Nhân Sinh Vô Thập Toàn Là Gì / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | 2atlantic.edu.vn

Thế Nào Là Nhân Vô Thập Toàn ?

Mình chắc hẳn đa phần trong số các bạn đã từng hỏi câu Nhân Vô Thập Toàn là gì? Và các bạn cũng đã tìm hiểu ý nghĩa của nó. Có phải ý nghĩa của nó là: “con người ta không ai là hoàn hảo, là hoàn toàn không có khiếm khuyết cả nhân vô thập toàn, ai mà chẳng có khiếm khuyết!”

Đã bao giờ các bạn thắc mắc thật sự ý nghĩa của “Thập” ở đây nghĩa là gì không? Mình vốn là người hiếu kỳ, nên luôn tìm hiểu sâu sắc căn nguyên của sự vật sự việc. Một hôm, mình được biết đến tri thức về “10 Đức – Pa Ra Mi (tiếng Phạn) – Ba Là Mật (tiếng Việt)”. Mình xin chia sẻ với các bạn cụ thể hơn:

– Đức tính biểu hiện chính là sự hiểu biết đúng đắn, nhận định chân chính, suy luận vô tư, không luyến ái cũng không ghét bỏ. Không ưa thích cũng không oán giận.

– Buông Xả ở đây cũng không phải là lạnh lùng, lãnh đạm, không màng thé sự, … Trong mọi hoàn cảnh, hãy giữ Tâm như Đất. Cũng như trên Đất, ta có thể buông bỏ bất cứ thứ gì, dẫu chua, ngọt, sạch, dơ … Đất vẫn thản nhiên, vô tư, không giận không thương.

– Mọi thứ gì của quá khứ, của ngày hôm qua thì hãy cứ cho qua đi, đừng tiếc nuối nó nữa. Mình xin chia sẻ với bạn 1 điều về quy luật của cơ thể: cứ sau 6 tháng, toàn bộ thân thể này được thay thế hoàn toàn. Bởi vì, chất tạo nên cơ thể bạn, mà ngày mai thì chất lại thay đổi do những thứ ta ăn, những khí ta hít thở … Sự thay đổi luôn hiện diện một cách hiển nhiên, cho nên hãy rèn luyện Buông Bỏ.

– Giới: là hàng rào ngăn cấm những việc xấu của thân, khẩu, ý. Cơ bản có 5 giới.

– Ngũ giới là năm giới, năm điều khuyến khích, phải giữ của người Phật tử tại gia. Sở dĩ đức Phật đặt ra năm giới, vì Ngài mong muốn cho người Phật tử tại gia hưởng được quả báo tốt đẹp. Người Phật tử không thể chỉ thọ Tam Quy mà không trì Ngũ Giới.

– Người đã quy y là đã bước một nấc thang đầu tiên, nếu không giữ giới có nghĩa là dừng lại tại đó, không tiến bước tới nữa. Năm giới này không những để tiến bước trên đường giải thoát, mà còn đem lại trật tự, an vui, hòa bình cho gia đình, xã hội.

– Trí tuệ là hiểu biết rõ ràng, đúng đắn, sâu sắc.

+ Trí tuệ đến từ việc nghe lời dạy của người khác: Xưa kia, chưa có sách vỡ nên đi học là đến nghe lời thầy giảng dạy rồi ghi nhớ nằm lòng.

+ Trí tuệ đến từ việc Thiền tập.

Hai loại Trí Tuệ đầu chỉ mang kiến thức trong phạm vi luận lý của thế gian. Nhờ Thiền tập, ta có thể ngộ ra được những chân lý vượt ra ngoài phạm vi của lý trí.

– Tinh Tấn có mối liên hệ mật thiết với Trí Tuệ, là biểu hiện của sự kiên trì cố gắng, giữ vững Nghị Lực, quyết tâm hoàn thành mục tiêu đến cuối cùng.

– Tinh Tấn ở đây không phải là năng lực vật chất, mặc dù sức mạnh vật chất cũng là một điểm lợi. Tinh tấn là một loại năng lực tinh thần, sức khỏe tâm linh, là sự nổ lực không ngừng, tình trạng chuyên cần, tích cực của tâm nhằm mục đích phục vụ người khác.

– Biểu hiện năng lực của sự Tha Thứ.

– Nếu bạn không Tha Thứ bạn sẽ sa lầy vào nó, và điều này lại cản trở bạn. Nó giống như là việc bạn uống thuốc độc hằng ngày mà lại mong cho thằng hàng xóm nó chết vậy.

