Khái Niệm Xây Dựng Đảng Về Chính Trị / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | 2atlantic.edu.vn

Tiếp Tục Xây Dựng Đảng Về Chính Trị Và Tư Tưởng

VẤN ĐỀ SỐNG CÒN CỦA ĐẢNG

Từ khi ra đời đến nay, cùng với xây dựng tổ chức, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng. Chính vì vậy, Đảng không ngừng lớn mạnh và hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ, được nhân dân tin tưởng, tự hào. Đó chính là nền tảng tư tưởng, mục tiêu, lý tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc số một với Đảng ta, là nhiệm vụ hàng đầu trong toàn bộ công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, nghị quyết về xây dựng Đảng và lãnh đạo tổ chức thực hiện đạt nhiều kết quả. Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhận thức được nâng cao hơn, tư duy được đổi mới hơn, tư tưởng được thống nhất hơn, thể hiện ở việc đã tạo được sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội đối với những vấn đề lớn, cơ bản trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, do chưa lường hết được những tác động của mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế; chưa có sự chuẩn bị thật kỹ về lập trường, tư tưởng và cả cách thức tiếp cận mới cho cán bộ, đảng viên; các thế lực thù địch tăng cường hoạt động chống phá, chia rẽ nội bộ Đảng, thúc đẩy hoạt động “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, công tác xây dựng Đảng đã bộc lộ hạn chế, yếu kém, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Thực trạng này đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng…”. Nghị quyết khẳng định, phải “kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng”.

Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, công tác xây dựng Đảng đã tạo được một số chuyển biến quan trọng bước đầu, cụ thể là: 1) Góp phần củng cố, nâng cao và thống nhất nhận thức về vị trí then chốt của công tác xây dựng Đảng. 2) Kịp thời sửa chữa, khắc phục được một số hạn chế, khuyết điểm, yếu kém kéo dài trên một số lĩnh vực của công tác xây dựng Đảng. 3) Đấu tranh, ngăn chăn, đẩy lùi được một số biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cán bộ, đảng viên, góp phần làm trong sạch nội bộ Đảng. 4) Việc tiến hành kiểm điểm, tự phê bình và phê bình kết hợp với kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán của Nhà nước và công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật được thực hiện nghiêm túc. Trong 3 năm (2012, 2013, 2014), Đảng ta đã xử lý kỷ luật hơn 54.000 đảng viên ở các cấp và cho ra khỏi Đảng hàng nghìn trường hợp khác. 5) Đã nhận diện rõ hơn những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; đồng thời, quán triệt yêu cầu và sự cần thiết phải tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng và chỉnh đốn Đảng…

Đáp ứng những yêu cầu tình hình và nhiệm vụ của thời kỳ mới, Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”(1). Nghị quyết Đại hội nêu rõ, để khắc phục tình trạng “chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận chưa cao… thiếu sắc bén, chưa thuyết phục”(2), cần phải “chú trọng xây dựng Đảng về chính trị. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới…”(3) và “đổi mới công tác tư tưởng, lý luận. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng…; đẩy mạnh tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(4).

GIỮ VỮNG ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH TRỊ, MỤC TIÊU, LÝ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Để tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”, thực sự là đội tiên phong lãnh đạo toàn xã hội, cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Một là, đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị; đấu tranh bảo vệ, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên nói chung, những cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành nói riêng; bồi dưỡng nhận thức, lập trường, quan điểm và năng lực vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội đối với Cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, v.v.. Cấp ủy, ban, ngành các cấp cần chủ động triển khai có hiệu quả cuộc đấu tranh trực tiếp trên mặt trận tư tưởng, lý luận; tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, góp phần phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuyên truyền sâu rộng để không chỉ nhận diện và chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; từ những luận điểm chung đến những luận điểm cụ thể trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… mà còn phản bác những luận điểm sai trái, xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ bệ, phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hai là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng, phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị. Trong đó, phải tiếp tục đổi mới toàn diện, triệt để và tổ chức tốt hoạt động tuyên truyền; tăng cường và phát huy tốt hơn nữa vai trò của báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ trong định hướng tư tưởng chính trị, định hướng nhân cách, định hướng các giá trị sống phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chú trọng công tác tham mưu trên các lĩnh vực khoa giáo, đánh giá tình hình tư tưởng, dư luận xã hội của các đối tượng, bảo đảm tính khoa học, chính xác, sát thực tế nhằm kịp thời cung cấp thông tin phục vụ cho quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng.

