia, một đất nước thuộc châu Mĩ La tinh mà đến nay trẻ em vẫn còn là nạn nhân của xung đột vũ trang, tội phạm có tổ chức.

Nhưng thành công của EN tại Colombia hoàn toàn không thể là một bảo đảm cho sự tốt đẹp của VNEN.

Với cung cách tiếp nhận vội vàng và triển khai rầm rộ trên quy mô lớn mà chưa hề có sự nghiên cứu cẩn trọng về các điều kiện “cần và đủ” như VNEN đã làm, thì có khác gì với việc mượn toa thuốc của thiên hạ đem về trị bệnh cho con cái nhà mình.

Chẳng phải đây là việc làm mà các chuyên gia ngành y tế luôn phản đối và lên án đấy sao?

Điều thứ hai, theo Tiến sĩ Phùng Đức Tùng, cần có nghiên cứu chỉ ra rằng, giáo viên cần đáp ứng những kỹ năng mềm nào để có thể dạy theo mô hình VNEN.

Để đưa mô hình VNEN vào thực hiện, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức tập huấn giáo viên theo hai cấp (tập huấn cho cán bộ các sở, rồi các cán bộ này về tập huấn cho các giáo viên) có thể dẫn đến các sai sót nhất định.

Do vậy, cần có đánh giá lại về quá trình tập huấn và khả năng đáp ứng của giáo viên trong các trường thuộc Dự án.

Đọc lại Báo cáo đánh giá tác động VNEN về nội dung Tập huấn (trang 76, 77 và 78), tôi thấy một cách nhìn rất khác với nhận định nêu trên.

Xin trích đoạn một phần để dẫn chứng:

“Việc tập huấn giáo viên để họ có thể giảng dạy bằng phương pháp sư phạm VNEN là một yếu tố đầu vào quan trọng của VNEN. (…) Tất cả các giáo viên tiểu học ở Việt Nam tham gia hai tuần tập huấn vào mùa hè, đây là đợt tập huấn ban đầu về VNEN đối với hầu hết giáo viên. Một hạn chế của mô hình “đào tạo các tập huấn viên” thông thường là không đảm bảo được tính chính xác ban đầu, để khắc phục điều này, giáo viên đã tham gia vào tất cả các cấp tập huấn. Thử nghiệm VNEN quy mô nhỏ trước đây tại 6 tỉnh đã giúp một số giáo viên có kinh nghiệm với phương pháp EN. Những giáo viên có kĩ năng và nhiệt huyết nhất đã tham gia vào đội ngũ tập huấn viên. Đợt tập huấn được tổ chức chồng lên nhau sao cho có thể tập huấn được hàng chục ngàn giáo viên trong vòng một vài tuần mùa hè. Ba khía cạnh của viêc tập huấn có vai trò quan trọng liên quan tới tác động của chương trình, bao gồm: (i) Tập huấn theo quan điểm cho rằng để có một chương trình tâp huấn hiệu quả thì bản thân thời gian diễn ra sự kiện tập huấn chỉ chiếm một phần nhỏ. Theo đó, giáo viên đã nhận được tất cả các tài liệu tập huấn ít nhất 2 tuần trước khi khoá tập huấn bắt đầu và tham dự khoá tập huấn khi đa được chuẩn bị; (ii) Sự kiện tập huấn bao gồm việc thực hiện thực tế ở các lớp học VNEN chứ không phải lắng nghe các bài giảng về VNEN – và học viên đã thảo luận một cách tích cực về hành vi họ dự định sẽ tái tạo trên lớp học; (iii) Tập trung vào giáo viên với tư cách là các tập huấn viên, có nghĩa là một số giáo viên có nhiều cơ hội để tham gia tập huấn trong năm học.(…) Là một phần thuộc triết lí đào tạo của VNEN, ngoài 2 tuần tập huấn chuẩn bị vào đầu năm học, chương trình cũng cung cấp hoạt động phát triển chuyên môn được duy trì liên tục trong suốt năm học.”

