Khái Niệm Tôn Giáo Học / Top 7 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | 2atlantic.edu.vn

Khái Niệm Tôn Giáo Từ Góc Độ Nhân Học Văn Hóa (2)

Định nghĩa tôn giáo từ góc độ nhân học

Thực tế, khó có một định nghĩa duy nhất về tôn giáo, mà chỉ có những luận điểm của các nhà nghiên cứu đứng từ nhiều góc độ khác nhau. Định nghĩa tôn giáo là một thách thức, khi thì quá rộng, khi thì không rõ ràng làm mất đi nhiều ý nghĩa của nó. Nhiều định nghĩa đưa ra quá hẹp vì chúng chỉ áp dụng vào một số nền văn hóa và một số hiện tượng mà các nhà nhân học đặt chúng trong một số phạm trù của tôn giáo một cách truyền thống. Những định nghĩa như vậy thường mang tính vị chủng, chỉ bao gồm những ý tưởng cho là “tôn giáo” đối với nền văn hóa đó.

Ngay trong nhân học tôn giáo, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra những khái niệm tôn giáo từ nhiều góc độ khác nhau. Những người theo trường phái chức năng quan tâm đến vai trò của tôn giáo trong văn hóa – xã hội(4). Tôn giáo gắn kết xã hội bằng cách kết nối các thành viên lại vói nhau trong nghi lễ và lễ hội cộng đồng. Tôn giáo tác động lên các cá nhân làm giảm bớt đi nỗi lo lắng, tính không chắc chắn bằng cách cung cấp những lời giải thích và ý nghĩa cuộc sống. Ví dụ, tôn giáo cung cấp những giải thích về việc con người đối đầu với những vấn đề khó khăn, rủi ro, bất trắc, hoạn nạn. Hay tôn giáo giải thích về những sự kiện như điều gì xảy ra sau khi chết, tại sao lại có những phép lạ, tại sao lại có những trải nghiệm khác thường. Tôn giáo không chỉ cung cấp những giải thích từ góc độ tâm linh, tình cảm đơn giản, mà tôn giáo còn góp phần an ủi giúp cho con người đối đầu với cái chết hay những điều rủi ro khác. Tôn giáo còn là hệ thống đạo đức, ban thưởng, trừng phạt, quở trách của thánh thần đối với những ai vi phạm điều cấm, vi phạm cái thiêng.

Một khái niệm, định nghĩa chung nhất về tôn giáo mà chúng ta thường gặp: tôn giáo là một hệ thống các niềm tin và ứng xử, dựa vào hệ thống biểu tượng. Bên cạnh những định nghĩa về tôn giáo mà Nguyễn Quốc Tuấn đưa ra trong bài viết của mình(5), tôi muốn cung cấp thêm một số những định nghĩa khác nhấn mạnh vào sự trải nghiệm cá nhân, tình cảm và khía cạnh văn hóa, xã hội của tôn giáo. Một định nghĩa nhân học sớm nhất về tôn giáo là hậu duệ trực tiếp của các định nghĩa thời đại Khai sáng ở phương Tây của nhà triết học, nhà thơ thuộc trường phái siêu hình Edward Herbert (1582/3-1648). Có thể coi ông là người đầu tiên đưa ra một định nghĩa ‘tôn giáo tự nhiên’. “Ý kiến chung về tôn giáo [theo Herbert] là: 1) có một vị Thần tối cao; 2) vị Thần đó phải được thờ cúng; 3) đức hạnh kết hợp với mộ đạo là phần chủ yếu của cúng thần; 4) con người phải ăn năn về tội lỗi của họ và từ bỏ chúng; 5) thưởng và phạt sau đó đến từ lòng tốt và công minh của Thần, cả trong cuộc sống này lẫn sau đó. Năm điều này chứa đựng toàn bộ học thuyết của nhà thờ Công giáo thực sự, có nghĩa là tôn giáo lý trí”(6).

