Cháy Nhà Ra Mặt “Phương Pháp Vnen”

LTS: Tiếp theo bài Cây kim trong “bọc” VNEN đã lòi ra, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam xin giới thiệu phần 2 trong bài viết của thầy Đạt Nguyễn trao đổi xung quanh Báo cáo Đánh giá tác động VNEN được cho là “của Ngân hàng Thế giới”.

Xin có đôi điều nêu rõ về góc độ phương pháp của VNEN như sau.

Với chiếc áo khoác hiện đại có tên là “phương pháp học tập tích cực và hợp tác”, các vị cổ suý mô hình VNEN (hay phương pháp VNEN) đã mộng tưởng:

Đây sẽ là “phương thuốc bách bệnh” cho giáo dục phổ thông Việt Nam ở mọi cấp học, mọi địa phương và tất cả đối tượng học sinh.

Sự thật là:

(i) “Phương pháp học tập tích cực và hợp tác” nêu trong báo cáo đánh giá tác động VNEN được dịch từ “Participating and collaborating learning”.

Đây là phương pháp tổ chức việc học theo hướng người học và cha mẹ học sinh (hay những thành phần liên quan khác; ví dụ, người sử dụng lao động) có thể tham gia (participate) vào quá trình xây dựng nội dung, mục tiêu của chương trình đào tạo/giáo dục;

Và trong quá trình thực hiện, có sự hợp tác (collaborate) giữa các thành phần tham gia, trong đó hợp tác giữa người học và người dạy, và người học với người học được đề cao.

Phương pháp tiếp cận này thường được áp dụng đối với các chương trình đào tạo nghề ở các nước tiên tiến;

(ii) Trong các tài liệu tập huấn chính thức của mô hình VNEN không sử dụng thuật ngữ này, mà chỉ có tên gọi “phương pháp học tập hợp tác”.

Tên gọi này thường được diễn giải như một hình thức/phương pháp tổ chức học tập/hoạt động nhóm theo kiểu VNEN – trong đó, sự thành bại chủ yếu được đặt trên khả năng của học sinh làm nhóm trưởng;

(iii) Do đó, cách dịch “phương pháp học tập tích cực và hợp tác” không làm rõ ý nghĩa nội hàm của thuật ngữ gốc, ngoài việc cố ý nhấn mạnh yếu tố tích cực của phương pháp chủ đạo trong mô hình VNEN.

(iv) Mô hình Trường học mới (EN) tại Colombia được nhìn nhận là một thành công và tác giả của nó, bà Vicky, được tôn vinh là hoàn toàn xứng đáng.

Vì trải qua thời gian gần 3 thập kỉ (từ năm 1970), bà Vicky và cộng sự đã tiến hành nghiêm túc và thận trọng một công trình thực nghiệm sư phạm.

Các tác giả mô hình này đã vận dụng phù hợp các lí thuyết giáo dục hiện đại vào điều kiện và hoàn cảnh kinh tế, xã hội của đối tượng trẻ em cụ thể.

Đó là trẻ em thất học ở vùng chuyên canh cây cà phê ở Colombia, một đất nước thuộc châu Mĩ La tinh mà đến nay trẻ em vẫn còn là nạn nhân của xung đột vũ trang, tội phạm có tổ chức.

Nhưng thành công của EN tại Colombia hoàn toàn không thể là một bảo đảm cho sự tốt đẹp của VNEN.

Với cung cách tiếp nhận vội vàng và triển khai rầm rộ trên quy mô lớn mà chưa hề có sự nghiên cứu cẩn trọng về các điều kiện “cần và đủ” như VNEN đã làm, thì có khác gì với việc mượn toa thuốc của thiên hạ đem về trị bệnh cho con cái nhà mình.

Chẳng phải đây là việc làm mà các chuyên gia ngành y tế luôn phản đối và lên án đấy sao?

Điều thứ hai, theo Tiến sĩ Phùng Đức Tùng, cần có nghiên cứu chỉ ra rằng, giáo viên cần đáp ứng những kỹ năng mềm nào để có thể dạy theo mô hình VNEN.