Ba là, gắn thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Nghị quyết 26-NQ/TW khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Coi đây là công việc thường xuyên, nền nếp, thành nhu cầu tự thân của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội, địa phương, cơ quan, đơn vị. Thực hiện nghiêm Quy định số 101-QĐ/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; phát huy vai trò gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống, phong cách, công tác của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị. Kiên quyết đấu tranh phòng và chống quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm… Thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát của tổ chức đảng; giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và của nhân dân về phẩm chất, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Bốn là, chủ động phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. V.I.Lênin đã từng cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta. Toàn bộ vấn đề là ở chữ “nếu” này. Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ(5). Điều đó có nghĩa là, chừng nào những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị như “phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ”,v.v.. vẫn còn, thì chừng đó, nguy cơ về sự suy thoái từ bên trong, quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, làm mất dần các chuẩn mực của người cộng sản, dẫn đến xa rời những nguyên tắc, quan điểm mácxít; suy giảm nghiêm trọng niềm tin vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vẫn hiện hữu… Do đó, phải chủ động phòng, chống và ngăn chặn kịp thời, triệt để những biểu hiện suy thoái này.

Năm là, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên sai phạm, làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước, nâng cao hơn nữa niềm tin và uy tín của nhân dân đối với Đảng. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhưng trách nhiệm chính thuộc về các cơ quan Đảng, Nhà nước. Quyết tâm đấu tranh có hiệu quả trong phòng, chống tham nhũng là một trong những biểu hiện sinh động nhất, thể hiện bản lĩnh chính trị của Đảng ta hiện nay. Muốn giành thắng lợi trong cuộc chiến đầy cam go, thử thách này, Đảng phải hành động quyết liệt, không nói suông, không nể nang, né tránh, không có vùng cấm…, nhất là phải thực hiện nghiêm Quy định số 102-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về ” Xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm “. Đồng thời, phát huy vai trò của quần chúng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng bằng những hình thức khen thưởng xứng đáng và kịp thời nhân rộng những tấm gương điển hình đó để tạo sự lan tỏa trong xã hội./.

(1), (2), (3), (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, H, 2016, tr.202, 192, 199, 200.

(5) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.42, tr.311.

PGS. TS. LÂM QUỐC TUẤN

ThS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHI

Bài đăng Tạp chí Tuyên giáo số 10/2018

Đường Lối Của Đảng Về Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Ở Nước Ta?

Trong mỗi giai đoạn cách mạng, từ khi Đảng Cộng sản cầm quyền sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khái niệm hệ thống chính trị được diễn đạt bằng những thuật ngữ khác nhau. Trước năm 1986 và trong những năm đầu của quá trình đổi mới, trong các văn kiện Đảng sử dụng khái niệm “chuyên chính vô sản”, “hệ thống chuyên chính vô sản”. Từ Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (tháng 3-1989), Đảng ta chính thức sử dụng khái niệm “hệ thống chính trị”.

Hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội được quan niệm là hệ thống của các tổ chức chính trị – xã hội mà nhờ đó nhân dân lao động được thực thi quyền lực của mình trong xã hội. Hệ thống chính trị này bao trùm và điều chỉnh mọi quan hệ chính trị giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội; giữa các dân tộc trong cộng đồng xã hội; giữa các yếu tố xã hội, tập thể và cá nhân về vấn đề quyền lực, về hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển xã hội.

Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm bộ máy tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và 5 đoàn thể chính trị – xã hội (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Hội Nông dân Việt Nam) và các mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống.

1. Đường lối của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị từ năm 1945 – 1986

– Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, đánh dấu sự hình thành ở nước ta một hệ thống chính trị cách mạng dựa trên nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, có nhiệm vụ thực hiện đường lối vừa kháng chiến, vừa kiến quốc (1945 – 1954), vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. vừa thực hiện đấu tranh thống nhất nước nhà (1954 – 1975), đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết; có một chính quyền tự xác định là công bộc của dân, coi dân là chủ và dân làm chủ, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

– Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (tháng 4-1975), cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước. Do đó, hệ thống chính trị của nước ta cũng chuyển sang giai đoạn mới: từ hệ thống chuyên chính dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản ở miền Bắc (1954 – 1975) sang hệ thống chuyên chính vô sản hoạt động trên phạm vi cả nước theo quan điểm của Đại hội Đảng lần thứ IV (tháng 12-1976): “…điều kiện quyết định, trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”.

Hệ thống chính trị chuyên chính vô sản ở nước ta được hình thành trên những cơ sở:

– Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳ quá độ và về chuyên chính vô sản, trong đó khẳng định: muốn chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội phải có một thời kỳ chuyên chính vô sản lâu dài. Chuyên chính vô sản là một tất yếu của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Bản chất của chuyên chính vô sản là tiếp tục đấu tranh giai cấp dưới hình thức mới. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các quốc gia cần vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước mình.

– Xuất phát từ đường lối chung: của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đại hội IV của Đảng xác định “… nắm vững chuyên chính vô sản, phái huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, đẩy mạnh ba cuộc cách mạng cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học – kỹ thuật và cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học – kỹ thuật là then chốt”. Đường lối này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội V của Đảng (tháng 3-1982).

– Cư sở chính trị của hệ thống chuyên chính vô sản được hình thành từ năm 1930 và bắt rễ vững chắc trong lòng dân tộc và xã hội. Điểm cốt lõi của cơ sở chính trị đó là sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng.

– Cư sở kinh tế của hệ thống chuyên chính vô sản là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp.

– Cơ sở xã hội của hệ thống chuyên chính vô sản là liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức.

