Khái Niệm Về Quốc Phòng Toàn Dân / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | 2atlantic.edu.vn

Khái Niệm Nền Quốc Phòng Toàn Dân Theo Luật Quốc Phòng 2022 Mới Nhất

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 Luật Quốc phòng 2018 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019) thì khái niệm Nền quốc phòng toàn dân được quy định cụ thể như sau:

Nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh quốc phòng của đất nước, được xây dựng trên nền tảng chính trị, tinh thần, nhân lực, vật lực, tài chính, mang tính chất toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường.

Nội dung cơ bản xây dựng nền quốc phòng toàn dân bao gồm:

– Xây dựng chiến lược bảo vệ Tổ quốc, kế hoạch phòng thủ đất nước; nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và hệ thống chính trị vững mạnh;

– Xây dựng thực lực, tiềm lực quốc phòng; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, có sức chiến đấu cao, làm nòng cốt bảo vệ Tổ quốc;

– Xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật; phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, khoa học, công nghệ quân sự; huy động tiềm lực khoa học, công nghệ của Nhà nước và Nhân dân phục vụ quốc phòng; ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ quân sự phù hợp để xây dựng đất nước;

– Xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm nhu cầu dự trữ quốc gia cho quốc phòng; chuẩn bị các điều kiện cần thiết bảo đảm động viên quốc phòng;

– Xây dựng phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ vững chắc toàn diện, hợp thành phòng thủ đất nước; củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh ở các vùng chiến lược, trọng điểm, biển, đảo, khu vực biên giới, địa bàn xung yếu; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong phạm vi cả nước;

– Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, biện pháp về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng;

– Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, biện pháp phòng thủ dân sự trong phạm vi cả nước;

– Đối ngoại quốc phòng;

– Kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng; kết hợp quốc phòng với an ninh, đối ngoại;

– Xây dựng và bảo đảm chế độ, chính sách đối với lực lượng vũ trang nhân dân, thân nhân của người phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân;

– Tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng; thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh.

Trân trọng!

Một Số Khái Niệm Về Quốc Phòng, An Ninh

+ Khoản 1 điều 3 Luật Quốc phòng năm 2005 quy định: “Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt”.

+ Khoản 2 điều này cũng quy định: “Nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh quốc phòng của đất nước được xây dựng trên nền tảng nhân lực, vật lực, tinh thần mang tính chất toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường”.

+ Quốc phòng toàn dân ( QPTD) là nền quốc phòng mang tính chất ” vì dân, của dân“, phát triển theo phương hướng toàn dân, toàn diện, độc lập tự chủ, tự lưc, tự cường và ngày càng hiện đại, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, do nhân dân làm chủ, nhằm giữ vững hoà bình, ổn định của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động xâm lược và bạo loạn lật đổ của các thế lực đế quốc, phản động, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN .

– Khái niệm An ninh quốc gia, bảo vệ an ninh quốc gia, nền an ninh nhân dân trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành

+ Khoản 1 điều 3 Luật ANQG gia năm 2004 nêu ra khái niệm về ANQG như sau: ” An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc“. ANQG bao gồm an ninh trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hoá, quốc phòng, đối ngoại,…trong đó an ninh chính trị là cốt lõi, xuyên suốt.

+ Khoản 2 điều 3 Luật ANQG quy định: ” Bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia”.

+ Về trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ ANQG, điều 8 Luật ANQG quy định: ” Bảo vệ an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật”. Luật ANQG cũng chỉ rõ hoạt động xâm hại ANQG là những hành vi xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, an ninh quốc phòng, đối ngoại, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.

Khoản 9 điều 3 Luật ANQG quy định: ” Nền an ninh nhân dân là sức mạnh về tinh thần, vật chất, sự đoàn kết và truyền thống dựng nước, giữ nước của toàn dân tộc được huy động vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, trong đó lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia làm nòng cốt”.

– An ninh nhân dân là sự nghiệp của toàn dân, do nhân dân tiến hành, lực lượng ANND làm nòng cốt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Kết hợp phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc với các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng chuyên trách, nhằm đập tan mọi âm mưu và hành động xâm phạm ANQG và TTATXH, cùng với toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Viêt Nam XHCN .

An ninh và quốc phòng là hai thành tố biểu trưng cho sức mạnh của Tổ quốc XHCN, nhằm mục tiêu đánh thắng thù trong, giặc ngoài, giữ vững ổn định chính trị, môi trường hoà bình để xây dựng và phát triển đất nước.