Cứ theo nội dung báo cáo này thì mọi việc đã được tiên liệu, phòng ngừa trước và công việc tập huấn đã diễn ra với triết lí mới, theo phương thức mới và đã rất thành công;

Vì báo cáo nói giáo viên “đã thảo luận một cách tích cực về những hành vi họ dự định sẽ tái tạo trên lớp học”.

Hơn nữa, giáo viên không chỉ tham gia tập huấn trong hè mà còn dự các kì sinh hoạt chuyên môn theo cấp cụm trường trong suốt năm học để phát triển chuyên môn.

Vậy, so với nhận định trên, có phải đánh giá kết quả tập huấn như thế để cho xứng đáng với phần kinh phí khá lớn mà dự án VNEN đã tiêu tốn cho công tác tập huấn?

Về các kĩ năng mềm cần thiết đối với giáo viên, trong tất cả các tài liệu tập huấn giáo viên về VNEN, không hề có câu nào nhắc đến yêu cầu này.

Tài liệu tập huấn VNEN chỉ nhấn mạnh đến việc hình thành cho học sinh – nhất là các nhóm trưởng, các kĩ năng của thế kỉ 21 như lãnh đạo, điều hành, ra quyết định,…

Vậy, nếu giáo viên không có những kĩ năng này thì việc huấn luyện cho học sinh trong mô hình VNEN mấy năm nay chỉ là việc nói cho vui thôi sao?

Và trong thực tế, theo một nhận xét vui của biên tập viên đài VTV trong chương trình Vấn đề hôm nay với chủ đề “VNEN hay không?” thì một số học sinh (có chức sắc) trong lớp VNEN dường như có thể thể hiện một số bản lĩnh như các MC (người dẫn chương trình).

Vậy không lẽ chúng ta thực sự mong muốn mọi học sinh đều có những kĩ năng của người dẫn chương trình? Hay là những kĩ năng của người dân chương trình đã là đủ cho các kĩ năng thế kỉ 21?

Cũng theo Tiến sĩ Phùng Đức Tùng, điều thứ ba là:

“Phải có nghiên cứu đánh giá lại sách giáo khoa, sau đó chỉnh lý và hoàn thiện bởi vì sách giáo khoa trong chương trình VNEN được xây dựng trong thời gian tương đối ngắn và chưa có nghiên cứu, rà soát và lấy ý kiến sửa đổi từ các giáo viên đang dạy mô hình này.”

Tôi tán thành nhận định này ở chỗ cần nghiên cứu đánh giá lại vì sách giáo khoa (?!) của chương trình VNEN đã được xây dựng rất vội vàng.

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là, tại sao chưa rà soát và lấy ý kiến sửa đổi từ các giáo viên đang dạy mô hình này mà các lần tái bản sách đều ghi là có sửa chữa, điều chỉnh?

Nhưng cá nhân tôi không tán thành ý tưởng tiếp tục duy trì một bộ sách 3 trong 1 theo kiểu VNEN.

Một lần nữa, xin nêu lại nhận xét của mình đã trình bày về Tài liệu hướng dẫn học tập của VNEN (trong bài viết “Vì sao giáo viên không chấp nhận VNEN, tiếng nói người trong cuộc”).

Chính tài liệu này là nguyên nhân của sự “cứng nhắc rập khuôn” vì học sinh cần phải tuần tự theo các hoạt động quy định trong sách để thực hiện các bước tự học theo kiểu VNEN.

Nếu không, học sinh mua tài liệu này liệu có ích gì cho việc tự học?

Việc giáo viên thay đổi thứ tự hoặc loại hình hoạt động của các hoạt động học tập quy định trong tài liệu nhất định sẽ gây rối cho cả lớp và cản trở quá trình tự học theo nhịp riêng của học sinh như mong muốn của mô hình VNEN.

Còn nếu như “Giáo viên phải nghĩ ra các trò chơi tình huống nào khiến học sinh nắm được kiến thức cơ bản và vận dụng vào trong các trò chơi đó” theo gợi ý của Tiến sĩ Tùng, thì tốt hơn là giáo viên tự soạn lấy giáo án để tổ chức tiết học một cách “chủ đạo thực sự”.

