Khái Niệm Về Xuất Khẩu Thủy Sản / 2023 / Top 17 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | 2atlantic.edu.vn

Vai Trò Của Xuất Khẩu Thủy Sản / 2023

Việt Nam có bờ biển dài 3260 km, 112 cửa sông lạch, vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1triệu km 2 với 4000 hòn đảo lớn nhỏ tạo nên, nhiều eo, vịnh, vụng, đầm, phá và nhiều ngư trường, trữ lượng hải sản gần 3 triệu tấn. Thềm lục địa nước ta rộng hơn 1 triệu km 2 (gấp 3 lần diện tích đất liền), diện tích mặt nước 1triệu km 2, trong đó diện tích khai thác đạt 553.000 km, nhưng hiện tại mới chỉ khai thác được khoảng 65% nguồn lực hải sản cho phép.

Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước ta rất lớn với 1,4 triệu ha mặt nước nội địa, 300.000 ha bãi triều, 400.000 ha hồ chứa, sông suối, 600.000 ha ao hồ nhỏ ruộng trũng, có thể đưa vào sử dụng để nuôi trồng thủy sản. Năng suất nuôi trồng thủy sản mới chỉ bằng 10%- 25% năng suất của các nước trong khu vực.

Theo Bộ Thủy sản, Việt Nam có trên 2000 loài cá, trong đó có khoảng 100 loài có giá trị kinh tế cao. Bước đầu đánh giá trữ lượng cá biển trong vùng thềm lục địa khoảng trên 4 triệu tấn. Khả năng khai thác hàng năm khoảng 1,67 triệu/năm. Tình hình cụ thể của các loài cá:

Cá tầng đáy: 856.000 tấn, chiếm 51,3%.

Cá nổi nhỏ: 694.000 tấn, chiếm 41,5%.

Cá nổi đại dương (chủ yếu là cá ngừ): 120.000 tấn, chiếm 7,2%.

Trong đó, phân bố trữ lượng và khả năng khai thác giữa các vùng như sau:

Vịnh Bắc Bộ: trữ lượng: 681.166 tấn, khả năng khai thác: 271.467 tấn (chiếm 16,3%).

Biển Trung Bộ: trữ lượng: 606.399 tấn, khả năng khai thác 242.560 tấn(chiếm 14,3%).

Biển Đông Nam Bộ: trữ lượng: 2.075.889 tấn, khả năng khai thác: 830.456 tấn (chiếm 49,3%).

Biển Tây Nam Bộ: trữ lượng: 506.679 tấn, khả năng khai thác: 202.272 tấn (chiếm 12,1%).

Việt Nam tuy có vùng biển trải dài khắp cả nước nhưng sản lượng khai thác không đồng đều ở các vùng. Theo ước tính, vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam có tổng trữ lượng trên 3 triệu tấn cá, 50.000- 60.000 tấn tôm, 30.000- 40.000 tấn mực.

Mặc dù vậy, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng như đã nêu trên, trong thời gian hơn một thập kỷ qua, ngành thủy sản Việt Nam, đứng trước nhu cầu mạnh mẽ của thị trường thế giới cũng như nhu cầu về thực phẩm của đất nước đã có những bước phát triển ngoạn mục và trở thành một trong những ngành kinh tế then chốt của đất nước.

Thủy sản là một ngành kinh tế- kỹ thuật đặc trưng gồm có các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, chế biến, cơ khí hậu cần, dịch vụ thương mại, là một trong những ngành kinh tế biển quan trọng của đất nước. Sản xuất kinh doanh thủy sản dựa trên khai thác có hiệu quả, lâu bền nguồn lợi thủy sinh, tiềm năng các vùng nước, do vậy có mối liên ngành rất chặt chẽ với sản xuất nông nghiệp, vận tải, dầu khí, hải quan…

Xuất phát từ tiềm năng thiên nhiên to lớn, vai trò quan trọng của ngành thủy sản trong sự phát triển kinh tế- xã hội, nhất là trong 20 năm qua, với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng về sản lượng và giá trị xuất khẩu. Ngành kinh tế thủy sản ngày càng được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn và là một trong những hướng ưu tiên của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.