Để đưa mô hình VNEN vào thực hiện, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức tập huấn giáo viên theo hai cấp (tập huấn cho cán bộ các sở, rồi các cán bộ này về tập huấn cho các giáo viên) có thể dẫn đến các sai sót nhất định.

Do vậy, cần có đánh giá lại về quá trình tập huấn và khả năng đáp ứng của giáo viên trong các trường thuộc Dự án.

Đọc lại Báo cáo đánh giá tác động VNEN về nội dung Tập huấn (trang 76, 77 và 78), tôi thấy một cách nhìn rất khác với nhận định nêu trên.

Xin trích đoạn một phần để dẫn chứng:

“Việc tập huấn giáo viên để họ có thể giảng dạy bằng phương pháp sư phạm VNEN là một yếu tố đầu vào quan trọng của VNEN. (…) Tất cả các giáo viên tiểu học ở Việt Nam tham gia hai tuần tập huấn vào mùa hè, đây là đợt tập huấn ban đầu về VNEN đối với hầu hết giáo viên. Một hạn chế của mô hình “đào tạo các tập huấn viên” thông thường là không đảm bảo được tính chính xác ban đầu, để khắc phục điều này, giáo viên đã tham gia vào tất cả các cấp tập huấn. Thử nghiệm VNEN quy mô nhỏ trước đây tại 6 tỉnh đã giúp một số giáo viên có kinh nghiệm với phương pháp EN. Những giáo viên có kĩ năng và nhiệt huyết nhất đã tham gia vào đội ngũ tập huấn viên. Đợt tập huấn được tổ chức chồng lên nhau sao cho có thể tập huấn được hàng chục ngàn giáo viên trong vòng một vài tuần mùa hè. Ba khía cạnh của viêc tập huấn có vai trò quan trọng liên quan tới tác động của chương trình, bao gồm: (i) Tập huấn theo quan điểm cho rằng để có một chương trình tâp huấn hiệu quả thì bản thân thời gian diễn ra sự kiện tập huấn chỉ chiếm một phần nhỏ. Theo đó, giáo viên đã nhận được tất cả các tài liệu tập huấn ít nhất 2 tuần trước khi khoá tập huấn bắt đầu và tham dự khoá tập huấn khi đa được chuẩn bị; (ii) Sự kiện tập huấn bao gồm việc thực hiện thực tế ở các lớp học VNEN chứ không phải lắng nghe các bài giảng về VNEN – và học viên đã thảo luận một cách tích cực về hành vi họ dự định sẽ tái tạo trên lớp học; (iii) Tập trung vào giáo viên với tư cách là các tập huấn viên, có nghĩa là một số giáo viên có nhiều cơ hội để tham gia tập huấn trong năm học.(…) Là một phần thuộc triết lí đào tạo của VNEN, ngoài 2 tuần tập huấn chuẩn bị vào đầu năm học, chương trình cũng cung cấp hoạt động phát triển chuyên môn được duy trì liên tục trong suốt năm học.”

Cứ theo nội dung báo cáo này thì mọi việc đã được tiên liệu, phòng ngừa trước và công việc tập huấn đã diễn ra với triết lí mới, theo phương thức mới và đã rất thành công;

Vì báo cáo nói giáo viên “đã thảo luận một cách tích cực về những hành vi họ dự định sẽ tái tạo trên lớp học”.

Hơn nữa, giáo viên không chỉ tham gia tập huấn trong hè mà còn dự các kì sinh hoạt chuyên môn theo cấp cụm trường trong suốt năm học để phát triển chuyên môn.

Vậy, so với nhận định trên, có phải đánh giá kết quả tập huấn như thế để cho xứng đáng với phần kinh phí khá lớn mà dự án VNEN đã tiêu tốn cho công tác tập huấn?

Về các kĩ năng mềm cần thiết đối với giáo viên, trong tất cả các tài liệu tập huấn giáo viên về VNEN, không hề có câu nào nhắc đến yêu cầu này.

Tài liệu tập huấn VNEN chỉ nhấn mạnh đến việc hình thành cho học sinh – nhất là các nhóm trưởng, các kĩ năng của thế kỉ 21 như lãnh đạo, điều hành, ra quyết định,…

Vậy, nếu giáo viên không có những kĩ năng này thì việc huấn luyện cho học sinh trong mô hình VNEN mấy năm nay chỉ là việc nói cho vui thôi sao?