Lúc ấy, học sinh sẽ không cần đến Tài liệu hướng dẫn học mà chỉ cần sách giáo khoa hiện hành.

Và chính sự tồn tại các loại tài liệu học tập của VNEN cùng lợi nhuận khủng khiếp của nó đã góp phần lớn vào việc kéo dài mô hình VNEN đầy tai tiếng hiện nay.

Tôi phân vân, liệu trong một vài năm nữa, khi chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai, và nếu Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện nghiêm túc, minh bạch chủ trương của Quốc hội về việc “một chương trình, nhiều sách giáo khoa”, các loại tài liệu 3 trong 1 kiểu VNEN có nhanh chóng đi vào dĩ vãng?

Cuối cùng, dù sao, cũng rất cảm ơn Tiến sĩ Phùng Đức Tùng đã giúp làm “lòi cây kim trong bọc”.

Phương Pháp Dha Chữa Bệnh Lậu Là Phương Pháp Gì?

Phương pháp DHA chữa bệnh lậu là phương pháp gì? Hiện đang là câu hỏi được rất nhiều bệnh nhân quan tâm. Vậy phương pháp DHA chữa bệnh lậu là phương pháp gì? Có phải là phương pháp tốt nhất không?

Phương pháp DHA là phương pháp gì?

  Phương pháp DHA chữa bệnh lậu là phương pháp đẩy lùi bệnh lậu hiệu quả nhất hiện nay, được nhiều các phòng khám chuyên khoa áp dụng. Tuy nhiên, phương pháp này là phương pháp gì? Mang lại hiệu quả như thế nào? Vẫn là vấn đề được rất nhiều người quan tâm. Để giải thích rõ hơn về vấn đề này trước hết chúng ta cần phải hiểu rõ được bệnh lậu là gì? Cách điều trị bệnh lậu như thế nào?

 Bệnh lậu là một trong những bệnh xã hội do virus có tên là Neisseria gonorrhoeae gây ra. Bệnh lây truyền từ người này qua người khác thông qua đường miệng, bộ phận sinh dục hoặc hậu môn. Bệnh lậu thường gây nên các triệu chứng ở cơ quan sinh dục của người bệnh như âm đạo, cổ tử cung, hậu môn,… Ngoài ra, còn dễ dàng phát triển ở một số bộ phận khác của cơ thể như: mắt, miệng, họng,…

 Bệnh lậu thể hiện ở hai giai đoạn là cấp tính và mãn tính, tuy nhiên ở nam giới 90% thường biểu hiện rõ rệt nhất ở giai đoạn cấp tính, còn 70% nữ giới chỉ có triệu chứng khi đã chuyển sang giai đoạn mãn tính. Bệnh có thời gian ủ bệnh khá ngắn trong khoảng từ 2 – 6 ngày từ ngày nhiễm phải virus lậu, các biểu hiện sẽ rõ rệt hơn sau khi vi khuẩn đã lớn mạnh với các triệu chứng như:

 Tiểu buốt, dắt, cảm giác đau châm chích ở đường niệu đạo.

 Nước tiểu có mùi hôi tanh, có lẫn mủ hoặc máu.

 Lỗ niệu đạo sưng tấy, cảm giác ngứa và đau rát, chảy dịch vào ban đêm.

 Đi tiểu nhiều vào buổi sáng.

 Bệnh lậu ở nữ giới chỉ biểu hiện ở giai đoạn mãn tính, một số ít biểu hiện triệu chứng cấp tính như tiểu buốt, tiểu dắt, nóng râm ran âm đạo và niệu đạo, đau bụng dưới, ra nhiều khí hư kèm theo mùi hôi, chảy mủ âm đạo đôi khi có lẫn máu.

  Triệu chứng của bệnh lậu sẽ khác nhau phụ thuộc vào mức độ, cơ địa, sức khỏe và thể trạng ở mỗi người.