Ngành thủy sản được xác định là giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, bởi vì nó khai thác và phát triển một trong những nguồn tài nguyên có thể tái sinh của đất nước.

Đóng góp của ngành thủy sản trong tổng sản phẩm quốc dân

Theo số liệu thống kê, GDP của Việt Nam năm 1998 ước tính khoảng 368.692 tỷ đồng. Điều này tương ứng với mức GDP tính theo đầu người vào khoảng 270 đôla Mỹ.

-Nghề nuôi trồng thủy sản từ tự cung tự cấp đã đáp ứng được nhu cầu cho tiêu dùng trong và ngoài nước, đáng kể là sản lượng tôm nuôi phục vụ xuất khẩu của nước ta đứng vào khoảng thứ 5 trên thế giới; thủy sản xuất khẩu cũng đã được xác định là đối tượng chủ yếu để phát triển nuôi trồng.

-Công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu mà chủ yếu là công nghiệp đông lạnh thủy sản, với 164 cơ sở với tổng công suất là 760 tấn/ngày đã đóng vai trò to lớn hàng đầu về công nghiệp chế biến thực phẩm trong cả nước và thu hút nguyên liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu.

-Sự đóng góp đáng kể của khoa học công nghệ, trước hết phải kể đến kỹ thuật sinh sản nhân tạo để tạo nguồn tôm giống vào cuối những năm 80, cung cấp hơn 1 tỷ tôm giống các cỡ. Trong công nghiệp đánh cá, dần dần tạo ra các công nghệ để chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác theo hướng hiệu quả cao, du nhập nghề mới từ nước ngoài để có thể vươn ra khai thác xa bờ.

-Hoạt động hợp tác quốc tế trên cả ba mặt: thị trường xuất khẩu, nguồn vốn nước ngoài và chuyển giao công nghệ đều đạt những kết quả khích lệ. Từ cơ chế ” lấy phát triển xuất khẩu để tự cân đối, tự trang trải, tạo vốn đầu tư cho khai thác và nuôi trồng “, qua các thời kỳ, Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa đến nay, sản phẩm thủy sản nước ta đã có mặt tại hơn 50 nước và vùng lãnh thổ với một số sản phẩm bắt đầu có uy tín trên các thị trường quan trọng. Trao đổi quốc tế trên lĩnh vực công nghệ đã góp phần để có kết quả vừa nêu. Là thành viên của NACA từ năm 1988, của SEAFDEC từ năm 1994, tham gia vào hoạt động của ICLARM, quan sát viên của INFOFISH, cũng như sự hiện diện của nghề cá thế giới. Đó là những nhân tố tạo tiền đề cho sự phát triển của chúng ta.

Dự tính toàn bộ sự đóng góp của ngành thủy sản đối với nền kinh tế quốc dân sẽ tăng từ mức hiện nay năm 1998 từ 18.434,6 tỷ đồng lên 40.000 tỷ đồng vào năm 2010. Tỷ trọng tương ứng của ngành thủy sản trong GDP sẻ giảm do có sự tăng trưởng mạnh trong các ngành khác của nền kinh tế. Song sự đóng góp của ngành thủy sản đối với ổn định xã hội và an toàn quốc gia là quan trọng vì tiềm năng phân phối thu nhập của ngành thủy sản ở các vùng nông thôn. Một bộ phận dân cư ở nông thôn, thường là các vùng nghèo vẫn tiếp tục sống dựa vào nghề cá và nuôi trồng thủy sản, bao gồm cả thiểu số ở vùng cao.