Xuất phát từ cơ sở kinh tế, chính trị và xã hội của hệ thống chuyên chính vô sản ở nước ta, đường lối xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản mang đặc điểm Việt Nam đã hình thành, trong đó khẳng định: Xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản là xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, tức là xây dựng hoàn chỉnh các quan hệ xã hội, thể hiện ngày càng đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân lao động trên tất cả các mặt với những nội dung cơ bản sau:

+ Xác định quyền làm chủ của nhân dân được thể chế hoá bằng pháp luật và tổ chức.

+ Xác định Nhà nước trong thời kỳ quá độ phải thực hiện quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và thông qua đó Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với tiến trình phát triển của xã hội. Do vậy, Nhà nước phải là một thiết chế của dân, do dân, vì dân.

+ Đảng là người lãnh đạo toàn bộ hoạt động xã hội trong điều kiện chuyên chính vô sản. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cao nhất bảo dảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, bảo đảm sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

+ Mặt trận và các đoàn thể là tổ chức bảo đảm cho quần chúng tham gia và kiểm tra công việc của Nhà nước, đồng thời là trường học về chủ nghĩa xã hội. Do vậy, các đoàn thể phải không ngừng đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động cho phù hợp với điều kiện mới đổ thu hút ngày càng đông đảo quần chúng vào các hoạt động chính trị xã hội.

+ Xác định rõ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng nhân dân, trong đó Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đường lối xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản đă nhanh chóng được triển khai, góp phần mang lại thành tựu cơ bản trong 10 năm đầu cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội đầy khó khăn và thử thách. Điểm tìm tòi sáng tạo trong giai đoạn này của Đảng là đã coi làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất của hệ thống chuyên chính vô sản ỏ nước ta, đã xây dựng mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong hoạt động của hệ thống chính trị ở tất cả các cấp. Tuy nhiên, trong giai đoạn trước đổi mới, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân chưa được xác định thật sự rõ ràng, vì vậy chế độ trách nhiệm không nghiêm, pháp chế xã hội chủ nghĩa còn nhiều thiếu sót.

Đường lối của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới

a) Quá trình hình thành đường lối của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới

Quá trình hình thành đường lối của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới xuất phát từ nhận thức mới về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị: nhận thức mới vể mục tiêu đổi mối hệ thống chính trị, về đấu tranh giai cấp và về động lực chủ yếu phát triển đất nước trong giai đoạn mới; nhận thức mới về cơ cấu và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị, về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong hệ thống chính trị và về vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị.

Xuất phát từ tình hình thực tiễn của đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đă đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước Đảng ta khẳng định đổi mới là một quá trình, bắt đầu từ đổi mới kinh tế, trước hết là tư duy kinh tế, đồng thời từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Đổi mới hệ thống chính trị là diều kiện quan trọng thúc đấy sự nghiệp đôi mới và phát triển kinh tể. Do vậy. rùìig với đổi mới kinh tó, trôn cơ sở nhận thức vể mục tiêu của đổi mới hệ thống chính trị, Đảng đã đề ra đường lốì xây dựng hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới.

b) Mục tiêu, quan điểm và chủ trương xây dựng hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới

– Mục tiêu chủ yếu xây dựng hệ thống chính trị của Đảng ta là nhằm thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.

– Để thực hiện mục tiêu đã đề ra. Xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau đây:

+ Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị.

+ Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính tị nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

+ Đổi mới hệ thống chính trị phải tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp.

+ Đổi mới mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị với nhau và với xã hội.

c) Chủ trương xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam thơi kỳ đổi mới

– Vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong xây dựng hệ thống chính trị là xây dựng Đảng nhằm giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao dộng và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) đã xác định: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy” 1. Trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị là đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các bộ phận cấu thành hệ thống, trong đó vấn đề mấu chốt nhất và khó khăn nhất là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết Trung ương 5, khoá X về Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị đã chỉ rõ các mục tiêu giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu quả lãnh dạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân, nâng cao hiệu lực. hiệu quả quản lý Nhà nước, chất lượng hoạt động của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội.

Đổi mới phương thức lãnh đạo đối với hệ thống chính trị phải đặt trong tổng thể nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, tiến hành đồng bộ các mặt của công tác xây dựng Đảng với đổi mới tổ chức hoạt động của cả hệ thống chính trị. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải trên cơ sở kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt dộng của Đảng. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt dộng của hệ thống chính trị ở mỗi cấp, mỗi ngành vừa phải quán triệt nguyên tắc chung, vừa phải phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của từng ngành, từng cấp.

– Xây dựng hệ thống chính trị cần phải tăng cường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.

+ Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và các quyết định của các cơ quan công quyền.

+ Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, hoàn thành cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội. Đổi mới quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh.

+ Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại.

+ Xây dựng cơ quan tư pháp trong sạch, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người. Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp.

+ Nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp.