Áp dụng phương pháp DHA vào việc chữa bệnh lậu

 Hiện nay, phương pháp DHA chữa bệnh lậu là phương pháp điều trị bệnh lậu được các chuyên gia đầu ngành đánh giá cao vì có khả năng định tính, định lượng, xác định đúng mầm mống bệnh và tiêu diệt virus gây bệnh. Đồng thời, đây là phương pháp giúp nâng cao hệ miễn dịch trong cơ thể và mang lại kết quả điều trị bệnh tối ưu nhất.

Áp dụng phương pháp DHA trong việc chữa trị bệnh lậu

 Phương pháp DHA là phương pháp kỹ thuật phục hồi gene DHA, đây là phương pháp được xem là kỹ thuật tiên tiến trên thế giới hiện nay đem lại hiệu quả cao trong việc điều trị cũng như ngăn ngừa bệnh lậu tái phát. Phương pháp này được các nhà khoa học đánh giá cao về độ an toàn và tính hiệu quả, khắc phục được các nhược điểm của liệu pháp điều trị truyền thống.

 Để có được kết quả tốt nhất khi thực hiện phương pháp DHA điều trị bệnh lậu, người bệnh nên đến thăm khám và điều trị tại các phòng khám uy tín, chất lượng như Phòng khám Đa Khoa Phượng Đỏ.

 ✽ Quy trình điều trị lậu bằng phương pháp DHA được tiến hành như sau:

 - Sử dụng kỹ thuật kiểm tra gene hiện đại để chẩn đoán đa phương diện đối với bệnh lậu, qua đó có thể phát hiện được nhanh và chính xác bệnh lậu, giúp điều trị bệnh sớm nhất.

 - Tiến hành phân tích định tính, định lượng và định vị chính xác khoa học vùng bị bệnh. Đồng thời xác định các loại lậu cầu khuẩn, xác định hoạt tính, mức độ xâm hại cũng như độ nhạy cảm thuốc, phát hiện biến thể của lậu cầu khuẩn…Qua đó giúp cho việc điều trị đi đúng hướng và toàn diện, không bị bỏ sót.

 - Dựa vào vào đặc trưng của lậu cầu khuẩn cũng như các biến thể lậu cầu khuẩn để tiến hành phá vỡ các nguyên thể DNA mang bệnh, ức chế trao đổi chuỗi gene ở tế bào lậu cầu khuẩn, tiêu diệt tận gốc lậu cầu khuẩn, ngăn chặn nguy cơ bệnh tái phát.

 - Cho người bệnh dùng thuốc kết hợp để tiêu diệt toàn diện các loại vi khuẩn, bài trừ độc tố, phục hồi tế bào bị thương tổn, điều tiết môi trường cơ thể, nuôi dưỡng và tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể giúp người bệnh nhanh chóng phục hồi.

  Ưu điểm của phương pháp DHA điều trị bệnh lậu:

  ✔ An toàn, không tác dụng phụ và hạn chế tối đa tình trạng tái phát.

  ✔ Điều trị bệnh trong thời gian ngắn, không gây ảnh hưởng đến công việc.

  ✔ Không cần mổ, không đốt điện, không đặt ống nội soi, không đau và không cần nằm viện.

 Theo các chuyên gia đầu ngành cho biết, địa chỉ chữa bệnh lậu tốt nhất cần đáp ứng đủ các tiêu chí về đội ngũ y bác sĩ, cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị của phòng khám.

Phòng khám Đa Khoa Phượng Đỏ là một trong các cơ sở thăm khám và điều trị uy tín, được các bệnh nhân đánh giá cao trong phương pháp cũng như kỹ thuật điều trị. Là địa chỉ chuyên thăm khám và điều trị các bệnh xã hội đặc biệt là điều trị bệnh lậu, sùi mào gà, bệnh giang mai, mụn rộp sinh dục,…

 Tiêu chí của Phòng khám Đa Khoa Phượng Đỏ:

  Đội ngũ y bác sĩ tại phòng khám Đa Khoa Phượng Đỏ đều có chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm trong việc điều trị bệnh lậu.