Vai trò của ngành thủy sản đối với hoạt động xuất khẩu

Nếu trong GDP, ngành thủy sản đóng góp tương đối yếu thì ngành đã có sự bù đắp lại bởi sự đóng góp mạnh mẽ vào kim ngạch xuất khẩu cả nước. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản nước ta qua các năm đã không ngừng tăng lên, điều đó thể hiện rõ nét qua bảng số liệu sau:

Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam qua một

số năm

Nguồn: – Bộ Thủy sản.

-Số liệu thống kê nông, lâm nghiệp và thủy sản thời kỳ 1990- 1998 và dự báo năm 2000.

Giá trị xuất khẩu thủy sản các năm qua đã đóng góp một phần không nhỏ vào tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Từ năm 1995 đến 1999, năm nào kim ngạch xuất khẩu thủy sản cũng chiếm tỷ trọng trên dưới 10% so với tổng giá trị xuất khẩu, đặc biệt năm 1995, tỷ trọng này là 10,1%.

Xuất khẩu thủy sản chủ yếu là tôm và một số lượng lớn mực nang và mực đông. Năm 1998, tổng sản lượng thủy sản xuất khẩu đạt 193.000 tấn (tăng 25% so với năm 1995), kim ngạch xuất khẩu đạt 858,68 triệu USD.

Dự kiến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sẽ tăng từ 971,12 triệu USD năm 1999 lên 1,1 tỷ USD năm 2000, 2tỷ USD năm 2005 và 2- 2,2 tỷ USD vào năm 2010.

Vai trò của ngành thủy sản trong việc tạo công ăn việc làm

Công nghiệp đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đảm bảo việc làm thường xuyên cho khoảng 3 triệu lao động, đặc biệt là từ năm 1995, số lao động thủy sản là 3,03 triệu người. Khoảng 3,8 triệu người sống trong các hộ gia đình làm nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Như vậy, khoảng 6,8 triệu người chiếm 8,7% dân số sống phụ thuộc vào ngành thủy sản như một nguồn sinh sống.

Tổng số lao động có thu nhập từ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản cũng như từ các ngành và các hoạt động hỗ trợ thủy sản ước tính lên tới 8 triệu người. Ngoài ra, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản còn đảm bảo việc làm không thường xuyên và thu nhập phụ cho hơn 20 triệu người.

Theo dự tính, số lao động trong ngành thủy sản năm 2000 sẽ là 3,4 triệu người (trong đó: khai thác hải sản khoảng 420.000 người, nuôi trồng thủy sản khoảng 559.364 người, chế biến thủy sản: 58.768 người, lao động dịch vụ nghề cá khoảng 1.991.868 người). Do vậy số đân số dựa vào nghề cá sẽ tăng lên khoảng 8,1 triệu người vào năm 2000 và 10 triệu người vào năm 2010. Hơn nữa, thu nhập trực tiếp của những người lao động thường xuyên trong nghề cá và nuôi trồng thủy sản dự tính sẽ tăng trung bình 16%/năm trong thời gian nêu trên. Trên 1,2 triệu người trong các hộ gia đình phụ thuộc vào nghề cá và nuôi trồng thủy sản sẽ có thêm thu nhập vào năm 2000. Điều đó có nghĩa là số dân được ngành thủy sản hỗ trợ sẽ tăng 3 triệu người.

Cách Tính Kim Ngạch Xuất Khẩu Và Khái Niệm Về Kim Ngạch Xuất Khẩu / 2023

1. Các định nghĩa về xuất khẩu

1.1. Khái niệm xuất khẩu là gì?

Chúng ta luôn luôn hay hiểu nôm na xuất khẩu là việc bán hàng hóa trong nước ra nước ngoài. Không những thế để hiểu xuất khẩu hàng hóa là gì một cách quy chuẩn hơn, bạn đủ sức căn cứ vào 2 khái niệm sau:

Theo wikipedia thì Xuất khẩu (hay còn gọi là xuất cảng) là việc sale hóa hoặc dịch vụ của một quốc gia sang các quốc gia khác.