Clifford Geertz đưa một định nghĩa được phổ biến rộng rãi nhất: tôn giáo là “1) một hệ thống biểu tượng hoạt động nhằm 2) thiết lập những tâm trạng và động cơ mạnh mẽ, rộng khắp, và tồn tại lâu dài trong con người bằng cách 3) hình thành nên những khái niệm về một trật tự chung của sự tồn tại và 4) khoác lên những khái niệm này bằng hào quang của sự thật mà 5) những tâm trạng và động cơ dường như là hiện thực duy nhất”(11). Trong khi đó, Otto Rank nghĩ rằng tôn giáo là trải nghiệm huyền bí của cái “thiêng” 12); Freud thì cho rằng tôn giáo là sự thể hiện của quá trình tâm lý vô thức(13); Lucien Lévy-Bruhl thì coi tôn giáo là sản phẩm của “tâm thức nguyên thủy”(14).

Các nhà khoa học không thống nhất quan điểm về khái niệm, những biểu hiện của tôn giáo. Họ nhấn mạnh những khía cạnh khác nhau của tôn giáo, như niềm tin và ý tưởng, nghi lễ, tình cảm, đạo đức, cộng đồng, xã hội. Hơn nữa, họ còn bàn về những quan điểm khác nhau trong khái niệm: thế nào là “thần thánh”, “chúa trời”, “niềm tin”, “cái thiêng”, hay “sự linh thiêng”. Cuối cùng, tôn giáo đề cập đến cái gì đó có thực “ở thế giới ngoài kia” và cái gì đó “ở trong chính chúng ta”.

Tôn giáo có lẽ bao hàm tất cả những điều trên một cách đồng thời, nhưng cũng có những sắc thái khác biệt đối với các tôn giáo khác nhau ở các dân tộc khác nhau. Điểm chung mà tôn giáo chia sẻ với những hành động xã hội và những tổ chức khác là những hành động ngôn từ mang tính nghi lễ, mối quan tâm đến cái tốt, cái xấu, hành động đúng/sai, niềm mong muốn để đạt được một số mục đích, sự thiết lập và duy trì của cộng đồng. Điều làm cho tôn giáo khác biệt với các hành động và tổ chức xã hội khác là những sức mạnh “siêu nhiên”, các thần thánh mà con người có mối quan hệ với họ.

Từ góc độ nhân học văn hóa, tôn giáo được coi như một phép loại suy của văn hóa “tới cái tối thượng”. Đó cũng là những mốì quan hệ “xã hội”, tác động tương hỗ với nhau. Robin Horton nhấn mạnh: “Trong mỗi một tình huống được gọi chung là mang tính tôn giáo, chúng ta đối mặt với hành động hướng tới đấng tối cao được tin là ứng với một số phạm trù trong văn hóa riêng của chúng ta bao gồm mục đích, trí tuệ, tình cảm… Áp dụng những phạm trù này vào đấng tối cao, tức là chúng ta đã ‘nhân cách hóa’ họ. Mối quan hệ giữa con người và các nhân vật mang tính tôn giáo có thể được xác định xa hơn khi được thống trị bởi một số ý tưởng về mẫu hình và sự bắt buộc như là việc khắc họa các mối quan hệ của con người. Nói một cách ngắn gọn, tôn giáo có thể được xem xét như là sự mở rộng lĩnh vực của mối quan hệ xã hội của con người vượt lên trên giới hạn của xã hội loài người thuần túy”(15).

Một bằng chứng rõ ràng về xã hội hóa và văn hóa hóa của các đấng siêu nhiên khi chúng ta xem xét con người nói về các vị thánh, chúa trời, và sức mạnh siêu nhiên. Trong Kitô giáo, chúa là cha – cũng là một khái niệm về quan hệ gia đình. Người Việt theo đạo Mẫu gọi Liễu Hạnh là Thánh Mẫu, Mẹ; Trần Hưng Đạo, hay Bát Hải Đại Vương là thánh, cha. Các thần thánh, chúa cũng có một số tính cách như con người, chúa của Do Thái – Cơ đốc, đặc biệt trong kinh Cựu ước, thích mùi thịt nấu, và chúa cũng ghen và tức giận. Trong kinh Tân ước, chúa cũng trải nghiệm yêu thương, sự công bằng và trả thù. Trong bất kể truyền thống tôn giáo nào, các thần thánh hoặc các lực lượng siêu nhiên đều có tính người, họ thân thiện, thù địch, thờ ơ, nói dối, hoặc những đức tính như của con người. Thực sự, tôn giáo tham gia vào các chuẩn mực, giá trị và ý nghĩa của văn hóa, xã hội.