– Xây dựng Mặt trận Tố quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị để đoàn kết rộng rãi nhân dân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, đề xuất các chủ trương, chính sách về kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đổi mới hoạt động của Mật trận và các tổ chức chính trị – xã hội, khắc phục tình trạng hành chính hoá, nàh nước hóa, phô trương, hình thức, làm tốt công tác dân vận.

d) Đánh giá quá trình thực hiện đường lối xây dựng hệ thống chính trị ở nước ta trong thời kỳ đổi mới.

Với đường lối đổi mới đúng đắn, tổ chức và hoạt dộng của hệ thống chính trị nước ta đã có những bước tiến quan trọng.

– Tổ chức bộ máy được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Hoạt động của hệ thống chính trị ngày càng hướng về cơ sở.

– Dân chủ trong xã hội có bước phát triển, trình độ và năng lực làm chủ của nhân dân từng bước được nâng lên.

– Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước được phân định rõ hơn. Nhà nước từng bước được kiện toàn từ cơ cấu tổ chức đến cơ chế hoạt động trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Những quan điểm của Đảng về Nhà nước đã được thể chế hóa trong hiến pháp và các đạo luật cụ thể.

– Quản lý nhà nước bằng pháp luật được tăng cường.

– Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội có nhiều đổi mới vế cơ cấu, tổ chức và phương thức hoạt động đa dạng.

– Đảng thường xuyên coi trọng việc đổi mới và tựchỉnh đốn, giữ vững, nâng cao vai trò lãnh dạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng.

Những kết quả trên đã khẳng định đường lối đổi mới hệ thống chính trị là đúng đắn và phù h

Trong mỗi giai đoạn cách mạng, từ khi Đảng Cộng sản cầm quyền sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khái niệm hệ thống chính trị được diễn đạt bằng những thuật ngữ khác nhau. Trước năm 1986 và trong những năm đầu của quá trình đổi mới, trong các văn kiện Đảng sử dụng khái niệm “chuyên chính vô sản”, “hệ thống chuyên chính vô sản”. Từ Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (tháng 3-1989), Đảng ta chính thức sử dụng khái niệm “hệ thống chính trị”.

Hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội được quan niệm là hệ thống của các tổ chức chính trị – xã hội mà nhờ đó nhân dân lao động được thực thi quyền lực của mình trong xã hội. Hệ thống chính trị này bao trùm và điều chỉnh mọi quan hệ chính trị giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội; giữa các dân tộc trong cộng đồng xã hội; giữa các yếu tố xã hội, tập thể và cá nhân về vấn đề quyền lực, về hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển xã hội.

Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm bộ máy tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và 5 đoàn thể chính trị – xã hội (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Hội Nông dân Việt Nam) và các mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống.

1. Đường lối của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị từ năm 1945 – 1986

– Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, đánh dấu sự hình thành ở nước ta một hệ thống chính trị cách mạng dựa trên nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, có nhiệm vụ thực hiện đường lối vừa kháng chiến, vừa kiến quốc (1945 – 1954), vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. vừa thực hiện đấu tranh thống nhất nước nhà (1954 – 1975), đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết; có một chính quyền tự xác định là công bộc của dân, coi dân là chủ và dân làm chủ, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

– Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (tháng 4-1975), cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước. Do đó, hệ thống chính trị của nước ta cũng chuyển sang giai đoạn mới: từ hệ thống chuyên chính dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản ở miền Bắc (1954 – 1975) sang hệ thống chuyên chính vô sản hoạt động trên phạm vi cả nước theo quan điểm của Đại hội Đảng lần thứ IV (tháng 12-1976): “…điều kiện quyết định, trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”.

Hệ thống chính trị chuyên chính vô sản ở nước ta được hình thành trên những cơ sở:

– Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳ quá độ và về chuyên chính vô sản, trong đó khẳng định: muốn chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội phải có một thời kỳ chuyên chính vô sản lâu dài. Chuyên chính vô sản là một tất yếu của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Bản chất của chuyên chính vô sản là tiếp tục đấu tranh giai cấp dưới hình thức mới. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các quốc gia cần vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước mình.

– Xuất phát từ đường lối chung: của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đại hội IV của Đảng xác định “… nắm vững chuyên chính vô sản, phái huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, đẩy mạnh ba cuộc cách mạng cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học – kỹ thuật và cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học – kỹ thuật là then chốt”. Đường lối này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội V của Đảng (tháng 3-1982).

– Cư sở chính trị của hệ thống chuyên chính vô sản được hình thành từ năm 1930 và bắt rễ vững chắc trong lòng dân tộc và xã hội. Điểm cốt lõi của cơ sở chính trị đó là sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng.

– Cư sở kinh tế của hệ thống chuyên chính vô sản là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp.

– Cơ sở xã hội của hệ thống chuyên chính vô sản là liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức.

Xuất phát từ cơ sở kinh tế, chính trị và xã hội của hệ thống chuyên chính vô sản ở nước ta, đường lối xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản mang đặc điểm Việt Nam đã hình thành, trong đó khẳng định: Xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản là xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, tức là xây dựng hoàn chỉnh các quan hệ xã hội, thể hiện ngày càng đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân lao động trên tất cả các mặt với những nội dung cơ bản sau:

+ Xác định quyền làm chủ của nhân dân được thể chế hoá bằng pháp luật và tổ chức.