  ➠ Cơ sở vật chất tại phòng khám khang trang, luôn được đầu tư trang thiết bị, phương pháp, kỹ thuật hiện đại vào việc thăm khám và chữa trị bệnh lậu.

  ➠ Quy trình khám chữa bệnh chuyên nghiệp, an toàn và khoa học, không làm mất thời gian của người bệnh.

  ➠ Mọi chi phí thăm khám đều được niêm yết công khai, minh bạch theo đúng quy định của Sở Y tế Hải Phòng.

  ➠ Thông tin bệnh nhân hoàn toàn được bảo mật để tránh được tâm lý e ngại của bệnh nhân. Có đội ngũ chuyên gia tư vấn trực tiếp 24/24.

Vào website: chúng tôi , bấm vào khung tư vấn ở góc bên phải màn hình.

Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

Phương pháp biện chứng và ph­ương pháp siêu hình

Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện t­ợng của thế giới xung quanh ta tồn tại nh­ thế nào?

Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nh­ng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình.

*. Ph­ương pháp siêu hình

– Nhận thức đối t­ợng trong trạng thái cô lập, tách rời đối t­ợng khỏi các chỉnh thể khác; giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

– Nhận thức đối t­ợng trong trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự biến đổi về số lượng và nguyên nhân biến đổi nằm ở bên ngoài sự vật.

Nh­ư vậy, phư­ơng pháp siêu hình là ph­ơng pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại với một t­ duy cứng nhắc, “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại..mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh.. mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng”.(Sđd, t.20, tr.37).

*. Ph­ương pháp biện chứng

– Nhận thức đối tư­ợng trong trạng thái liên hệ với nhau, ảnh h­ởng lẫn nhau và ràng buộc lẫn nhau.

– Nhận thức đối t­ượng trong trạng thái vận động, biến đổi và phát triển; đó là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện t­ợng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn bên trong của chúng.

Như­ vậy, ph­ương pháp biện chứng là phư­ơng pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt, “không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh..mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng”.

Phư­ơng pháp biện chứng đã phát triển trải qua ba giai đoạn và đ­ợc thể hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.

– Trong phép biện chứng tự phát thời cổ đại, các nhà biện chứng cả ph­ơng Đông và phương Tây đã thấy các sự vật, hiện t­ợng trong vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận. Nh­ng đó mới chỉ là cái nhìn trực quan, ch­a phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

– Trong phép biện chứng duy tâm, mà đỉnh cao là triết học cổ điển Đức (ng­ời khởi x­ớng là Cantơ và ng­ời hoàn thiện là Hêghen), lần đầu tiên trong lịch sử t­ duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của ph­ơng pháp biện chứng. Nh­ng đó là phép biện chứng duy tâm, bởi nó bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần; thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm tuyệt đối.

– Trong phép biện chứng duy vật, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển d­ới hình thức hoàn bị nhất.

Chương Trình Giáo Dục Vnen Là Gì?

Chương trình giáo dục VNEN là gì? Chương trình giáo dục VNEN là mô hình trường học mới khởi nguồn từ Côlômbia từ những năm 1995-2000 để dạy học trong những lớp ghép ở vùng miền núi khó khăn, theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm.

Dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam (Dự án GPE-VNEN, Global Partnership for Education – VNEN viết tắt của từ Viet Nam Escuela Nueva) là một Dự án về sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam.

Mô hình trường học mới khởi nguồn từ Côlômbia từ những năm 1995-2000 để dạy học trong những lớp ghép ở vùng miền núi khó khăn, theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm. Mô hình này vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy – học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lí lớp học, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy – học…

Hoạt động học của học sinh được coi là trung tâm của quá trình dạy học.

Giáo viên với vai trò là người hướng dẫn học, quan tâm đến sự khác biệt trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh.