Đối thoại tôn giáo

Như đã nói ở trên, nhân học nghiên cứu về sự đa dạng của con người và hãy để chính đối tượng nghiên cứu của chúng ta nói về văn hóa, tôn giáo của họ. Vào những năm 80 của thế kỷ trước, các nhà nhân học bắt đầu viết về các hiện tượng văn hóa, tôn giáo năng động, không phải là những truyền thông tĩnh tại. Một trong những lĩnh vực các nhà nhân học quan tâm là quan điểm của người dân, người bản địa về tôn giáo của họ, những đối thoại của họ với chính phủ, với các tôn giáo được công nhận chính thức khác để bảo vệ những giá trị văn hóa, xã hội trong tôn giáo của họ. Trong phần này, tôi sẽ đưa ra một ví dụ về đối thoại tôn giáo của người Wana trong bài viết “Đối thoại tôn giáo: Thiết lập tôn giáo của một dân tộc thiểu số ở Indonesia” của Atkinson(17). Dân tộc Wana có khoảng 5.000 người sống ở vùng rừng núi nằm sâu trong lục địa của miền Đông Sulawei Tengh, Indonesia. Đa số những người sống ở vùng cao này vẫn là những người ngoại đạo, thực hành tín ngưỡng Saman giáo và gần đây mới có sự du nhập của Kitô giáo, trong khi những dân tộc ở vùng biển và ở chân núi thì chủ yếu theo Hồi giáo. Atkinson mô tả tôn giáo Saman của người Wana và sự hiểu biết của họ về “tôn giáo”, cũng như các ý đồ chính trị tôn giáo trong những năm 70 của thế kỷ trước như hệ quả của một quá trình lịch sử tiếp xúc lâu dài của người Wana với những người theo Hồi giáo và Kitô giáo, và với lịch sử hiện đại của chính phủ Indonesia. Căn cứ vào những hiểu biết về văn hóa của một vùng và một xã hội mà Atkinson dự định nghiên cứu, thì tôn giáo bản địa thường tập trung chủ yếu vào bệnh tật và chữa bệnh. Nhưng thật ngạc nhiên, Saman giáo của người Wana là một tôn giáo đích thực, thể hiện rõ ràng nhất trong khi nói về ăn kiêng và về chính phủ. Người Wana đã thiết lập cho họ một “tôn giáo” phân biệt với tôn giáo của những người láng giềng theo Hồi giáo và Kitô giáo. Người Wana kêu gọi phải công nhận một thực tế mà ý nghĩa “tôn giáo” đối với những người theo tôn giáo thế giới là không rõ ràng, không giống tôn giáo của họ.

Agama là từ chỉ “tôn giáo” trong đa số các ngôn ngữ của những dân tộc ở Indonesia, bao gồm cả tiếng quốc ngữ Bahasa. Agama là những khái niệm về sự tiến bộ, hiện đại hóa, về sự gắn bó với các mục đích dân tộc. Khái niệm tôn giáo chính thống ở Indonesia bị ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp bởi quan niệm “tôn giáo” của phương Tây. Các dân tộc thiểu số bị coi là kém phát triển, lạc hậu, hay ít hiểu biết, những con người thực tế là không có tôn giáo, mà chỉ có những thực hành mang màu sắc mê tín dị đoan.

Chính sách tôn giáo của Indo­nesia cho rằng thành viên của các tôn giáo thế giới có sự đảm bảo tự do và bao dung tôn giáo dưới bảo trợ của sự thống nhất và mục tiêu quốc gia. Đối với người theo những thực hành tôn giáo truyền thống thì bị chỉ trích là không có tôn giáo được nhà nước công nhận chính thức và theo chủ nghĩa dân tộc. Theo lôgíc của nhiều nhà dân tộc chủ nghĩa, những người ngoạiđạo Wana và những người vô thần có chung hai đặc điểm: từ chối theo một tôn giáo chính thức và đối lập với chính phủ. Như vậy, người Wana với thực hành tôn giáo Agama của họ là trung tâm trong mối quan tâm của chính phủ vi tôn giáo của họ mang mầm mống đáng lo ngại về mặt chính trị. Đối với nhiều người Wana, dù họ phải đóng thuế, làm việc cho nhà nước, họ vẫn bị coi là những người không chịu sự điều hành của nhà nước chỉ vì họ không có tôn giáo.