+ Kết hợp an ninhvới quốc phòng là yêu cầu khách quan và trở thành quy luật tất yếu đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới, khu vực còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; nước ta tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng; các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh chiến lược ” Diễn biến hoà bình “, bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng nước ta trên tất cả các lĩnh vực hòng xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ XHCN của nhân dân ta.

Tại Đại hội XI, Đảng ta đã xác định: Bố trí thế trận quốc phòng, an ninh phù hợp với tình hình mới. Kết hợp quốc phòng với an ninh. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế-xã hội trên từng địa bàn lãnh thổ. Đây là những chủ trương rất đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn. Tuy nhiên, do đối tượng đấu tranh khác nhau, việc sử dụng chiến thuật, nghệ thuật của quốc phòng và an ninh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cũngcó nhiều điểm khác nhau.

+ Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “ Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia dân tộc1“ [ 1 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.117]

Khái niệm bảo vệ Tổ quốc nêu trên được Đảng ta khẳng định là sự tổng kết mới rất sâu sắc, nội dung của khái niệm giúp chúng ta làm cơ sở cho việc xác định đúng phương hướng, nhiệm vụ cụ thể, tổ chức lực lượng và những giải pháp tăng cường tiềm lực và sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.

Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân Vững Mạnh

1. Nắm vững quan điểm, nâng cao nhận thức, trách nhiệm đối với xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện mới

Trước hết cần hiểu quốc phòng là gì, những tư duy mới về quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc của Ðảng ta?

Quốc phòng là: công cuộc giữ nước của một quốc gia gồm tổng thể các hoạt động đối nội, đối ngoại cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ… của Nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng nhằm giữ vững hòa bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, mọi quy mô.

Như vậy hiểu quốc phòng, xây dựng nền QPTD là hoạt động của cả nước, trên mọi lĩnh vực, lấy lực lượng vũ trang (LLVT) là lực lượng nòng cốt. Quốc phòng không đồng nghĩa với quân sự, với chiến tranh, nó được thực hiện trong thời bình nhằm mục đích tự vệ, phòng thủ đất nước, nhưng không thụ động phải chủ động ngăn chặn, đẩy lùi, làm thất bại mọi âm mưu của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng khi chiến tranh xảy ra. Chiến lược quốc phòng tối ưu là chiến lược giữ nước mà không phải tiến hành chiến tranh, là chiến lược giải quyết hợp lý các mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng và các mặt hoạt động khác của xã hội. Vì vậy, Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng đã xác định rõ: “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Ðảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ”. Tinh thần Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng đã chỉ rõ:

– Về mục tiêu, nhiệm vụ của nền quốc phòng toàn dân

– Về nhiệm vụ quốc phòng, Ðại hội X của Ðảng đã cụ thể hóa thêm nhiệm vụ của quốc phòng là phải giữ vững an ninh quốc gia kể cả an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa – an ninh xã hội; duy trì trật tự kỷ cương an toàn xã hội, v.v. Ðây là trách nhiệm của toàn xã hội, của mọi lực lượng.

– Về tính chất, đặc điểm và phương châm của nền quốc phòng toàn dân

Ðảng ta luôn có quan điểm đúng đắn về tính chất, đặc điểm của nền quốc phòng toàn dân, toàn diện trong quá trình đổi mới, coi đó là công việc giữ nước của quốc gia, gồm tổng thể các hoạt động về mọi mặt; chính trị, kinh tế, quân sự gắn với an ninh, đối ngoại, văn hóa, xã hội nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc cả thời bình và thời chiến, cả đối nội và đối ngoại, cả đấu tranh quân sự và đấu tranh phi quân sự.

– Phương châm xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập tự chủ, tự lực tự cường, từng bước hiện đại ngày càng được nhận thức sâu sắc và cụ thể hơn. Ðó là phương châm cơ bản của sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở nước ta, vừa đáp ứng yêu cầu đấu tranh trong thời bình, tạo sức mạnh ngăn chặn âm mưu gây chiến của kẻ thù, vừa đáp ứng yêu cầu chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, nếu xảy ra. Các nội dung của phương châm xây dựng nền quốc phòng toàn dân có quan hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau, trong đó xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo hướng hiện đại là một nội dung rất quan trọng, vừa thể hiện yêu cầu của nền quốc phòng, thể hiện lộ trình hiện đại hóa nền quốc phòng toàn dân vừa phù hợp kinh tế đất nước và yêu cầu mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong đó, phát triển công nghiệp quốc phòng đã và đang trở thành một chủ trương lớn trong xây dựng và hiện đại hóa nền quốc phòng toàn dân. Ðó là một nền công nghiệp quốc phòng độc lập, tự chủ, có tiềm lực mạnh, phù hợp sự phát triển của nền kinh tế đất nước; một nền công nghiệp quốc phòng mang tính lưỡng dụng vừa đáp ứng nhu cầu quốc phòng, quân sự vừa tham gia trực tiếp vào sự phát triển kinh tế – xã hội, phục vụ dân sinh.