Việc đánh giá học sinh thường xuyên theo quá trình học tập nhằm kiểm tra và hướng dẫn phương pháp học tập có hiệu quả – phương pháp học tập là một yêu cầu quan trọng.

Phải xây dựng môi trường học tập cởi mở, thân thiện, hiệu quả.

Sách giáo khoa gọi là tài liệu hướng dẫn học được thiết kế cho học sinh hoạt động, tự học, học nhóm; sách biên soạn cho 3 trong 1, nghĩa là sách dùng chung cho cả giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh.

Hoạt động học tập của học sinh không đóng khung trong bốn bức tường lớp học, mà phải giúp học sinh “vận dụng” và “tìm tòi, mở rộng” ra bên ngoài. Đây là các hoạt động giao cho học sinh thực hiện ở ngoài lớp học, giáo viên không tổ chức dạy học hoàn toàn trên lớp.

Nội dung các hoạt động này trong tài liệu hướng dẫn học chỉ là những yêu cầu, định hướng và gợi ý về phương pháp thực hiện, mô tả sản phẩm học tập phải hoàn thành… để học sinh tự phát hiện, lựa chọn tình huống thực tiễn nhằm vận dụng kiến thức – kỹ năng đã học được trong bài học; tìm tòi mở rộng thêm theo sở thích, sở trường, hứng thú của mình. Còn giáo viên có vị trí mới, được bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao trình độ tác nghiệp, đáp ứng vai trò là người hướng dẫn, tổ chức hoạt động học tập, giáo dục, đánh giá học sinh và phối hợp với cha mẹ học sinh, với cộng đồng. Nên nhà trường phải thiết lập mối liên hệ chặt chẽ với cha mẹ học sinh và cộng đồng.

Những nhược điểm của mô hình VNEN

+ Số lượng học sinh trong lớp quá đông không thể áp dụng vì không có không gian. Số lượng thích hợp từ 25 đến 30 em, nhiều trường hiện nay có lớp trên 40 em.

+ Phụ huynh sẽ mang thêm gánh nặng về kinh phí, mua sách, tham gia xây dựng các công cụ hỗ trợ cho hội đồng tự quản, đồ dùng dạy và học… ở những vùng nghèo phụ huynh khó đáp ứng được.

+ Học sinh tiểu học còn nhỏ khó tự quản được cách học nhóm (nhận xét, đánh giá, báo cáo…). Học sinh lớp 2, 3 khó có thể điều khiển lớp học như một giáo viên. Những cộng việc này ngay đến học sinh THCS cũng khó thực hiện tại sao lại ép học sinh tiểu học thực hiện.

+ Để học được theo mô hình VNEN thì học sinh phải chuẩn bị bài ở nhà. Vậy ngoài việc học 7 tiết ở trường thì về nhà mỗi ngày học sinh cũng dành khoảng 2-3 giờ để chuẩn bị bài. Điều này trái với qui định không giao bài về nhà cho học sinh và ảnh hưởng đến việc sinh hoạt khác.

+ Khi tổ chức ngồi học theo nhóm các em quay mặt vào nhau. Nhưng khi cô giáo giảng bài hay khi các bạn trình bày trên bảng thì một số em quay đầu nhìn lên ở một tư thế khó khăn. Có thể gây bệnh về cột sống cho học sinh.

+ Khi dạy và học theo VNEN các bước đi quá rập khuôn, máy móc, từ việc giáo viên ghi bảng, trình bày, tổ chức học sinh, còn học sinh chỉ hoạt động những thao tác rất giống nhau đây cũng là điều đáng lo ngại.

+ Khi dạy học mô hình VNEN giáo viên giao việc học tập cho các nhóm, hoạt động giữa các nhóm không hoàn toàn đồng bộ, sẽ có những học sinh yếu kém, trong khi đó giáo viên lại mất nhiều thời gian kiểm tra trong nhóm, không có đủ điều kiện để theo dõi hết các hoạt động của các em, như thế sẽ khó hướng dẫn thêm cho những học sinh yếu. Chỉ có một hai học sinh trong lớp là tích cực hoạt động và hiểu được bài. Còn các em thụ động, nhút nhát thì khó nắm bắt được bài.