Để khắc họa tôn giáo của mình, người Wana đã đưa ra những khuôn mẫu tôn giáo thế giới giống với tôn giáo của họ và tạo ra bức tranh về một tôn giáo nên thế nào. Đó là tất cả những quy định về ăn kiêng, chôn cất, phương pháp chữa bệnh, nghi lễ nông nghiệp, phép tắc về tình dục, những đặc trưng về nghi lễ, mối quan hệ với chính phủ, là những đặc tính tôn giáo mà người Wana đưa ra. Chẳng hạn, Hồi giáo là một tôn giáo kiêng ăn một số món, thì người Wana có quan điểm rằng tôn giáo của Wana là một tôn giáo cho rằng tất cả các loại thực phẩm đều ăn được, đặc biệt là thịt lợn và thịt chuột mà cả hai loại thịt này được người Hồi giáo cho là bẩn thỉu. Kitô giáo có phẩn giống đạo của người Wana vì họ không kiêng kỵ một loại thức ăn nào.

Người Wana chấp nhận một điều rằng agama của họ là tôn giáo ở giai đoạn đầu, nhưng đối với họ ưu thế không phải là tính nguyên thủy mà là giá trị xã hội, và họ có một ý thức về mối quan hệ ruột thịt của các tôn giáo. Họ coi Hồi giáo ở vị trí như là người em của tôn giáo Wana. Người Wana đã đưa ra những khái niệm sơ lược về ý thức tôn giáo trong quá trình hình thành. Trong lời tổng hợp ngắn gọn về quan điểm tôn giáo của người Wanna, có thể trích dẫn tuyên bố của Cliffort Geertz: “Dường như ở khắp nơi quá trình duy lý hoá tôn giáo được gợi mở ra bởi sự lung lay tận gốc nền tảng của trật tự xã hội”(l8). Một khi cho rằng tôn giáo là một trong những hình thức mang tính chính trị ở Indone­sia, thì không khỏi ngạc nhiên hiểu rằng sự đáp lại của người Wana cũng được hiểu tương tự như tuyên bố của Geertz.

Qua bài viết của Atkinson, chúng ta thấy ngưòi Wana dùng tôn giáo bản địa Agama của mình để đối thoại với tôn giáo thế giới. Nói một cách khác, Atkinson đã thấy người Wana không đơn giản chỉ là “sống với tôn giáo của họ” mà còn sử dụng tôn giáo bản địa của mình trong đối thoại với chính phủ Indonesia, với những cộng đồng láng giềng theo Hồi giáo và Kitô giáo.

Thay cho lời kết

Tôn giáo được hiểu như là một hệ thống tư tưởng, giáo lý bằng văn bản, mà những người có đức tin theo, còn những thực hành tôn giáo, niềm tin, nghi lễ dân gian không có hệ thống các nguyên tắc và tổ chức chặt chẽ bị coi là tín ngưỡng đứng hàng thứ yếu. Khái niệm này đã có ảnh hưởng sâu rộng trên khắp thế giới khiến cho một số nhà cải cách tôn giáo ở một số nước đã cải biên lại tôn giáo truyền thống của họ cho “hiện đại” theo những tư tưởng về tôn giáo của phương Tây. Đối với nhân học, những hệ thống giáo lý này lại không phải là trọng tâm nghiên cứu, mà thực hành của người dân, ý nghĩa tôn giáo trong đời sống tâm linh, những vấn đề văn hóa xã hội của các sinh hoạt tôn giáo mới là những vấn đề mà các nhà nhân học quan tâm hàng đầu.