Và trong thực tế, theo một nhận xét vui của biên tập viên đài VTV trong chương trình Vấn đề hôm nay với chủ đề “VNEN hay không?” thì một số học sinh (có chức sắc) trong lớp VNEN dường như có thể thể hiện một số bản lĩnh như các MC (người dẫn chương trình).

Vậy không lẽ chúng ta thực sự mong muốn mọi học sinh đều có những kĩ năng của người dẫn chương trình? Hay là những kĩ năng của người dân chương trình đã là đủ cho các kĩ năng thế kỉ 21?

Cũng theo Tiến sĩ Phùng Đức Tùng, điều thứ ba là:

“Phải có nghiên cứu đánh giá lại sách giáo khoa, sau đó chỉnh lý và hoàn thiện bởi vì sách giáo khoa trong chương trình VNEN được xây dựng trong thời gian tương đối ngắn và chưa có nghiên cứu, rà soát và lấy ý kiến sửa đổi từ các giáo viên đang dạy mô hình này.”

Tôi tán thành nhận định này ở chỗ cần nghiên cứu đánh giá lại vì sách giáo khoa (?!) của chương trình VNEN đã được xây dựng rất vội vàng.

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là, tại sao chưa rà soát và lấy ý kiến sửa đổi từ các giáo viên đang dạy mô hình này mà các lần tái bản sách đều ghi là có sửa chữa, điều chỉnh?

Nhưng cá nhân tôi không tán thành ý tưởng tiếp tục duy trì một bộ sách 3 trong 1 theo kiểu VNEN.

Một lần nữa, xin nêu lại nhận xét của mình đã trình bày về Tài liệu hướng dẫn học tập của VNEN (trong bài viết “Vì sao giáo viên không chấp nhận VNEN, tiếng nói người trong cuộc”).

Chính tài liệu này là nguyên nhân của sự “cứng nhắc rập khuôn” vì học sinh cần phải tuần tự theo các hoạt động quy định trong sách để thực hiện các bước tự học theo kiểu VNEN.

Nếu không, học sinh mua tài liệu này liệu có ích gì cho việc tự học?

Việc giáo viên thay đổi thứ tự hoặc loại hình hoạt động của các hoạt động học tập quy định trong tài liệu nhất định sẽ gây rối cho cả lớp và cản trở quá trình tự học theo nhịp riêng của học sinh như mong muốn của mô hình VNEN.

Còn nếu như “Giáo viên phải nghĩ ra các trò chơi tình huống nào khiến học sinh nắm được kiến thức cơ bản và vận dụng vào trong các trò chơi đó” theo gợi ý của Tiến sĩ Tùng, thì tốt hơn là giáo viên tự soạn lấy giáo án để tổ chức tiết học một cách “chủ đạo thực sự”.

Lúc ấy, học sinh sẽ không cần đến Tài liệu hướng dẫn học mà chỉ cần sách giáo khoa hiện hành.

Và chính sự tồn tại các loại tài liệu học tập của VNEN cùng lợi nhuận khủng khiếp của nó đã góp phần lớn vào việc kéo dài mô hình VNEN đầy tai tiếng hiện nay.

Tôi phân vân, liệu trong một vài năm nữa, khi chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai, và nếu Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện nghiêm túc, minh bạch chủ trương của Quốc hội về việc “một chương trình, nhiều sách giáo khoa”, các loại tài liệu 3 trong 1 kiểu VNEN có nhanh chóng đi vào dĩ vãng?

Cuối cùng, dù sao, cũng rất cảm ơn Tiến sĩ Phùng Đức Tùng đã giúp làm “lòi cây kim trong bọc”.

Phương Pháp Dạy Học Theo Mô Hình Vnen

GD&TĐ – Phương pháp dạy học theo mô hình VNEN là cách dạy hướng tới việc học tập chủ động. Mô hình VNEN đòi hỏi phát huy tính tích cực của cả người dạy và người học. Thực chất phương pháp này đòi hỏi người dạy phải phát huy tính tích cực chủ động của người học.