Đây chẳng hề là hoạt động bán hàng đơn lẻ mà là một hệ thống sale có tổ chức, có sự giám sát thống trị của cấp nhà nước cả bên trong lẫn bên ngoài với mục đích thu lợi nhuận, tăng trưởng thu ngoại tệ, tăng trưởng nền kinh tế đất nước,…

Theo Luật thương mại 2005, điều 28 khoản 1 thì định nghĩa xuất khẩu hơi đưa tính vĩ mô hơn. Cụ thể: “Xuất khẩu món hàng là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ VN được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của luật pháp.”

Theo đó, các hoạt động xuất khẩu được diễn ra trên cơ sở thanh toán bằng tiền tệ của một trong 2 quốc gia, hoặc lấy đồng tiền của một bên thứ 3 sử dụng căn cứ. Gợi ý, Việt Nam xuất hàng sang Đài Loan thì đủ nội lực giao dịch bằng tiền VN (đồng nội tệ), tiền Đài Loan hoặc dùng đồng USD (đồng ngoại tệ). Thông thường đồng USD sẽ phổ biến hơn cả trong hầu hết các hoạt động xuất khẩu trên toàn cầu. Xuất khẩu tiếng anh được gọi chung là Export.

Kim ngạch xuất khẩu sử dụng để chỉ số tiền thu về của một đất nước (hoặc một doanh nghiệp) sau hoạt động xuất khẩu một hoặc một số loại sản phẩm, dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định (1 tháng/1 quý/1 năm). Hướng dẫn tính kim ngạch xuất khẩu sẽ căn cứ chi phí này và quy đổi thống nhất về một đơn vị tiền tệ. Thông thường người xem sẽ sử dụng khái niệm kim ngạch xuất nhập khẩu để chỉ tổng của cả kim ngạch xuất lẫn nhập. Kim ngạch xuất khẩu tiếng anh thường dùng từ Export turnover.

Quan sát chung, kim ngạch xuất khẩu càng cao sẽ càng chứng tỏ được thành đạt của đất nước. Trong khi đó, nếu kim ngạch xuất khẩu không tốt bằng nhập khẩu sẽ là điều đáng lo ngại. Bởi đó là dấu hiệu kém phát triển, lạc hậu của cả một nền tảng.

2. Vai trò của xuất khẩu so với nền kinh tế

Phát triển doanh nghiệp : Xuất khẩu cung cấp thu nhập to cho doanh nghiệp. Thị trường kinh doanh giờ đây không chỉ còn bó hẹp trong một nước mà vừa mới được hội nhập hóa, cung cấp gốc thu lớn hơn đổ về từ các quốc gia lân cận và cả những ngành hướng dẫn xa hơn nửa vòng thế giới. Ngoài vấn đề ngoại tệ thu về, xuất khẩu sẽ tạo động lực để doanh nghiệp không ngừng cập nhật nâng cao chất lượng dịch vụ của chính mình và ngày càng phát triển.

: Đó không chỉ là thương hiệu của doanh nghiệp mà còn là thương hiệu của đất nước trên thị trường quốc tế. Càng nhiều công ty tạo được tên tuổi của mình sẽ góp phần khẳng định, nâng cao vị thế của đất nước đó. Gợi ý rõ nhất bạn có thể thấy như khi nhắc đến Toyota, Honda, Toshiba,…người ta sẽ nghĩ ngay đến Nhật Bản. Trong khi đó Microsoft, Apple là brand đất nước của Mỹ, Samsung, Hyundai là của Hàn Quốc.

: Các đất nước luôn đề nghi doanh nghiệp gia tăng cường xuất khẩu. Đây là cơ sở để gia tăng tích lũy ngoại tệ, cân bằng cán cân thanh toán, góp phần xúc tiến nền kinh tế quốc gia tăng trưởng.