Bài viết đã một phần nói lên rằng ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới bị tác động nặng nề của thuật ngữ tôn giáo với những khái niệm và sắc thái ý nghĩa Kitô giáo của phương Tây. Một số những hình thức thực hành tôn giáo bản địa của người Kinh cũng như các dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam không được công nhận chính thức, và một số hình thức khác như lên đồng, bói toán, bùa chú, đốt vàng mã,… bị coi là mê tín dị đoan và bị hạn chế thực hành. Văn hóa và tôn giáo của một tộc người có một tập hợp ngôn ngữ và biểu đạt riêng. Việc áp dụng thuật ngữ của văn hóa, tôn giáo với sắc thái ý nghĩa của xã hội này vào những xã hội khác có thể dẫn đến những cách hiểu sai lệch, thậm chí còn “chê bai và mai mỉa di sản của người xưa”(19). Để kết thúc bài viết, tôi xin trích câu viết của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Từ xa xưa dân tộc ta không có tôn giáo theo nghĩa thông thường của nhiều nước khác. Còn nói tôn giáo là thờ cúng thì mọi người đều thờ cúng ông bà, họ đều thờ cúng tổ tiên… Từ góc độ văn hóa, tôi thấy đây là một đặc trưng đáng trọng của người Việt Nam, ở chỗ nó là sự tưởng nhớ những người có công trong việc tạo lập cuộc sống ngày nay trong mỗi gia đình và làng xóm”(20).

CHÚ THÍCH:1. Xem: Frazer, James. The Golden Bough: A Study in Magic and Religion (Cành vàng: Một nghiên cứu ma thuật và tôn giáo).London: Macmillan, 1958: VII.2. Xem: Evans-Prichard, E.E. Wichcraft, Oracles, and Magic Among the Azande (Phù thủy, màu nhiệm, và ma thuật của người Azande).New York: oxfordUniversity Press, 1937, tr. 63.3. Xem: Eller, Jack David. In­troducing Anthropology of Religion (Nhập môn nhân học tôn giáo).New York: Routledge, 2007, tr.6.4. Xem: Malinowski, Bronislaw. Sđd và Durkheim, Emile. The Elemen­tary Foms of the Religious Life(Những hình thức sơ khai của cuộc sống tôn giáo). Bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Joseph Ward Swain. New York: The Free Press, 1965.5. Xem: Nguyễn Quốc Tuấn. Đd, tr. 9-10.6. Xem: Keyes, Charles F. “The Decline and Rise of the Anthropologi­cal Study of Religion” (Dẫn luận: Sự thăng trầm của nghiên cứu nhân học về tôn giáo”. Đào Thế Đức dịch, trong Những vấn đề nhân học tôn giáo, tạp chí Xưa Nay, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2006, tr. 17.7. Xem: Tylor, E. B. Primitive Cul­ture: Researches into the development of Mythology, Philosophy, Religon, Language, Art and Custom (Văn hóa nguyên thủy: Nghiên cứu sựphát triển của thần thoại học, triết học, tôn giáo, ngôn ngữ, nghệ thuật và phong tục). London: J. Muray, 1871.8. Xem: Frazer, James. Sđd, tr. 58-59.9. Xem: James, William, The Varieties of Religious Experience: A Study in Human Nature ( Sự đa dạng của trải nghiệm tôn giáo: Một nghiên cứu bản chất con người).New York: Mentor Books, 1958, tr. 34.10. Xem: Radin, Paul. Primitive Religion: Its Nature and Origin (Tôn giáo nguyên thủy: Bản chất và nguồn gốc).New York: Dover Publications, 1957, tr.3.11. Xem: Geertz, Clifford. The Interpretation of Cultures (Diễn giải văn hóa).New York: Basic Books, 1973, tr.90.12. Xem: Rank, Otto. The Myth of the Birth of the Hero: A Psychological Interpretation of Mythology(Thần thoại về sự ra đời của người anh hùng: Lý giải phân tâm học về thần thoại học). The Journal of Nervous and Mental Disease Pub. Co., 1914.13. Xem: Freud, Sigmund. The Standard Edition of the Complete Psychological Works of Sigmund Freud(Tuyển tập các công trình phân tâm học của Sigmund Freud), tập XXI: The Future of an Illusion (Tương lai của những ảo tưởng) (1927), James strachey dịch, London: Hogarth Press.14. Xem: Lévy-Bruhl, Lucien. The notebooks on primitive mentality: Ex­plorations in interpretative sociology (Sách về trí tuệ nguyên thủy: Khám phá trong xã hội học diễn giải). Pub­lisher: Harper & Row, 1975.15. Xem: Horton, Robin. “Defini­tion of Religion, and its Uses” (Định nghĩa tôn giáo và ứng dụng của nó). Journal of the Royal Anthropological Institute of Great Britain and Ireland, 90 (2), 1960, tr.201-226.16. Xem” Eller, Jack David. Sđd, tr.9-1017. Xem: Atkinson, Jane Monnig. “Religions in Dialogue: The Con­struction of an Indonesian Minority Religion” (Đối thoại tôn giáo: Thiết lập tôn giáo của một dân tộc thiểu số của Indonesia). American Ethnologist,Vol. 10, No. 4 (Tháng 11,1987, tr. 684- 696). Bản thảo tiếng Việt do Nguyễn Thị Hiền dịch cho seminar về Nhân học tôn giáo tín ngưỡng và nghi lễ, Bảo tàng dân tộc học Việt Nam và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10 năm 2007.18. Xem: Geertz, Cliffort, Sđd, tr.17319. Xem: Nguyễn Quốc Tuấn. Đd, tr.3.20. Xem: Phạm Văn Đồng. Văn hóa và Đổi mới. Nxb. Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 1994, tr.75.