Giáo viên phải là người phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh

Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh

Nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động chủ động, thông qua các hành động có ý thức. Trí tuệ của trẻ được phát triển nhờ sự “đối thoại” giữa chủ thể với đối tượng và môi trường.

Trong mô hình VNEN, học sinh – chủ thể của hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa biết chứ không phải là thụ động tiếp thu những tri thức đã được sắp đặt sẵn.

Dạy học theo mô hình VNEN xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.

Trong xã hội đang biến đổi nhanh, với sự bùng nổ thông tin, khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão thì việc dạy phương pháp học phải được quan tâm ngay từ đầu bậc tiểu học và càng lên bậc cao hơn càng được coi trọng.

Đây là bước hữu hiệu để chuẩn bị cho lớp người kế tục thích ứng với xã hội học tập, trong đó mỗi người phải có năng lực học tập liên tục, suốt đời.

Trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động thuần tuý cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy- trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường đi tới những tri thức mới.

Việc học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp nhưng được sử dụng phổ biến nhất trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người.

Hoạt động trong tập thể nhóm sẽ làm cho từng thành viên được bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết thái độ của mình, qua đó đựơc tập thể uốn nắn, điều chỉnh, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỉ luật, tinh thần tuơng trợ, ý thức cộng đồng.

Hoạt động trong tập thể nhóm, tập thể lớp sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội, hiệu quả học tập sẽ tăng lên nhất là phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành một nhiệm vụ xác định.

Trong hoạt động hợp tác, mục tiêu hoạt động là chung của toàn nhóm nhưng mỗi cá nhân được phân công một nhiệm vụ cụ thể. Trong nhóm nhỏ, mỗi cá nhân đều phải nỗ lực, không thể ỷ lại vào người khác, toàn nhóm phải phối hợp với nhau để cuối cùng đạt mục tiêu chung.

Mô hình trường học mới Việt Nam đưa vào đời sống học đường có tác dụng chuẩn bị cho học sinh thích ứng với đời sống xã hội, trong đó mỗi người sống và làm việc theo sự phân công hợp tác với tập thể cộng đồng.

Trong xu hướng toàn cầu hoá, xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia thì năng lực hợp tác thực sự trở thành một mục tiêu đào tạo của giáo dục nhà trường.

Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trong mô hình VNEN, việc rèn luyện phương pháp học để chuẩn bị cho học sinh khả năng học tập liên tục, suốt đời được xem như một mục tiêu giáo dục thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển khả năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học.

Theo hướng phát triển của mô hình VNEN là để đào tạo ra những con người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, hoà nhập và góp phần phát triển cộng đồng thì việc kiểm tra phải khuyến khích trí thông minh, sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ và xu hướng hành vi của học sinh trước những vấn đề của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng; rèn luyện cho các em khả năng phát hiện và vận dụng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong các tình huống thực tế. Việc đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ có tác dụng thúc đẩy sự đổi mới phương pháp dạy học.

Tóm lại, trong phương pháp dạy học theo mô hình VNEN, người được giáo dục trở thành người tự giáo dục, là nhân vật tự giác, chủ động có ý thức về sự giáo dục bản thân mình.

Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học. Nếu rèn luyện cho học sinh có được phương pháp, kĩ năng, thói quen tự học, biết vận dụng linh hoạt những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn thì sẽ tạo cho các em lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có của các em. Vì những lẽ đó, mô hình VNEN nhấn mạnh dạy phương pháp học trong quá trình dạy học, cố gắng tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động.

Phương Pháp Biện Chứng Là Gì? Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

Phương pháp biện chứng phản ánh “biện chứng khách quan” trong sự vận động, phát triển của thế giới. Lý luận triết học của phương pháp đó được gọi là “phép biện chứng”.

Phương pháp siêu hình là phương pháp:

– Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

– Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại. Nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng.

Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”.

Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thứcnnó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định.

Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

2.1. Phương pháp biện chứng là phương pháp:

– Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.

– Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.

Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là…” còn có cả cái “vừa là… vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau.

Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.

2.2. Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng:

Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã qua ba giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử của nó: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.