– Giải quyết tốt mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế và đối ngoại

Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế – xã hội và đối ngoại trở thành chiến lược quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp. Trong quá trình đổi mới, tư duy của Ðảng về sự kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế- xã hội và đối ngoại ngày càng được hoàn thiện trong chiến lược xây dựng sức mạnh tổng hợp quốc gia bảo vệ Tổ quốc.

Quan điểm “Kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng và an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước”, do Ðại hội X của Ðảng đề ra là sự tiếp tục khẳng định, kế thừa, phát triển, hoàn thiện đường lối chiến lược về quốc phòng được Ðảng ta đề ra từ Ðại hội VII. Và việc kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế – xã hội và đối ngoại đã được thể chế hóa bằng những chủ trương, chính sách cụ thể. Nhà nước đã từng bước thể chế hóa các chủ trương, chính sách về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ Tổ quốc, tập trung hoàn chỉnh pháp luật về quốc phòng, an ninh và đối ngoại; xây dựng quy chế thống nhất quản lý hoạt động đối ngoại và quy chế phối hợp quốc phòng, đối ngoại. Bởi vì, thế trận bảo vệ Tổ quốc là sự thống nhất và kết hợp hài hòa giữa thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, cùng với các hoạt động đối ngoại nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của đất nước. Thế trận đó phải vừa giữ vững ổn định, hòa bình cho sự phát triển, ngăn chặn và đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh; vừa sẵn sàng đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

2. Xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân, tăng cường sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

Quan điểm của Ðảng về sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh tổng hợp, không phải đơn thuần hoặc chủ yếu là sức mạnh quân sự. Trong quá trình đổi mới đất nước, Ðảng ta luôn có nhận thức đúng đắn về thế trận và lực lượng của nền quốc phòng toàn dân. Xây dựng tiềm lực quốc phòng mạnh phải đồng bộ, nhiều lực lượng, nhiều lĩnh vực cả tiềm lực kinh tế, tiềm lực quân sự, đặc biệt là tiềm lực chính trị tinh thần.

– Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân

Sức mạnh quốc phòng được tạo ra bởi sự kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng và thế trận quốc phòng; được tổ chức, bố trí hợp lý trên phạm vi cả nước kết hợp với từng hướng, từng địa bàn chiến lược, từng địa phương, cơ sở. Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng đã chỉ rõ: “Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân. Ðẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố. Tiếp tục phát triển các khu kinh tế – quốc phòng, xây dựng các khu quốc phòng – kinh tế với mục tiêu tăng cường quốc phòng – an ninh là chủ yếu, tập trung vào các địa bàn trọng điểm chiến lược và những khu vực nhạy cảm trên biên giới đất liền, biển đảo”.

– Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững chắc là một nội dung quan trọng trong xây dựng thế trận, tạo nên sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân. Trong hai mươi năm đổi mới đất nước, trước yêu cầu của sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, vấn đề xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) đã trở thành một vấn đề quan trọng trong chiến lược quốc phòng, an ninh của nước ta, được Ðảng ta nhận thức và chỉ đạo trong thực tiễn ngày càng đầy đủ và cụ thể hơn.

Xây dựng khu vực phòng thủ là xây dựng tỉnh (thành phố) vững mạnh không chỉ về quốc phòng, an ninh mà còn cả về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Khu vực phòng thủ vừa phải bảo đảm được yêu cầu bảo vệ và tác chiến trên địa bàn toàn tỉnh (thành phố), vừa nằm trong thế trận liên hoàn phòng thủ quốc gia, góp phần củng cố sự vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân của đất nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN trong mọi tình huống.