Nghiên Cứu Triết Học Tôn Giáo

Đầu tiên xin được giới thiệu đôi nét về tác giả. Tiến sĩ Lê Văn Tùng chính là Thượng tọa Thích Giác Duyên. Được biết Thượng tọa tốt nghiệp Tiến sĩ tại Trung Quốc, hiện đang là giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam tại chúng tôi trụ trì Tịnh xá Phú Cường tại Gia Lai. Sở dĩ Thượng tọa lấy tên tác giả là thế danh vì muốn tác phẩm dễ dàng được mọi giới đón nhận.

Trong Lời giới thiệu, chúng tôi Nguyễn Hồng Dương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã đánh giá đây là một công trình Nghiên cứu Triết học Tôn giáo có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn . Bởi “Chúng ta đã có những tập đại thành về một số tôn giáo lớn ở Việt Nam như Phật giáo, Công giáo; có những công trình nghiên cứu triết học Việt Nam, triết học về một tôn giáo cụ thể do người Việt nghiên cứu, nhưng nghiên cứu triết học tôn giáo thành một công trình riêng do người Việt thực hiện vẫn còn rất khiêm tốn”.

Công trình Nghiên cứu Triết học Tôn giáo gồm 9 chương. Trong phần Dẫn nhập, tác giả đã viết: “Tôn giáo, dẫu đó là Phật giáo, Hồi giáo hay Kitô giáo… cũng đều cung cấp cho con người những ý nghĩa và mục đích cuộc sống”. Đây cũng là một trong những lý do thúc đẩy tác giả nghiên cứu Triết học Tôn giáo.

Tác giả đã trình bày cho chúng ta từ khái niệm Triết học, khái niệm Tôn giáo cho đến khái niệm Triết học Tôn giáo. Từ đó, cho chúng ta biết “vấn đề cơ bản trong Triết học Tôn giáo là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại (bản thể) và không tồn tại, giữa vật chất và tâm linh”. Và “Bản chất hoặc đặc điểm của tôn giáo là Tin; bản chất hoặc đặc điểm của triết học là Tư”(Chương I: Hàm nghĩa cơ bản về Triết học Tôn giáo)

Cũng theo tác giả: “Từ cổ chí kim… Mỗi người tùy theo khả năng của mình đã cố gắng vén mở bức màn bí ẩn của cuộc đời”. Điều này có lẽ ai trong chúng ta cũng đã một lần tự hỏi, đại loại như: Con người từ đâu đến? Chết sẽ đi về đâu? Điều này, theo triết lý một số tôn giáo, thế giới và con người là do Thượng Đế sáng tạo ra. Còn theo Phật giáo thì tất cả vũ trụ vạn vật đều vận hành theo giáo lý Duyên khởi. Chính ” Giáo lý Duyên khởi giúp cho chúng sanh nhận thức được nguyên nhân và sự hình thành của các pháp tất cả là do nhân duyên kết hợp mà thành, nhân duyên ly tán các pháp liền tan rã”. (chương IV: Luận thần Chánh nghĩa)