Giúp nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng : nguyên nhân này mang tính vĩ mô. Khi sự lưu thông sản phẩm giữa các đất nước diễn ra xuyên suốt sẽ là động lực để xúc tiến sản xuất của từng quốc gia tăng trưởng. Càng nhiều đất nước đẩy mạnh sản xuất xuất khẩu, nền kinh tế thế giới cũng sẽ phát triển tốt.

4. Giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Trị giá nhập khẩu của 10 nhóm hàng khổng lồ nhất trong 4 tháng/2020 so với cùng kỳ năm 2019

Tính đến hết tháng 4/2020, tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 78,08 tỷ USD, giảm 0,3% so sánh với cùng kỳ năm 2019. Các sản phẩm tăng chủ yếu là: xăng dầu các loại giảm 800 triệu USD; ô tô nguyên chiếc các loại giảm giảm 430 triệu USD; sắt thép các loại giảm 405 triệu USD; máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng giảm 290 triệu USD… Bên cạnh đó, nhập khẩu một số group hàng vẫn tăng như: máy vi tính, mặt hàng điện tử & linh kiện tăng 1,81 tỷ USD; dầu thô tăng 440 triệu USD; điện thoại các kiểu & linh kiện tăng 256 triệu USD… so sánh với cùng kỳ năm 2019.

Trị giá nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 4/2020 đạt 10,11 tỷ USD, giảm 21,8% so với tháng trước, đưa trị giá nhập khẩu của khối này trong 4 tháng đầu năm 2020 đạt 44,94 tỷ USD, giảm 0,2% so với 4 tháng đầu năm 2019.

Tính toán của Tổng cục Hải quan cho thấy cán cân thương mại hàng hóa của khối công ty FDI trong tháng 4/2020 có mức thặng dư trị giá 0,9 tỷ USD, đưa cán cân thương mại trong 4 tháng tính từ đầu năm 2020 lên mức thặng dư trị giá 8,63 tỷ USD.

Nguồn tham khảo ( Cùng học vui, Tạp chí tài chính,… )

Khái Niệm Về Hoạt Động Xuất Khẩu Và Đặc Điểm Hoạt Động Kinh Doanh Xuất Khẩu / 2023

Khái niệm về xuất khẩu hàng hoá

Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh ngoại thương mà hàng hoá dịch vụ của quốc gia này bán cho quốc gia khác.

Xuất khẩu hàng hoá thường diễn ra dưới các hình thức sau:

+ Hàng hoá nước ta bán ra nước ngoài theo hợp đồng thương mại được ký kết của các thành phần kinh tế của nước ta với các thành phần kinh tế ở nước ngoài không thường trú trên lãnh thổ Việt Nam.

+ Hàng hoá mà các đơn vị, dân cư nước ta bán cho nước ngoài qua các đường biên giới, trên bộ, trên biển, ở hải đảo và trên tuyến hàng không.

+ Hàng gia công chuyển tiếp

+ Hàng gia công để xuất khẩu thông qua một cơ sở ký hợp đồng gia công trực tiếp với nước ngoài.

+ Hàng hoá do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bán cho người mua nước ngoài nhưng giao hàng tại Việt Nam

+ Hàng hoá do các chuyên gia, người lao động, học sinh, người du lịch mang ra khỏi nước ta.

+ Những hàng hoá là quà biếu, đồ dùng khác của dân cư thường trú nước ta gửi cho thân nhân, các tổ chức, huặc người nước ngoài khác.

+ Những hàng hoá là viện trợ, giúp đỡ của chính phủ, các tổ chức và dân cư thường trú nước ta gửi cho chính phủ, các tổ chức, dân cư nước ngoài.

Hiệu quả xuất khẩu

Trong điều kiện nước ta hiện nay, kinh tế đối ngoại có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy Đảng và nhà nước luôn coi trọng lĩnh vực này và nhấn mạnh “nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế cũng như sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công ngiệp hoá của nước ta tiến hành nhanh hay chậm, điều đó phụ thuộc một phần vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại”. Đảm bảo không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế xuất khẩu là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ nền kinh tế nói chung và cuả mỗi doanh nghiệp nói riêng.