– Bạn không có quyền Tha Thứ, người bạn cần Tha Thứ ở đây chính là bản thân bạn. Hãy luôn mang trong lòng Bao Dung vì những thứ mà bạn cho đi chính là những thứ bạn nhận lại.

6/ Quyết Tâm – Quyết Định

– Năng lượng vượt qua sự trở ngại.

– Nghĩa là giữ tròn lời hứa, luôn hành động theo lời nói và nói theo hành động, luôn luôn dung hòa tư tưởng, lời nói và việc làm.

– Mọi sự vững vàng đều dựa trên nền tảng của Sự Thật.

– Năng lực của tình Yêu Thương, biểu hiện của sự hiền lành, hảo tâm, từ ái và tình huynh đệ.

– Tình yêu thương ở đây không phải sự trìu mến riêng một người nào, cũng không phải sự luyến ái xác thịt.

– Kẻ thù của Từ Bi chính là lòng oán hận, gián tiếp là lòng trìu mến luyến ái. Vì Trìu mến sinh ra lo sợ và phiền muộn. Ngược lại, Từ Bi lại sinh ra An Vui, Hạnh Phúc.

– Năng lực của sự Nhẫn Nại, quan trọng cũng như tinh Tấn.

– Đây là loại năng lực chịu đựng những phiền não mà người khác gây ra cho mình hoặc gánh chịu những lỗi lầm của người khác.

– Hay làm việc giúp đỡ người khác, tiêu trừ những tư tưởng ích kỷ, xấu xa và phát triển tư tưởng vị tha, trong sạch.

– Đây là một niềm hân hoan, một phước lành cho cả người tặng lẫn người nhận – thọ lãnh.

Quay lại vấn đề, thì nếu một người tròn đầy 10 Đức này sẽ được thành Phật. Vậy, “Nhân vô thập toàn” nghĩa là đã làm con người thì không thể đủ 10 Đức này, nếu đủ thì sẽ đạt Đẳng Giác Ngộ.

📚Này, người có đi đâu, về đâu..

-Vẫn luôn nhớ Chia Sẻ, Phục Vụ Cộng Đồng

-Vẫn luôn nhớ cùng đồng đội xây dựng tình huynh đệ

-Vẫn luôn nhớ soi lỗi chính mình mỗi ngày qua… 📚

Ý Nghĩa Của Câu : «Nhân Vô Thập Toàn»

Ý nghĩa của câu : «Nhân vô thập toàn»

Quý Vị đã bao giờ nghe qua câu này chưa?

Vậy Nhân vô thập toàn có nghĩa là gì ?

Nhân vô thập toàn

Nhân là người.

Vô là không.

Thập là mười, là hoàn hảo, giống như khi cho điểm vậy, điểm hoàn hảo là 10/10.

Toàn, nghĩa là sự hoàn toàn, trọn vẹn.

Nếu ta gộp các từ lại, thì cây trên sẽ có nghĩa là :

«Khi chúng ta còn ở địa vị phàm phu, khi chưa chứng Thánh Quả A La Hán giải thoát, thì tất cả chúng ta đây, không có ai là hoàn hảo tất cả các mặt. Ta vẫn còn những lỗi lầm, vẫn còn những khuyết điểm.»

Có chăng, là một vài người có chút phước báu như thông minh tài giỏi, rồi họ tự phụ, cho mình như vậy là hơn người, là xuất chúng, là giỏi.

Rồi từ đó, khởi tâm khinh chê và xem thường, thậm chí hà khắc với người khác.

Đây là điều Quý Vị không nên mắc phải.

Có người thì tốt ở mặt này, nhưng lại xấu ở mặt khác.

Còn có người thì xấu ở mặt khác, nhưng tốt ở mặt này, mặt này.

Người thì ưu điểm, nổi trội điểm này, nhưng lại khuyết điểm ở điểm khác.

Do đó, nếu một người mà thông hiểu được đạo lý này thì theo Quý Vị họ sẽ sống như thế nào ?

Đó là họ sẽ sống một lối sống cực kì là bao dung, khiêm tốn, hạ mình, rất từ bi, và luôn coi trọng con người.

Người ấy sẽ sống mà không có chê trách ai, cũng không cười nhạo ai.

Vì họ hiểu được một điều là «Nhân vô thập toàn», nghĩa là còn là con người thì không ai là tốt đẹp và hoàn hảo hết tất cả.

Quý Vị cũng thế, qua câu thành ngữ này, Quý Vị cũng cần nên rút ra cho bản thân mình một chân lý sống, một triết lý sống, một đạo đức sống.