+ Xác định Nhà nước trong thời kỳ quá độ phải thực hiện quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và thông qua đó Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với tiến trình phát triển của xã hội. Do vậy, Nhà nước phải là một thiết chế của dân, do dân, vì dân.

+ Đảng là người lãnh đạo toàn bộ hoạt động xã hội trong điều kiện chuyên chính vô sản. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cao nhất bảo dảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, bảo đảm sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

+ Mặt trận và các đoàn thể là tổ chức bảo đảm cho quần chúng tham gia và kiểm tra công việc của Nhà nước, đồng thời là trường học về chủ nghĩa xã hội. Do vậy, các đoàn thể phải không ngừng đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động cho phù hợp với điều kiện mới đổ thu hút ngày càng đông đảo quần chúng vào các hoạt động chính trị xã hội.

+ Xác định rõ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng nhân dân, trong đó Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đường lối xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản đă nhanh chóng được triển khai, góp phần mang lại thành tựu cơ bản trong 10 năm đầu cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội đầy khó khăn và thử thách. Điểm tìm tòi sáng tạo trong giai đoạn này của Đảng là đã coi làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất của hệ thống chuyên chính vô sản ỏ nước ta, đã xây dựng mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong hoạt động của hệ thống chính trị ở tất cả các cấp. Tuy nhiên, trong giai đoạn trước đổi mới, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân chưa được xác định thật sự rõ ràng, vì vậy chế độ trách nhiệm không nghiêm, pháp chế xã hội chủ nghĩa còn nhiều thiếu sót.

Đường lối của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới

a) Quá trình hình thành đường lối của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới

Quá trình hình thành đường lối của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới xuất phát từ nhận thức mới về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị: nhận thức mới vể mục tiêu đổi mối hệ thống chính trị, về đấu tranh giai cấp và về động lực chủ yếu phát triển đất nước trong giai đoạn mới; nhận thức mới về cơ cấu và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị, về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong hệ thống chính trị và về vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị.

Xuất phát từ tình hình thực tiễn của đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đă đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước Đảng ta khẳng định đổi mới là một quá trình, bắt đầu từ đổi mới kinh tế, trước hết là tư duy kinh tế, đồng thời từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Đổi mới hệ thống chính trị là diều kiện quan trọng thúc đấy sự nghiệp đôi mới và phát triển kinh tể. Do vậy. rùìig với đổi mới kinh tó, trôn cơ sở nhận thức vể mục tiêu của đổi mới hệ thống chính trị, Đảng đã đề ra đường lốì xây dựng hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới.

b) Mục tiêu, quan điểm và chủ trương xây dựng hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới

– Mục tiêu chủ yếu xây dựng hệ thống chính trị của Đảng ta là nhằm thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.

– Để thực hiện mục tiêu đã đề ra. Xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau đây:

+ Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị.

+ Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính tị nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

+ Đổi mới hệ thống chính trị phải tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp.

+ Đổi mới mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị với nhau và với xã hội.

c) Chủ trương xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam thơi kỳ đổi mới

– Vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong xây dựng hệ thống chính trị là xây dựng Đảng nhằm giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao dộng và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) đã xác định: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy” 1. Trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị là đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các bộ phận cấu thành hệ thống, trong đó vấn đề mấu chốt nhất và khó khăn nhất là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết Trung ương 5, khoá X về Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị đã chỉ rõ các mục tiêu giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu quả lãnh dạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân, nâng cao hiệu lực. hiệu quả quản lý Nhà nước, chất lượng hoạt động của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội.

Đổi mới phương thức lãnh đạo đối với hệ thống chính trị phải đặt trong tổng thể nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, tiến hành đồng bộ các mặt của công tác xây dựng Đảng với đổi mới tổ chức hoạt động của cả hệ thống chính trị. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải trên cơ sở kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt dộng của Đảng. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt dộng của hệ thống chính trị ở mỗi cấp, mỗi ngành vừa phải quán triệt nguyên tắc chung, vừa phải phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của từng ngành, từng cấp.

– Xây dựng hệ thống chính trị cần phải tăng cường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.

+ Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và các quyết định của các cơ quan công quyền.

+ Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, hoàn thành cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội. Đổi mới quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh.

+ Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại.

+ Xây dựng cơ quan tư pháp trong sạch, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người. Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp.

+ Nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp.

– Xây dựng Mặt trận Tố quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị để đoàn kết rộng rãi nhân dân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, đề xuất các chủ trương, chính sách về kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đổi mới hoạt động của Mật trận và các tổ chức chính trị – xã hội, khắc phục tình trạng hành chính hoá, nàh nước hóa, phô trương, hình thức, làm tốt công tác dân vận.

d) Đánh giá quá trình thực hiện đường lối xây dựng hệ thống chính trị ở nước ta trong thời kỳ đổi mới.