Hiệu quả hoạt động xuất khẩu chủ yếu được thẩm định bởi thị trường, là phương hướng cơ bản để xác định phương hướng hoạt động xuất khẩu. Tuy vậy hiệu quả đó là gì? như thế nào là có hiệu quả? Không phải là vấn đề đã được thống nhất. Không thể đánh giá được mức độ đạt được hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu khi mà bản thân phạm trù này chưa được định rõ bản chất và những biểu hiện của nó. Vì vậy, hiểu đúng bản chất của hiệu quả kinh tế xuất khẩu cũng như mục tiêu đảm bảo hiệu quả kinh tế xuất khẩu của mỗi thời kỳ là vấn đề có ý nghĩa thiết thực không những về lý luận thống nhất quan niệm về bản chất của hiệu quả kinh tế xuất khẩu mà còn là cơ sở để xác định các tiêu chuẩn và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xuất khẩu, xác định yêu cầu đối với việc đề ra mục tiêu và biện pháp nâng cao hiệu của kinh tế ngoại thương.

Cho đến nay còn có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả xuất khẩu nói riêng. Quan niệm phổ biến là hiệu quả kinh tế xuất khẩu là kết quả của quá trình sản xuất trong nước, nó được biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Trong thực tiễn cũng có người cho rằng hiệu quả kinh tế xuất khẩu chính là số lợi nhuận thu được thông qua xuất khẩu. Những quan niệm trên bộc lộ một số mặt chưa hợp lý.

Một là, đồng nhất hiệu quả và kết quả. Hai là, không phân định rõ bản chất và tiêu chuẩn hiệu quả xuất khẩu với các chỉ tiêu biểu hiện bản chất và tiêu chuẩn đó.

Cần phân biệt rõ khái niệm “kết quả” và “hiệu quả”. Về hình thức hiệu quả kinh tế là một phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa cái phải bỏ ra và cái thu về được. Kết quả chỉ là yếu tố cần thiết để tính toán và phân tích hiệu quả. Tự bản thân mình, kết quả chưa thể hiện nó tạo ra ở mức nào và với chi phí là bao nhiêu.

Mỗi hoạt động trong sản xuất kinh doanh thương mại dịch vụ nói riêng là phải phấn đấu đạt được kết quả, nhưng không phải là kết quả bất kỳ mà phải là kết quả có mục tiêu và có lợi ích cụ thể nào đó. Nhưng kết quả có được ở mức độ nào với giá nào đó chính là vấn đề cần xem xét, vì nó là chất lượng của hoạt động tạo ra kết qủa. Vì vậy, đánh giá hoạt động kinh tế xuất khẩu không chỉ là đánh giá kết quả mà còn là đánh giá chất lượng của hoạt động để tạo ra kết quả đó. Vấn đề không phải chỉ là chúng ta xuất khẩu được bao nhiêu tỷ đồng hàng hoá mà còn là với chi phí bao nhiêu để có được kim ngạch xuất khẩu như vậy. Mục đích hay bản chất của hoạt động xuất khẩu là với chi phí xuất khẩu nhất định có thể thu được lợi nhuận lớn nhất. Chính mục đích đó nảy sinh vấn đề phải xem lựa chọn cách nào để đạt được kết quả lớn nhất.

Từ cách nhìn nhận trên ta thấy các chỉ tiêu lượng hàng hoá xuất khẩu, tổng trị giá hàng hoá xuất khẩu chỉ là những chỉ tiêu thể hiện kết quả của hoạt động xuất khẩu chứ không thể coi là hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu được, nó chưa thể hiện kết quả đó được tạo ra với chi phí nào

= ***SORRY, THIS MEDIA TYPE IS NOT SUPPORTED.***

Kim Ngạch Là Gì ? Khái Niệm Về Kim Ngạch Xuất Khẩu ? / 2023

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU LÀ GÌ ?