– Xây dựng cơ sở chính trị-xã hội là nội dung quan trọng của việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, được Ðảng ta hoạch định ngày càng cụ thể và sâu sắc hơn trong quá trình đổi mới. Nội dung xây dựng cơ sở chính trị – xã hội ngày càng được đề cập rõ hơn và cụ thể hơn qua các kỳ Ðại hội của Ðảng. Tại Ðại hội IX, Ðảng ta nhấn mạnh: “Xây dựng cơ sở chính trị – xã hội, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; coi trọng xây dựng thế trận trên các địa bàn chiến lược trọng yếu;xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ và công an, bảo vệ cơ sở”. Trong xây dựng cơ sở chính trị – xã hội của nền quốc phòng toàn dân, vấn đề xây dựng các tổ chức chính trị, nhất là các cơ sở, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và tăng cường công tác giáo dục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng là những nội dung rất quan trọng được Ðảng ta thường xuyên quan tâm lãnh đạo. Xây dựng cơ sở chính trị – xã hội phản ánh sâu sắc nguồn sức mạnh to lớn của nền quốc phòng toàn dân nước ta là từ nhân dân, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

– Xây dựng “Thế trận lòng dân” là nội dung cơ bản, là vấn đề mấu chốt của việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân của Ðảng trong điều kiện mới. Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng chỉ rõ: “Xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”. Có thể nói, vấn đề này có tầm quan trọng hàng đầu trong lịch sử giữ nước, chống ngoại xâm của dân tộc được Ðảng ta kế thừa xuất sắc trong thực tiễn chỉ đạo xây dựng sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trong quá trình đổi mới.

Yêu cầu cơ bản có ý nghĩa quyết định của xây dựng sức mạnh quốc phòng, của “thế trận lòng dân” là: Khi chưa xảy ra chiến tranh thì toàn dân hăng hái lao động sản xuất, mọi công dân đều có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; khi xảy ra chiến tranh thì thực hiện chiến tranh nhân dân “Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc”, tạo ra những “Tấm lưới sắt”, “Bức thành đồng”, “Thiên la địa võng” đánh giặc bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng “Thế trận lòng dân” là nội dung cơ bản nhằm hướng vào đáp ứng yêu cầu trên và cũng chỉ trên cơ sở xây dựng “Thế trận lòng dân” vững mạnh mới có điều kiện và khả năng làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, mới nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị. Ðó là sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, là bí quyết chiến thắng của nhân dân ta.

– Xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại

Tại Ðại hội IX, quan điểm xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được Ðảng ta xác định rõ phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại…”. Văn kiện Ðại hội X vẫn trên quan điểm cơ bản như Ðại hội IX, Ðảng ta đã có sự cụ thể hơn nội hàm của phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Nghị quyết nêu rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Ðảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yêu mến. Ðổi mới tổ chức, nội dung, phương pháp huấn luyện, đào tạo đi đôi với cải tiến, đổi mới vũ khí, trang bị, phương tiện phù hợp với yêu cầu tác chiến mới; phát triển khoa học quân sự, khoa học công an, nghệ thuật chiến tranh nhân dân; cải tiến phương thức hoạt động của lực lượng chuyên trách, bán chuyên trách; phối hợp với các tổ chức nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội”.

Quan điểm Ðại hội X của Ðảng thể hiện trên các nội dung chính sau:

– Kiên trì và từng bước cụ thể hóa phương châm xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Ðây là phương châm cơ bản trong quá trình xây dựng quân đội và công an. Các nội dung của phương châm này đã được Ðảng ta đề cập qua các kỳ Ðại hội trong quá trình đổi mới và hoàn chỉnh, nhấn mạnh tại Ðại hội X.

Tư tưởng xuyên suốt trong quá trình xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân của Ðảng là không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, lấy xây dựng quân đội và công an vững mạnh về chính trị làm cơ sở để xây dựng các lĩnh vực khác. Vì thế, trong quá trình đổi mới, Ðảng ta luôn chỉ đạo tập trung xây dựng những nội dung cơ bản, những vấn đề cốt lõi trong xây dựng quân đội và công an về chính trị. Ðó là vấn đề bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội và công an; lòng trung thành tuyệt đối của quân đội và công an đối với Ðảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN… Trong xây dựng quân đội và công an về chính trị, vấn đề giữ vững, tăng cường nguyên tắc Ðảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội và công an được Ðảng ta quan tâm hàng đầu, bảo đảm cho quân đội và công an luôn là lực lượng chính trị trung thành với Tổ quốc, với Ðảng, với nhân dân, vững vàng trong mọi tình huống, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Ðể nâng cao chất lượng đội ngũ, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng quân đội và công an phải thường xuyên đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, huấn luyện; đổi mới vũ khí trang bị, phương tiện; nâng cao khả năng nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, có phương thức hoạt động phù hợp để sẵn sàng đánh thắng khi có chiến tranh và giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị xã hội tạo điều kiện phát triển kinh tế.

3. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế

Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, điều hành đối với xây dựng

nền quốc phòng toàn dân.

Xuất phát từ những nhận thức mới về quốc phòng, xây dựng nền QPTD và kết quả thực hiện cơ chế theo Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị. Nghị quyết Ðại hội X xác định cần tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:

+ Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối quân sự, đường lối xây dựng nền QPTD, xây dựng LLVTND trên cơ sở những nhận thức mới và điều kiện mới về xây dựng nền QPTD.

– Tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước trong quản lý, điều hành quá trình xây dựng nền QPTD trong tình hình mới.

Sự lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước nói chung, đối với quản lý Nhà nước về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc nói riêng là vấn đề có tính nguyên tắc. Tuy nhiên ở mỗi thời kỳ cần phải xác định đúng những yêu cầu, nội dung và phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước. Yêu cầu phải tiến hành đồng bộ trong quá trình đổi mới gắn với hệ thống chính trị, với phát huy dân chủ cơ sở, kiện toàn và củng cố hoạt động của các tổ chức, đồng thời phải cụ thể hóa, thể chế hóa thành luật, điều lệ, quy chế, nguyên tắc…

Phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cần phân biệt có sự khác nhau giữa sự lãnh đạo của Ðảng với sự quản lý của Nhà nước, sự khác nhau này xuất phát từ vai trò, chức năng xã hội của mỗi tổ chức, đồng thời cần thấy rõ mối liên hệ, tính phụ thuộc lẫn nhau trong một cơ cấu chính trị – xã hội thống nhất.

Ðể tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong xây dựng nền quốc phòng theo tinh thần Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng, cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản đó là:

– Ðẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, các thể chế, quy định, phương thức hoạt động trong quá trình xây dựng nền QPTD, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện luật pháp, pháp lệnh về bảo vệ Tổ quốc và hệ thống chính sách đối với công tác quốc phòng. Xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân, trách nhiệm của các tổ chức chính trị – xã hội. Ngoài các luật, pháp lệnh Dân quân tự vệ – Pháp lệnh Quân dự bị động viên – Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng – Pháp lệnh Cảnh sát biển – Pháp lệnh Phòng không nhân dân – Pháp lệnh động viên công nghiệp khi có chiến tranh – Quy định Ðộng viên cục bộ và tổng động viên lực lượng, v.v. cần khẩn trương sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp quy cao như Luật Quốc phòng, Luật An ninh quốc gia, Luật Biên giới quốc gia, Luật Giới nghiêm và thiết quân luật, v.v.

– Tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật về quốc phòng, quân sự và an ninh, phối hợp chặt chẽ giữa quân đội và công an, điều chỉnh cơ cấu tổ chức quản lý Nhà nước về quốc phòng từ Trung ương đến cơ sở. Xác định cụ thể cơ chế vận hành, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, cán bộ chuyên trách và bán chuyên trách về công tác quốc phòng ở các bộ, ngành, địa phương. Ðối với các cơ quan chức năng cần tổ chức phân công cán bộ chuyên trách tăng cường bồi dưỡng, hướng dẫn để phát huy vai trò làm tham mưu trong tổ chức xây dựng và quản lý quốc phòng.

Tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả trong hoạt động lãnh đạo của Ðảng, quản lý của Nhà nước và trách nhiệm của toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân là yêu cầu

tất yếu của sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Trung tướng, PGS Lê Minh VụGiám đốc Học viện Chính trị quân sự

Nội Dung Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân, An Ninh Nhân Dân

Nội dung xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là xây dựng dựa trên nội dung gì?

Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Quy định nguyên tắc, chính sách, hoạt động cơ bản về quốc phòng; tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thiết quân luật, giới nghiêm; lực lượng vũ trang nhân dân; bảo đảm quốc phòng; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức; quyền và nghĩa vụ của công dân về quốc phòng được quy định cụ thể tại Luật quốc phòng năm 2018. Bài viết này Luật Dương Gia xin phép phân tích nội dung xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.

Nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh quốc phòng của đất nước, được xây dựng trên nền tảng chính trị, tinh thần, nhân lực, vật lực, tài chính, mang tính chất toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường. Nội dung cơ bản xây dựng nền quốc phòng toàn dân bao gồm:

– Xây dựng chiến lược bảo vệ Tổ quốc, kế hoạch phòng thủ đất nước; nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và hệ thống chính trị vững mạnh;

– Xây dựng thực lực, tiềm lực quốc phòng; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, có sức chiến đấu cao, làm nòng cốt bảo vệ Tổ quốc;

– Xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật; phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, khoa học, công nghệ quân sự; huy động tiềm lực khoa học, công nghệ của Nhà nước và Nhân dân phục vụ quốc phòng; ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ quân sự phù hợp để xây dựng đất nước;

– Xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm nhu cầu dự trữ quốc gia cho quốc phòng; chuẩn bị các điều kiện cần thiết bảo đảm động viên quốc phòng;

– Xây dựng phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ vững chắc toàn diện, hợp thành phòng thủ đất nước; củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh ở các vùng chiến lược, trọng điểm, biển, đảo, khu vực biên giới, địa bàn xung yếu; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong phạm vi cả nước;

– Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, biện pháp về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng;

– Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, biện pháp phòng thủ dân sự trong phạm vi cả nước;

– Đối ngoại quốc phòng;

– Kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng; kết hợp quốc phòng với an ninh, đối ngoại;

– Xây dựng và bảo đảm chế độ, chính sách đối với lực lượng vũ trang nhân dân, thân nhân của người phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân;

– Tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng; thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh.

Theo quy định trên, đặc trưng của nền quốc phòng toàn dân an ninh nhân dân là nền quốc phòng toàn dân an ninh nhân dân được xây dựng toàn diện và từng bước hiện đại. Mục đích xây dựng nền quốc phòng toàn dân an ninh nhân dân vững mạnh tạo sức mạnh tổng hợp cho đất nước. Nội dung xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân là phân vùng chiến lược về quốc phòng – an ninh gắn với xây dựng hậu phương chiến lược. Tính chất của chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc là cuộc chiến tranh toàn dân toàn diện lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm lòng cốt. Quan điểm của Đảng vừa kháng chiến vừa xây dựng được xuất phát từ truyền thống của dân tộc ta trong lịch sử chống giặc ngoại xâm.

Kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng

Kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng là sự gắn kết mọi hoạt động quốc phòng với các ngành, lĩnh vực kinh tế – xã hội có sự thống nhất quản lý, điều hành của Nhà nước để góp phần củng cố, tăng cường quốc phòng, phát triển kinh tế – xã hội. Nhiệm vụ kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng bao gồm:

Nhà nước có kế hoạch, chương trình kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong từng thời kỳ; Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế – xã hội của Bộ, ngành, vùng, địa phương, các dự án quan trọng quốc gia, khu vực biên giới, hải đảo, địa bàn chiến lược phải kết hợp với quốc phòng, phù hợp với chiến lược bảo vệ Tổ quốc;

Theo quy định trên thì đối tượng tác chiến của chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch có hành động xâm lược, phá hoại thành quả cách mạng của dân tộc. Lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam gồm các thành phần lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên. Những quan điểm, nguyên tắc cơ bản xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ mới là giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang nhân dân. Phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong giai đoạn mới là xây dựng dân quân dân tự vệ vững mạnh rộng khắp, lấy chất lượng làm chính. Kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh trong phát triển các cùng lãnh thổ là sự kết hợp chặt chẽ phát triển vùng kinh tế chiến lược, với xây dựng vùng chiến lược quốc phòng an ninh.

– Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước.

– Củng cố, tăng cường quốc phòng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt.

– Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân.

– Kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng.

– Kết hợp quốc phòng với an ninh, đối ngoại.

Đặc điểm về quốc phòng an ninh ở các vùng kinh tế trọng điểm là nơi có nhiều đối tượng mục tiêu quan trọng phải bảo vệ, mỗi vùng kinh tế trọng điểm thường nằm trong các khu vực phòng thủ và phòng thủ then chốt của đất nước. Nội dung cần kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng an ninh trong công nghiệp là bố trí một cách hợp lý trên các vùng lãnh thổ.

Củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân, sức mạnh quân sự để xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Thực hiện độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời; thực hiện chính sách hòa bình, tự vệ; sử dụng các biện pháp chính đáng, thích hợp để phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại mọi âm mưu và hành vi xâm lược.

Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; có chính sách đặc thù ở khu vực biên giới, hải đảo, vùng chiến lược, trọng điểm, địa bàn xung yếu về quốc phòng. Nhà nước ghi nhận công lao và khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.