Với đường lối đổi mới đúng đắn, tổ chức và hoạt dộng của hệ thống chính trị nước ta đã có những bước tiến quan trọng.

– Tổ chức bộ máy được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Hoạt động của hệ thống chính trị ngày càng hướng về cơ sở.

– Dân chủ trong xã hội có bước phát triển, trình độ và năng lực làm chủ của nhân dân từng bước được nâng lên.

– Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước được phân định rõ hơn. Nhà nước từng bước được kiện toàn từ cơ cấu tổ chức đến cơ chế hoạt động trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Những quan điểm của Đảng về Nhà nước đã được thể chế hóa trong hiến pháp và các đạo luật cụ thể.

– Quản lý nhà nước bằng pháp luật được tăng cường.

– Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội có nhiều đổi mới vế cơ cấu, tổ chức và phương thức hoạt động đa dạng.

– Đảng thường xuyên coi trọng việc đổi mới và tựchỉnh đốn, giữ vững, nâng cao vai trò lãnh dạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng.

Những kết quả trên đã khẳng định đường lối đổi mới hệ thống chính trị là đúng đắn và phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, trong thực tế khi vận hành hệ thống chính trị chúng ta còn nhiều khuyết điểm như: năng lực và hiệu quả hoạt động của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc cũng như các tổ chức chính trị – xã hội chưa ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng mới; cải cách hành chính quốc gia còn nhiều hạn chế,tình trạng quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu của một bộ phận công chức nhà nước chưa được khắc phục. Nạn tham nhũng trong hệ thống chính trị còn trầm trọng, quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm: phương thức hoạt dộng của Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội, chưa thoát khỏi tình trạng xơ cứng, hành chính; thực hiện vai trò giám sát phát hiện của Mặt trận cũng như các tổ chức chính trị xã hội còn yếu, chưa có cơ chế thật hợp lý phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có mặt lúng túng.

Mặc dù còn có những hạn chế nhưng những kết quả về đổi mới hệ thống chính trị đã góp phần làm rõ những thành lựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong hơn 20 năm đổi mới đất nước.ợp với thực tiễn. Tuy nhiên, trong thực tế khi vận hành hệ thống chính trị chúng ta còn nhiều khuyết điểm như: năng lực và hiệu quả hoạt động của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc cũng như các tổ chức chính trị – xã hội chưa ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng mới; cải cách hành chính quốc gia còn nhiều hạn chế,tình trạng quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu của một bộ phận công chức nhà nước chưa được khắc phục. Nạn tham nhũng trong hệ thống chính trị còn trầm trọng, quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm: phương thức hoạt dộng của Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội, chưa thoát khỏi tình trạng xơ cứng, hành chính; thực hiện vai trò giám sát phát hiện của Mặt trận cũng như các tổ chức chính trị xã hội còn yếu, chưa có cơ chế thật hợp lý phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có mặt lúng túng.

Mặc dù còn có những hạn chế nhưng những kết quả về đổi mới hệ thống chính trị đã góp phần làm rõ những thành lựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong hơn 20 năm đổi mới đất nước.

chúng tôi

Quan Điểm Của Lênin Về Xây Dựng Cương Lĩnh Chính Trị Của Đảng Cộng Sản

.

Xã hội có đối kháng giai cấp, tất yếu dẫn đến đấu tranh giai cấp, trong đó có đấu tranh chính trị. Đấu tranh chính trị đòi hỏi giai cấp phải có mục tiêu chính trị rõ ràng, được tổ chức chặt chẽ để tập hợp, huy động đông đảo lực lượng của giai cấp và các lực lượng liên minh với mình. Đó là yêu cầu và điều kiện ra đời của đảng chính trị. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó, đảng chính trị phải có cương lĩnh chính trị. Đảng Cộng sản cũng không nằm ngoài quy luật đó.

V.I.Lênin với Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Ảnh tư liệu

Để Đảng Cộng sản đề ra được đường lối, chủ trương đúng đắn, phù hợp với tình hình đất nước thì một trong những nội dung quan trọng ngay từ đầu, có tính chất nền tảng là phải xây dựng được cương lĩnh chính trị khoa học, cách mạng. Việc này sẽ giúp cho các đảng cộng sản có được đường lối đúng đắn, tạo nên sức mạnh, thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng, giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và nhân loại khỏi sự áp bức của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản.

Cương lĩnh của Đảng Cộng sản là văn kiện cơ bản, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp đấu tranh để thực hiện mục đích của cách mạng. Sự đúng đắn, khoa học của cương lĩnh sẽ định hướng cho phong trào cách mạng của giai cấp công nhân; động viên khích lệ giai cấp công nhân trước những khó khăn, thử thách, nhằm làm tăng bản lĩnh của người cộng sản. Bên cạnh đó, cương lĩnh còn là cơ sở để vận động, thuyết phục quần chúng nhân dân đi theo Đảng và làm cách mạng. Do đó, cương lĩnh là văn bản không thể thiếu trong quá trình hoạt động của Đảng. Vì thế, Lênin rất quan tâm đến việc xây dựng cương lĩnh của Đảng.