Kim ngạch xuất khẩu là tổng giá trị xuất khẩu (lượng tiền thu về được) của tất cả các hàng hoá xuất khẩu của quốc gia (hoặc một doanh nghiệp) trong một kỳ nhất định (thường là quý hay năm), sau đó qui đổi đồng nhất ra một loại đơn vị tiền tệ nhất định. Kim ngạch xuất khẩu càng cao càng chứng tỏ kinh tế của doanh nghiệp hay của cả một quốc gia càng phát triển, ngược lại kim ngạch xuất khẩu thấp, kim ngạch nhập khẩu cao thì kinh tế của quốc gia đó càng lạc hậu, chậm phát triển

Theo thống kê mới nhất từ Tổng cục Hải quan, trong tháng 4/2018 xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam đạt 18,37 tỷ USD, giảm 13,1% so với tháng trước, nhập khẩu hàng hóa đạt 17,20 tỷ USD, giảm 8,9%. Tuy nhiên theo lũy kế 4 tháng đầu năm, xuất khẩu đạt 73,89 tỷ USD, tăng 19,2% và nhập khẩu đạt hơn 70 tỷ USD, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Về thị trường xuất khẩu, trong 4 tháng đầu năm 2018, có 18 thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, trong đó có 8 thị trường đạt trên 2 tỷ USD, 2 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Trung QUốc và Hoa Kỳ.

NHÓM HÀNG CÓ KIM NGẠCH XUẤT KHẨU LỚN NHẤT NỬA ĐẦU NĂM 2018

Kim ngạch là gì ? Đối với thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong nửa đầu năm 2018, Tổng cục Hải quan cho biết, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam không có nhiều biến động so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, 10 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam chiếm tỷ trọng tới 72,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, lớn nhất vẫn là điện thoại di động và linh kiện các loại; hàng dệt may; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện… và có 8 nhóm hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng: Kim ngạch xuất khẩu đầu năm đạt 2,2 tỷ USD, tăng 24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó thị trường nhập khẩu hàng của chúng ta chủ yếu gồm: Hoa Kỳ; EU; Nhật Bản…

Gỗ và sản phẩm gỗ: Không lạ gì khi nhóm hàng này lọt top nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất bởi nước ta có diện tích rừng tương đối lớn. Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 2 tháng đầu năm đạt 1,21 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước.

Hàng thủy sản: Không thể phủ nhận nguồn tài nguyên thủy hải sản của Việt Nam vô cùng phong phú với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm luôn nằm trong top dẫn đầu danh sách. Theo con số thống kê gần đây, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng thủy sản đạt 1,07 tỷ USD, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sang EU(28 nước) đạt trị giá 186 triệu USD, tăng 23,3%, xuất sang Hoa Kỳ đạt 165 triệu USD, tăng 9%; sang Nhật Bản đạt 159 triệu USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước.

Hàng dệt may: Dệt may là ngành nghề truyền thống của nước ta, là một nhóm ngành chính được xuất khẩu nhiều nhất nước từ rất lâu đời. Cho đến nay kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may đã đạt 4,12 tỷ USD, tăng 17,3% so với 2 tháng/2017. Tổng cục Hải quan cho biết thêm, hàng dệt chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ; thị trường EU (28 nước); Nhật Bản; Trung Quốc.

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện: Chúng ta không thể không nhắc tới kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này cũng bởi chỉ vài tháng đầu năm đã đạt 769 triệu USD, tăng 52,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt trị giá 401 triệu USD, tăng 32,2%; xuất khẩu sang Hồng Công đạt trị giá 187 triệu USD, tăng 46,5% so với cùng kỳ năm trước.

Nguồn tham khảo bài viết: https://wikibatdongsan.com/