+ Khi dạy học mô hình VNEN học sinh tự do chạy đến góc này, chạy sang góc kia, trao đổi một cách tự do, thoải mái trong giờ học không phải ngồi ngay ngắn, im lặng răm rắp hướng về phía giáo viên. Nhưng điều này sẽ tạo một không khí lớp ồn ào, khó kiểm soát, ảnh hưởng đến các nhóm khác và giáo viên khó nắm bắt được các em có làm việc đúng với nhiệm vụ mình ra hay không?

+ Để dạy học theo mô hình VNEN thì cần phải có Bộ tài liệu. Học sinh không học theo bộ sách giáo khoa hiện hành mà theo bộ sách được biên soạn lại. Bộ tài liệu này được coi là “3 trong 1” khi cả học sinh, giáo viên và phụ huynh đều có thể dùng làm tài liệu học tập và giảng dạy. Nếu không có Bộ tài liệu này thì nhà trường không thể dạy học theo mô hình trường học kiểu mới VNEN.

Chương trình giáo dục VNEN được áp dụng từ khi nào?

Dự án mô hình trường học mới VNEN bắt đầu triển khai từ năm học 2011-2012. Đến nay nhiều địa phương đã xin dừng mở rộng chương trình này vì có nhiều bất cập trong giảng dạy và học tập.

Cấu trúc bài học mô hình VNEN:

+ Mô hình VNEN giữ nguyên nội dung, chuẩn kiến thức, kĩ năng theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các môn học được tích hợp và giúp hỗ trợ nhau trong việc giáo dục học sinh, các môn học được chuyển thành hoạt động giáo dục đã làm giảm bớt gánh nặng trong học tập cho các em.

+ Bài học mô hình VNEN được cấu trúc theo một đơn vị kiến thức hoàn chỉnh, nhằm giải quyết trọn vẹn, liên tục một vấn đề: hình thành, củng cố, vận dụng, ứng dụng kiến thức vào thực tế.

+ Bắt đầu của mỗi hoạt động đều có một hình vẽ (logo) cùng với những “lệnh” thực hiện để học sinh dễ dàng nhận ra yêu cầu và các hình thức tổ chức thực hiện hoạt động học tập (học cá nhân, theo cặp, nhóm nhỏ hoặc toàn lớp). Thiết kế của tài liệu rất tiện cho giáo viên và học sinh trong hoạt dộng dạy và học. Đa số kênh hình và kênh chữ rõ ràng giúp học sinh dễ hiểu, giúp học sinh tiếp cận bài một cách dễ dàng.

Đánh giá học sinh:

Đánh giá kết quả học tập các môn học và hoạt động giáo dục theo Chuẩn kiến thức kĩ năng trong chương trình cấp tiểu học và các năng lực cần thiết được hình thành qua mô hình trường học mới: tự học; làm việc cá nhân; làm việc theo nhóm; giao tiếp; vận dụng kiến thức vào cuộc sống; chia sẻ; hợp tác; tự đánh giá; đánh giá kết quả học tập của bạn; thực hiện các hoạt động theo mô hình VNEN. Đánh giá được tiến hành:

+ Đánh giá thường xuyên được tiến hành theo tiến trình bài học và các hoạt động giáo dục hàng ngày bằng hình thức nhận xét.

+ Đối tượng tham gia đánh giá kết quả học tập của mỗi học sinh gồm: học sinh tự đánh giá, bạn đánh giá, phụ huynh đánh giá, giáo viên đánh giá.

+ Thực hiện chương trình VNEN mở ra cơ hội để sự phối hợp nhà trường với các đoàn thể, giữa giáo viên với phụ huynh và cộng đồng xã hội. Phụ huynh trực tiếp tham gia giáo dục con em mình, trực tiếp tham gia đánh giá con em mình thông qua việc thực hành kĩ năng của con em.