Các nhà biện chứng cả phương Đông lẫn phương Tây thời kỳ này đã thấy các sự vật, hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận.

Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng hồi đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện trong triết học cổ điển Đức, người khởi đầu là và người hoàn thiện là Hêghen.

Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng.

Song theo họ biện chứng ở đây bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm.

Phép biện chứng duy vật được thể hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin phát triển.

C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

Tagged biện chứng, phương pháp biện chứng, phương pháp siêu hình, siêu hình

Phương Pháp Dha Chữa Bệnh Lậu Là Phương Pháp Gì?

Phương pháp DHA chữa bệnh lậu là phương pháp gì? Hiện đang là câu hỏi được rất nhiều bệnh nhân quan tâm. Vậy phương pháp DHA chữa bệnh lậu là phương pháp gì? Có phải là phương pháp tốt nhất không?

Phương pháp DHA là phương pháp gì?

  Phương pháp DHA chữa bệnh lậu là phương pháp đẩy lùi bệnh lậu hiệu quả nhất hiện nay, được nhiều các phòng khám chuyên khoa áp dụng. Tuy nhiên, phương pháp này là phương pháp gì? Mang lại hiệu quả như thế nào? Vẫn là vấn đề được rất nhiều người quan tâm. Để giải thích rõ hơn về vấn đề này trước hết chúng ta cần phải hiểu rõ được bệnh lậu là gì? Cách điều trị bệnh lậu như thế nào?

 Bệnh lậu là một trong những bệnh xã hội do virus có tên là Neisseria gonorrhoeae gây ra. Bệnh lây truyền từ người này qua người khác thông qua đường miệng, bộ phận sinh dục hoặc hậu môn. Bệnh lậu thường gây nên các triệu chứng ở cơ quan sinh dục của người bệnh như âm đạo, cổ tử cung, hậu môn,… Ngoài ra, còn dễ dàng phát triển ở một số bộ phận khác của cơ thể như: mắt, miệng, họng,…

 Bệnh lậu thể hiện ở hai giai đoạn là cấp tính và mãn tính, tuy nhiên ở nam giới 90% thường biểu hiện rõ rệt nhất ở giai đoạn cấp tính, còn 70% nữ giới chỉ có triệu chứng khi đã chuyển sang giai đoạn mãn tính. Bệnh có thời gian ủ bệnh khá ngắn trong khoảng từ 2 – 6 ngày từ ngày nhiễm phải virus lậu, các biểu hiện sẽ rõ rệt hơn sau khi vi khuẩn đã lớn mạnh với các triệu chứng như:

 Tiểu buốt, dắt, cảm giác đau châm chích ở đường niệu đạo.

 Nước tiểu có mùi hôi tanh, có lẫn mủ hoặc máu.

 Lỗ niệu đạo sưng tấy, cảm giác ngứa và đau rát, chảy dịch vào ban đêm.

 Đi tiểu nhiều vào buổi sáng.

 Bệnh lậu ở nữ giới chỉ biểu hiện ở giai đoạn mãn tính, một số ít biểu hiện triệu chứng cấp tính như tiểu buốt, tiểu dắt, nóng râm ran âm đạo và niệu đạo, đau bụng dưới, ra nhiều khí hư kèm theo mùi hôi, chảy mủ âm đạo đôi khi có lẫn máu.

  Triệu chứng của bệnh lậu sẽ khác nhau phụ thuộc vào mức độ, cơ địa, sức khỏe và thể trạng ở mỗi người.

Áp dụng phương pháp DHA vào việc chữa bệnh lậu

 Hiện nay, phương pháp DHA chữa bệnh lậu là phương pháp điều trị bệnh lậu được các chuyên gia đầu ngành đánh giá cao vì có khả năng định tính, định lượng, xác định đúng mầm mống bệnh và tiêu diệt virus gây bệnh. Đồng thời, đây là phương pháp giúp nâng cao hệ miễn dịch trong cơ thể và mang lại kết quả điều trị bệnh tối ưu nhất.