Đó là đạo lý không nên chê cười ai.

Nên cùng giúp đỡ, hỗ tương nhau để cùng hướng đến những điều cao cả, điều tốt đẹp và thiện lành.

Hiểu và sống được như vậy thì thật đáng quý biết bao, phải không Quý Vị.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Cư sĩ Nhuận Hòa

Nguồn FB: Tu học mỗi ngày – 

Người đăng: Tu học mỗi ngày vào Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

Nhân Sinh Vô Thường Có Nghĩa Là Gì?

Vô thường nghĩa là “không chắc chắn”, “thay đổi”, “không trường tồn”. Vô thường là một trong ba tính chất của tất cả sự vật. Vô thường là đặc tính chung của mọi sự sinh ra có điều kiện, tức là thành, trụ, hoại không (sinh, trụ, dị, diệt) . Từ tính vô thường ta có thể suy luận ra hai đặc tính kia là Khổ và Vô ngã. Giáo lý vô thường rất quan trọng cho toàn cơ sở triết lý và thực hành trong Phật giáo. Nó mang đến một sự xác nhận như một sự phát hiện chân chính, đó là tất cả những hiện tượng – dù thuộc tâm lý, hay thuộc ngoại cảnh tự nhiên, không có ngoại hạng – đều là vô thường. Mặc dù chân lý này hoàn toàn hiển nhiên, có thể chứng nghiệm được mọi nơi, mọi lúc, nhưng chúng ta vẫn bị màn vô minh (sa. avidyā) vây phủ, không nhận thức được chân lý này một cách chân chính. Sự chuyển tiếp từ trạng thái không hiểu biết đến trạng thái ý thức (và thừa nhận) tính chất vô thường của vạn vật, cùng với sự thừa nhận hai tính chất kia, lập nên con đường tu học, và con đường này được Phật vạch ra trong giáo lý của mình. Cách thể hiện của vô thường Có nhiều dạng trình bày tính chân xác có giá trị chung của nguyên lý vô thường. Bằng một cách minh họa, ảnh hưởng của thời gian được so sánh với bánh xe của một chiếc xe đang chạy (chỉ chạm đất ở một khoảnh khắc nhất định nào đó), với một khe suối luôn luôn tuôn chảy, với một bọt nước, một dương diệm, âm thanh của một chuông đồng. Trong lúc thiền quán, chúng ta có thể xác nhận chân lý vô thường khi chứng kiến tư duy và cảm nhận không bao giờ giống nhau, mà thay vào đó, luôn nằm trong một dòng chảy (ví dụ như khoảnh khắc thật ngắn của một mối tư duy duy nhất không bao giờ đứng yên, mà luôn chuyển tiếp đến một mối tư duy kế tục). Nếu quan sát một cách phân tích thì vô thường được xem như một sự thật, là vạn vật tồn tại trên cơ sở hệ thuộc vào cái khác nào đó, phát sinh từ cái khác nào đó và chuyển biến thành cái khác nào đó. Không một vật nào tồn tại độc lập, không vật nào thường còn. Chính ngay ở điểm này thì Niết-bàn được hiểu như thuyết tương phản trực tiếp của vô thường, có nghĩa là Niết-bàn mang những tính chất thường, lạc, tịnh và như vậy – khác với trường hợp các pháp thế tục – đáng được thành đạt hơn. Giáo lý vô thường tương quan với giáo lý Duyên khởi ở mặt giáo lý này xác nhận một “nhân duyên móc đầu của vạn vật” và “vạn vật nếu có một khởi đầu cũng phải có một chung kết”; giáo lý vô thường xoay tầm nhìn của chúng ta về sự chung kết của vạn vật. Ý nghĩa tối trọng của vô thường được làm sáng tỏ nếu chúng ta nhớ đến những lời cuối của Phật: “Hoại diệt là bản chất của chư hành, hãy cố gắng hết lòng.” (pi. vayadhammā saṃkhārā, appamādena sampādethāti). Thực hành Như một kết quả của tất cả những điểm nêu trên, Phật giáo dạy chúng ta phương pháp Quán vô thường (pi. aniccānupassanā) để chứng nghiệm nguyên lý vô thường này. Truyền thống Phật giáo cho rằng, nếu việc thực hành quán vô thường này chỉ kéo dài như thời gian của một cái khảy tay thì nó hoàn toàn vô bổ, và qua đó cho thấy chúng ta ít quan tâm đến khái niệm vô thường như thế nào. Việc nhận thức nguyên lý vô thường không phải để thoả mãn tri thức. Nó rất quan trọng và thực tiễn, vì có thể giải thoát con người ra sự bám chặt vào các đối tượng (thuộc tâm thức cũng như ngoại cảnh). Nếu vạn vật vô thường thì chúng cũng không thật có giá trị, và đây cũng là lý do vì sao chúng không đáng được lưu ý. Đặc biệt là người ta nhấn mạnh đến tính vô thường của thân thể, cảm nhận và các tầng lớp tâm thức (khổ, lạc và trung tính), vì chúng không những là đối tượng của kinh nghiệm chúng ta thường có, mà cũng là những kênh mạch mà qua đó, các đối tượng trong thế gian được chúng ta nhận thức. Quá trình quán chiếu vô thường bao gồm “sự chú ý” đến sự xuất hiện của một đối tượng đã được đề ra (để quán chiếu), và sự “xác định” tính “tùy thuộc” cũng như “nguyên nhân” của nó; sau đó ta “chú ý” đến sự tiêu giảm cũng như diệt vong, và nhận thức được tính chất “tạm thời” của nó. Nơi đây, một đối tượng được đề ra trước đây không đơn thuần được “thấy” là vô thường, mà còn được “diễn sinh” từ một cơ sở sự thật, là nó tồn tại trên cơ sở tùy thuộc vào một đối tượng khác và chính đối tượng khác này cũng vô thường. Ví dụ như “cảm nhận” vô thường vì tùy thuộc vào “thân” vô thường, và v.v. Quán vô thường là một quá trình mà qua đó, hành giả đi từ cái biệt thể đến cái tổng thể, và ngược lại, từ tổng đến biệt thể, cho đến khi đạt được nhận thức sâu sắc, tức là trí huệ, là “tất cả đều vô thường”. Giá trị của tri kiến vô thường Nếu đạt được tri kiến về nguyên lý vô thường thì nhà Phật gọi đó là Chính tri kiến (sa. samyagdṛṣṭi), hành giả bước nhập Thánh đạo (sa. āryamārga), vì vậy tri kiến vô thường được xem là tri kiến của bậc Dự lưu, thánh quả thứ nhất trên con đường tu học. Tri kiến vô thường chính là sự đập tan tất cả những tà kiến vì mỗi cấu trúc của một hệ thống siêu nhiên tất nhiên phải lập cơ sở trên một khái niệm, một kiến giải “trường tồn” nào đó, hoặc một nhân tố “trường tồn” nào đó chính bên trong nó. Thế nên, việc thừa nhận nguyên lý vô thư

Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Là Gì ???

     Thời gian qua, tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm diễn biến rất phức tạp. Rất nhiều loại thực phẩm không bảo đảm vệ sinh, không an toàn đang được lưu hành trên thị trường, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người tiêu dùng. Công ty An Chi PHương xin cung cấp tới Quý khách hàng những thông tin cụ thể về việc xin cấp giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm.

     Áp dụng đối với cá nhân, tổ chức, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại Việt Nam.

     Cơ quan có thẩm quyền: Chi Cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh ( thành phố)

Thành phần hồ sơ gồm:

     -   Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận

     -   Bản sao công chứng giấy phép đăng ký kinh doanh

     -   Bản thuyết minh về cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ bảo đảm điều kiện VSATTP, bao gồm:

     -   Bản vẽ sơ đồ mặt bằng cơ sở sản xuất, kinh doanh và các khu vực xung quanh.

     -   Bản mô tả quy trình chế biến (quy trình công nghệ) cho nhóm sản phẩm hoặc mỗi sản phẩm đặc thù.

     -   Bản cam kết đảm bảo VSATTP đối với nguyên liệu thực phẩm và sản phẩm thực phẩm do cơ sở sản xuất và kinh doanh.

     -   Bản sao công chứng giấy chứng nhận đủ sức khoẻ của chủ cơ sở và của người trực tiếp sản xuất, kinh doanh

     -   Bản sao công chứng Giấy chứng nhận đã được tập huấn kiến thức VSATTP của từng cá nhân tham gia sản xuất kinh doanh thực phẩm trong cơ sở.

     -   Đối với cơ sở đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng VSATTP theo HACCP, trong hồ sơ có bản sao công chứng giấy chứng nhận HACCP.

Thời hạn giải quyết:

     -   30 – 45 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ hợp lệ (không kể thời gian sửa chữa, khắc phục do không đạt yêu cầu qua thẩm định).