Theo Lênin, cương lĩnh không phải là sản phảm thuần túy từ tư duy của Đảng Cộng sản mà cương lĩnh phải được đề ra từ thực tiễn cuộc sống và gắn với thực tiễn cuộc sống. Cương lĩnh phải chỉ rõ mục đích, trách nhiệm của Đảng ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Lênin khẳng định: Cương lĩnh của chúng ta nếu muốn được chính xác thì phải nói đúng tình hình thực tế. Cương lĩnh phải được xây dựng trên cơ sở khoa học. Nó phải được giải thích rõ cách mạng sẽ xảy như thế nào? Tại sao nó nhất định xảy ra? Ý nghĩa của nó? Thực chất và sức mạnh của nó ra sao? Nó giải quyết cái gì? Chính vì thế Người cho rằng: Từ nay cương lĩnh của chúng ta sẽ được thảo ra, ít dựa vào sách vở mà dựa nhiều vào thực tiễn, xuất phát từ kinh nghiệm của chính quyền Xô viết. Lênin nhấn mạnh, cương lĩnh phải có lý luận cách mạng soi đường trên nền tảng lý luận mácxít. Nó giúp cho người cộng sản có tầm nhìn chiến lược, trông rộng nhìn xa, nắm được quy luật vận động tất yếu của xã hội, của đất nước, nhằm hướng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vào giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản để giành thắng lợi. Vì thế, Lênin viết: Tôi cho rằng, điều có lợi cho chúng ta là phải kêu gọi giai cấp vô sản quốc tế, không phải bằng những lời hiệu triệu thiết tha, những lời cổ động trong các cuộc mittinh, hoặc những tiếng la hét, mà là bằng một bản cương lĩnh cụ thể và chính xác của Đảng ta.

Bên cạnh chú ý cơ sở xuất phát của cương lĩnh là từ thực tiễn cuộc sống, Lênin cũng chú ý đến nội dung, cách thức diễn đạt của cương lĩnh. Theo Lênin, cương lĩnh không chỉ là lời tuyên bố ngắn gọn, rõ ràng, chính xác mà nội dung phải sâu sắc, xác định nhiệm vụ rõ ràng, có trọng tâm, trọng điểm. Người cho rằng, trong điều kiện đảng cầm quyền, cương lĩnh cần xác định: Trọng tâm là phải nhận định chính xác về những cải tạo kinh tế và những công cuộc cải tạo khác mà chính quyền Xô viết chúng ta đã bắt đầu tiến hành… trình bày những nhiệm vụ cụ thể trước mắt mà chính quyền Xô viết tự đề ra cho mình, những nhiệm vụ nảy sinh ra do những biện pháp thực tế mà chúng ta thi hành để tước đoạt những kẻ đi tước đoạt. 

Ngoài việc cương lĩnh phải từ thực tiễn và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của các quốc gia nơi có các đảng cộng sản cầm quyền, Lênin cũng đòi hỏi cần xây dựng cương lĩnh của Đảng mang tầm quốc tế. Để đạt được điều đó, cương lĩnh cần phải chú trọng đến những yếu tố giai cấp đặc thù về kinh tế đối với tất cả các nước. Đây chính là việc vận dụng phạm trù cái riêng, cái chung trong triết học vào quá trình xây dựng Đảng. Như vậy, theo Lênin, xây dựng cương lĩnh là nhiệm vụ quan trọng nhất của Đảng Cộng sản. Chính vì thế, trong tác phẩm Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết, Lênin khẳng định: “Nhiệm vụ thứ nhất của bất cứ một chính đảng nào có trọng trách đối với tương lai là thuyết phục cho đại đa số Nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình”. Bởi vì, Người cho rằng, chính quần chúng nhân dân là lực lượng vĩ đại nhất, lực lượng quyết định lịch sử. Càng có đông đảo quần chúng tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản thì cách mạng càng mau chóng giành thắng lợi.

Một đảng cách mạng chân chính bao giờ cũng đề ra một cương lĩnh khoa học, đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh xóa bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Lênin rất coi trọng xây dựng cương lĩnh của Đảng, đấu tranh không khoan nhượng với các quan điểm sai trái, cơ hội để bảo vệ cương lĩnh – kim chỉ nam cho hoạt động của cách mạng, là ngọn đuốc soi đường cho giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản lãnh đạo cách mạng đi đến thành công.

Kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xây dựng cương lĩnh chính trị đúng đắn, đường lối cách mạng khoa học, phù hợp với tình hình cụ thể của đất nước ở mỗi giai đoạn lịch sử. Từ cương lĩnh đầu tiên tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2/1930) đến cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đều nhất quán một số quan điểm xuyên suốt là sau cuộc cách mạng dân tộc dân chủ là cách mạng xã hội chủ nghĩa; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo thệ thống chính trị và xã hội… Vì thế, Đảng ta luôn được Nhân dân ta tin yêu, xứng đáng là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua nhiều thử thách cam go có tính “nghìn cân treo sợi tóc”, giành được nhiều thắng lợi quan trọng có tính bước ngoặt vĩ đại. Nhờ đề ra cương lĩnh chính trị, đường lối đúng đắn, lãnh đạo đất nước hiệu quả nên chưa bao giờ non sông đất nước ta có được cơ đồ, vị thế, sức mạnh như ngày nay như tổng kết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng.