Áp dụng phương pháp DHA trong việc chữa trị bệnh lậu

 Phương pháp DHA là phương pháp kỹ thuật phục hồi gene DHA, đây là phương pháp được xem là kỹ thuật tiên tiến trên thế giới hiện nay đem lại hiệu quả cao trong việc điều trị cũng như ngăn ngừa bệnh lậu tái phát. Phương pháp này được các nhà khoa học đánh giá cao về độ an toàn và tính hiệu quả, khắc phục được các nhược điểm của liệu pháp điều trị truyền thống.

 Để có được kết quả tốt nhất khi thực hiện phương pháp DHA điều trị bệnh lậu, người bệnh nên đến thăm khám và điều trị tại các phòng khám uy tín, chất lượng như Phòng khám Đa Khoa Phượng Đỏ.

 ✽ Quy trình điều trị lậu bằng phương pháp DHA được tiến hành như sau:

 - Sử dụng kỹ thuật kiểm tra gene hiện đại để chẩn đoán đa phương diện đối với bệnh lậu, qua đó có thể phát hiện được nhanh và chính xác bệnh lậu, giúp điều trị bệnh sớm nhất.

 - Tiến hành phân tích định tính, định lượng và định vị chính xác khoa học vùng bị bệnh. Đồng thời xác định các loại lậu cầu khuẩn, xác định hoạt tính, mức độ xâm hại cũng như độ nhạy cảm thuốc, phát hiện biến thể của lậu cầu khuẩn…Qua đó giúp cho việc điều trị đi đúng hướng và toàn diện, không bị bỏ sót.

 - Dựa vào vào đặc trưng của lậu cầu khuẩn cũng như các biến thể lậu cầu khuẩn để tiến hành phá vỡ các nguyên thể DNA mang bệnh, ức chế trao đổi chuỗi gene ở tế bào lậu cầu khuẩn, tiêu diệt tận gốc lậu cầu khuẩn, ngăn chặn nguy cơ bệnh tái phát.

 - Cho người bệnh dùng thuốc kết hợp để tiêu diệt toàn diện các loại vi khuẩn, bài trừ độc tố, phục hồi tế bào bị thương tổn, điều tiết môi trường cơ thể, nuôi dưỡng và tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể giúp người bệnh nhanh chóng phục hồi.

  Ưu điểm của phương pháp DHA điều trị bệnh lậu:

  ✔ An toàn, không tác dụng phụ và hạn chế tối đa tình trạng tái phát.

  ✔ Điều trị bệnh trong thời gian ngắn, không gây ảnh hưởng đến công việc.

  ✔ Không cần mổ, không đốt điện, không đặt ống nội soi, không đau và không cần nằm viện.

 Theo các chuyên gia đầu ngành cho biết, địa chỉ chữa bệnh lậu tốt nhất cần đáp ứng đủ các tiêu chí về đội ngũ y bác sĩ, cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị của phòng khám.

Phòng khám Đa Khoa Phượng Đỏ là một trong các cơ sở thăm khám và điều trị uy tín, được các bệnh nhân đánh giá cao trong phương pháp cũng như kỹ thuật điều trị. Là địa chỉ chuyên thăm khám và điều trị các bệnh xã hội đặc biệt là điều trị bệnh lậu, sùi mào gà, bệnh giang mai, mụn rộp sinh dục,…

 Tiêu chí của Phòng khám Đa Khoa Phượng Đỏ:

  Đội ngũ y bác sĩ tại phòng khám Đa Khoa Phượng Đỏ đều có chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm trong việc điều trị bệnh lậu.

  ➠ Cơ sở vật chất tại phòng khám khang trang, luôn được đầu tư trang thiết bị, phương pháp, kỹ thuật hiện đại vào việc thăm khám và chữa trị bệnh lậu.

  ➠ Quy trình khám chữa bệnh chuyên nghiệp, an toàn và khoa học, không làm mất thời gian của người bệnh.

  ➠ Mọi chi phí thăm khám đều được niêm yết công khai, minh bạch theo đúng quy định của Sở Y tế Hải Phòng.

  ➠ Thông tin bệnh nhân hoàn toàn được bảo mật để tránh được tâm lý e ngại của bệnh nhân. Có đội ngũ chuyên gia tư vấn trực tiếp 24/24.

Vào website: chúng tôi , bấm vào khung tư vấn ở góc bên phải màn hình.

Tìm Hiểu Phương Pháp 5S Là Gì? Phương Pháp Kaizen Là Gì?

Nhật Bản là đất nước nổi tiếng vốn được biết đến xứ sở của những người làm việc nghiêm túc và mang lại năng suất cao. Họ rất tự hào khi có hàng nghìn phương pháp làm việc được đánh giá là cực kì hiệu quả. Trong số đó phương pháp Kaizen và phương pháp 5s. Vậy phương pháp 5s là gì? Phương pháp Kaizen là gì? Áp dụng thế nào là đúng?

1. Phương pháp Kaizen là gì? Các phương pháp triển khai Kaizen hiệu quả 1.1 Phương pháp Kaizen là gì?

Kaizen là gì? Thuật ngữ Kaizen được ra đời sau chiến tranh thế giới thứ 2. Trong tiếng Nhật, Kaizen được ghép từ hai chữ “kai” tạm dịch là thay đổi và “zen” được hiểu là tốt hơn. Vậy phương pháp Kaizen được hiểu là “thay đổi để mà tốt hơn” hoặc “cải tiến liên tục”.

Trong từng lĩnh vực, trong từng ngữ cảnh, phương pháp Kaizen được hiểu theo từng ý nghĩa cụ thể khác nhau. Trong kinh doanh, phương pháp Kaizen là gì? Nó là sự tích lũy từ tiểu thành đại. Trong sản xuất, Kaizen được hiểu là sự cải tiến làm việc của từng thành viên trong dây chuyền sản xuất để tăng năng suất và phát triển hơn.

Vậy tạm hiểu phương pháp Kaizen là gì? Là trong tất cả các lĩnh vực, mọi thành viên dù ở đâu hay làm gì cũng đều phải nỗ lực để cải tiến liên tục để đạt được kết quả tốt nhất.

1.2 Làm thế nào để thực hiện phương pháp Kaizen?

Theo Kaizen, sự sáng tạo của con người được xem là vô hạn. Và sau khi thấm nhuần được phương pháp Kaizen là gì này, có 3 phương pháp chính để có thể ứng dụng Kaizen.

Quy tắc 5s: Giúp môi trường làm việc sạch sẽ, khoa học và hiệu quả.

Phương pháp JIT: Đầy đủ là Just In Time. Được hiểu là xây dựng thói quen đúng hạn trong khâu kiểm soát hàng tồn kho và sản xuất tránh tình trạng lãng phí diễn ra. Toyota là ví dụ tiên phong của phương pháp này.

PDAC: nghĩa là Plan, Doing, Check và Act, giúp xây dựng quy trình làm việc tối ưu và hiệu quả hơn.

2. Tiêu chuẩn 5s là gì? Ý nghĩa phương pháp 5s và triển khai quy trình 5s như thế nào? 2.1 Tiêu chuẩn 5s hay quy tắc 5s là gì?

Quy tắc 5s hay tiêu chuẩn 5s là một phương pháp tiêu biểu nhất của triết lý Kaizen. Quy tắc 5s được xây dựng trên nguyên tắc nếu bạn được làm việc trong một môi trường sạch sẽ, gọn gàng, lành mạnh thì năng suất, hiệu quả công việc sẽ cao hơn.

5s ra đời từ 5 chữ cái “s” đầu tiên của các từ trong tiếng Nhật là Seiri ( Sàng lọc), Seiton ( Sắp xếp), Seiso (Sạch sẽ), Seiketsu ( Săn sóc), Shitsuke ( Sẵn sàng).

Sau khi loại bỏ thứ không cần thiết, những vật dụng còn lại cần được sắp xếp một cách có khoa học để có thể dễ dàng tìm thấy, dễ dàng lấy đi và trả lại chỗ cũ. Quá trình này cần nghiêm túc thực hiện và duy trì.

Được hiểu là giữ vệ sinh không gian làm việc thật sạch sẽ để tạo ra môi trường gọn gàng, thoáng đãng nhất. Quy trình sạch sẽ cần được thực hiện định kì.