PHẠM KIM QUANG 

Tạp Chí Xây Dựng Đảng

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung. Làm việc mà không theo đúng cách đó, tức là làm trái dân chủ tập trung.” Về mối quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách, Bác chỉ rõ: “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”.(1) (2)

Tập thể lãnh đạo là để bảo đảm và phát huy dân chủ trong Đảng nhưng nó xa lạ với kiểu dựa dẫm vào tập thể, không dám quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm của cá nhân đảng viên trước nhiệm vụ mà tổ chức phân công. Đồng thời, cá nhân phụ trách cũng hoàn toàn khác với độc đoán, chủ nghĩa cá nhân. Tuy nhiên, Bác cũng lưu ý rằng, không phải bất kỳ việc gì, thậm chí những việc nhỏ, một người có thể giải quyết được, cũng đưa ra tập thể bàn bạc, kết quả là họp hành mất nhiều thì giờ, đó là hiểu một cách máy móc. Song, việc nhỏ nhưng quan trọng vẫn cần tập thể bàn bạc, quyết định. Người cho rằng: “Mọi việc đều bàn bạc một cách dân chủ và tập thể, khi đã quyết định rồi thì phân công công tác rạch ròi, giao cho mấy đồng chí làm đến nơi, đến chốn.”(3) Theo Người, cá nhân phụ trách là nhằm tạo ra tính chuyên trách, gắn trách nhiệm để giải quyết công việc một cách tốt nhất.

Trong thực tiễn hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chủ tịch luôn là điển hình mẫu mực trong thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Dù trên cương vị đứng đầu Đảng và Nhà nước nhưng Bác luôn tôn trọng ý kiến tập thể, không tự tiện ra quyết định. Đồng thời, Bác luôn đề cao trách nhiệm cá nhân trong công việc, tự phê bình, nhận trách nhiệm trước Đảng, Quốc hội và nhân dân khi có khuyết điểm.

Hiện nay, việc thực hiện nguyên tắc này ở một số tổ chức đảng còn bộc lộ hạn chế: buông lỏng nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; ý thức trách nhiệm của một số cấp ủy viên thấp, có biểu hiện sa vào chủ nghĩa cá nhân; chưa xây dựng được quy chế, quy định cụ thể để có sự ràng buộc thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách có hiệu quả. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” chỉ rõ: “Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức, do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm. Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân”.

Chính sự không rõ ràng, rành mạch về thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân của những người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả, hiệu lực quản lý Nhà nước. Từ thực trạng trên Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đã chỉ ra một vấn đề cấp bách là cần xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) để thực hiện tốt nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, cần chú trọng một số nội dung sau:

Một là, thường xuyên giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của tập thể cấp ủy và đội ngũ cán bộ đảng viên về nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Nâng cao chất lượng đại hội và hội nghị của cấp uỷ và tổ chức đảng, mở rộng sinh hoạt dân chủ trong nội bộ đảng củng cố; kiện toàn cấp ủy đảng về số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng, thực sự tiêu biểu cho trí tuệ và sức mạnh của tổ chức đảng; phát huy vai trò, trách nhiệm cá nhân của các cấp ủy viên.

Hai là, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu, tinh thần dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Xác định rõ mối quan hệ trong giải quyết công việc giữa người đứng đầu với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Tăng cường thẩm quyền, phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị song cần có cơ chế giám sát quyền lực một cách chặt chẽ. Khắc phục tình trạng dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể hoặc độc đoán, chuyên quyền.

Ba là, tăng cường đấu tranh tự phê bình và phê bình, kiên quyết phê phán các hiện tượng mất dân chủ, dân chủ hình thức. Đổi mới quy trình ra nghị quyết, quán triệt và tổ chức thực hiện nghị quyết. Cần xây dựng quy chế ra quyết định của Đảng, bảo đảm phát huy trí tuệ tập thể cấp ủy và cán bộ, đảng viên.

Bốn là, duy trì tốt chế độ lãnh đạo, thường xuyên kiểm tra, giám sát để giúp tổ chức đảng cấp dưới hoạt động đúng hướng, kịp thời ngăn chặn, khắc phục các khuyết điểm, sai phạm của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng cấp dưới khi mới manh nha dấu hiệu vi phạm, nhất là biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mất đoàn kết, độc đoán, chuyên quyền. Xử lý nghiêm khắc những cá nhân có sai phạm trong công tác lãnh đạo, điều hành gây hậu quả nghiêm trọng.

Phạm Văn Phong Khoa Công tác đảng – Công tác chính trị, Trường Đại học Chính trị P.Vệ An, TP. Bắc Ninh