Săn sóc ở đây là việc luôn đảm bảo duy trì 3s ở trên luôn được thực hiện. S4 ra đời để hoàn thiện các quy tắc khác và đảm bảo hiệu quả năng suất công việc luôn được giữ vững.

Đây là sự kỉ luật. Những quy tắc trên được đưa vô thành nế nếp, như một thói quen tự giác và nghiêm túc thực hiện để đảm bảo mọi thứ luôn sẵn sáng bắt đầu.

2.2 Ý nghĩa của phương pháp 5s

Phương pháp 5s hay quy tắc 5s không phải dễ dàng mà hình thành khi không hiểu được ý nghĩa to lớn mà nó mang lại. Có thể việc được rèn luyện, được thường xuyên áp dụng đã mang lại những đức tính tốt đẹp của nhiều người dân Nhật. Một trong số đó phải kể đến tỉ mỉ, sạch sẽ, kiên trì.

Cùng xem những ý nghĩa của phương pháp 5s

Thông qua việc tạo ra một môi trường làm việc sạch sẽ, thông thoáng cho nhân viên có thể thấy phương pháp 5s giúp cho sức khỏe luôn được đảm bảo, luôn được quan tâm. Đồng thời quy trình làm việc luôn được kiểm soát, đảm bảo an toàn và hạn chế rủi ro.

Việc kiểm soát được chỉ những vật dụng cần thiết xuất hiện trong môi trường làm việc giúp tránh được tình trạng lãng phí. Bên cạnh đó phương pháp 5s còn giúp giảm thiểu các chi phí hoạt động, giảm số lượng người làm việc không cần thiết giúp doanh nghiệp tiết kiệm được rất nhiều chi phí.

Sự gọn gàng, ngăn nắp trong môi trường làm việc rất quan trọng. Con người có thể dễ dàng rút ngắn thời gian làm việc cũng như thời gian vận chuyển để đạt hiệu quả công việc cao hơn với quy tắc hay phương pháp 5s.

Không phân biệt cấp bậc cao thấp, tất cả cùng đồng lòng thực hiện phương pháp 5s giúp cho họ gần gũi nhau hơn. Cùng nhau hướng tới một mục tiêu là lợi ích của tổ chức, của công ty khiến tính đoàn kết gắn bó ngày càng vững mạnh.

2.3 Quy trình triển khai phương pháp 5s

Không cần quan tâm mô hình lớn nhỏ của tổ chức, công ty như thế nào, nếu đã hiểu được ý nghĩa của phương pháp 5s mang lại hãy cố gắng áp dụng sớm nhất có thể.

Phổ biến chi tiết quy tắc phương pháp 5s trong toàn thể cán bộ nhân viên để nắm rõ và có thể thực hiện.

Sau khi đã loại bỏ các vật dụng không cần thiết tiến hành sắp xếp bố trí sao cho thuận tiện nhất quá trình làm việc. Trên nguyên tắc là cái gì hay dùng nên để gần và ít dùng thì để dần ra xa. Hãy phác thảo cách bố trí để thỏa thuận và cùng ghi nhớ. Điều này giúp cho quá trình luôn được duy trì.

Không nên đợi dơ bẩn thì mới vệ sinh. Điều này chỉ khiến mất thời gian lại ảnh hưởng đến sức khỏe. Tất cả mọi người trong tổ chức có thể thống nhất thời gian dành ra mỗi ngày để tiến hành vệ sinh nơi làm việc.

Tạo dựng quy trình này như một thói quen đồng thời đưa ra chế độ thưởng phạt để hình thành kỉ luật trong tổ chức. Thường xuyên tổ chức đánh giá định kì để chắc chắn tổ chức vẫn đang duy trì tốt quy tắc 5s này.

Việc hiểu rõ phương pháp 5s là gì? Kaizen là gì? Cũng như ý nghĩa và phương pháp thực hiện giúp bạn có thể ứng dụng nhiều điều vào cuộc sống. Phương pháp Kaizen, quy tắc 5s hay tiêu chuẩn 5s không chỉ áp dụng riêng cho tổ chức công ty. Ngay cả trong đời sống hằng ngày nếu bạn tạo dựng được thói quen tốt này sẽ hình thành những đức tính tốt đẹp cho bản thân.