Ở một vấn đề khác, tác giả đã so sánh Luân lý Tôn giáo và Luân lý Thế tục. Đây là một khía cạnh mà theo chúng tôi là rất thú vị, cần được tìm hiểu. Theo đó, “luân lý tôn giáo và luân lý thế tục có mối quan hệ mật thiết với nhau”. Và “Luân lý Thế tục mang tính chất tiếp thu và kế thừa từ Luân lý Tôn giáo”. Tác giả cũng đã phân tích góc nhìn của luân lý tôn giáo đối với những vấn đề thực tiễn như: Vấn đề bom nguyên tử, nạo phá thai, vấn đề trợ tử. Và đâu là câu trả lời của Phật giáo đối với những vấn nạn của thời đại? Đáp án sẽ đến với bạn trong chương VIII: Luân lý Tôn giáo và Luân lý Thế tục.

Từ cách giải quyết vấn nạn thời đại của các tôn giáo chúng ta sẽ cùng tác giả nhìn về Tương lai Tôn giáo (chương IX). Tác giả đã phân tích xu thế đời sống Tôn giáo hiện nay qua ba phương diện: 1. Toàn cầu đa dạng, thế tục hóa; 2. Phù hợp với đạo đức và 3. Thời đại khoa học. Chương này cũng trình bày quan điểm của một số nhân vật về tôn giáo tương lai với câu nói nổi tiếng của nhà khoa học vĩ đại Albert Einstein: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo”.

“Nghiên cứu Triết học Tôn giáo” còn đề cập đến rất nhiều vấn đề khác nữa mà trong giới hạn bài giới thiệu chúng tôi không thể đề cập hết được. Như vấn đề Thần và tồn tại (chương II), phân tích về Kinh nghiệm Tôn giáo (chương V), vấn đề Sống và chết (chương VII)… Rất nhiều điểm thú vị, một “chân trời triết học” chờ bạn khám phá và tìm hiểu. Xin mượn câu kết của tác giả để khép lại bài giới thiệu:

“Hiểu triết học tôn giáo giúp cải thiện, xây dựng mối quan hệ yêu thương giữa người với người, hướng con người vào những việc thiện, biết giữ gìn đạo đức và xa lánh những điều ác. Hiểu về triết học tôn giáo, sẽ có niềm tin chơn chánh về thế giới tâm linh, biết được vấn đề tôn giáo tương lai”.

Xin giới thiệu đến mọi người. NGHIÊN CỨU TRIẾT HỌC TÔN GIÁO. Tác giả: Tiến sĩ Lê Văn Tùng (Thượng tọa Thích Giác Duyên). Nhà xuất bản Tôn Giáo. 455 trang.

Đến đây, thiết nghĩ có một điều chúng tôi cũng nên chia sẻ với độc giả. “Nghiên cứu Triết học Tôn giáo” là một công trình nghiên cứu thật sự ý nghĩa và thiết thực, nhưng số lượng bản in hiện tại rất khiêm tốn (chỉ 300 cuốn). Mong qua bài giới thiệu này sẽ góp chút “nhân duyên” để cuốn sách có thể lưu hành rộng rãi đến mọi người, mọi giới.

TP.HCM, ngày 19-06-2018

Thích Nhật Đạo

Tôn Giáo Là Khái Niệm Về Hình Thức Ở Xã Hội

[MINH HUỆ 6-8-2018] “Tôn giáo” là khái niệm của xã hội. Bản thân khái niệm “tôn giáo” là được hiểu khác nhau ở các địa phương khác nhau. Do đó, khi chế định ra phương thức hoạt động của một môn phái, nhất là môn phái toàn cầu, thì không dựa vào khái niệm mang tính văn hóa cục bộ như vậy. Nhưng khi môn phái đó ra hoạt động ở xã hội, thì con người ở xã hội khác nhau có thể gọi đó là “tôn giáo” hoặc “không phải tôn giáo”, ấy là do khái niệm ở xã hội mà thành ra lối gọi như thế.

Nghĩa là, có sự phân biệt giữa (i) cách thức hoạt động của nội bộ (tức là bản chất) và (ii) nhìn nhận từ bên ngoài, từ xã hội. Cái thứ nhất (i) nên là nhất quán, nó không nên phụ thuộc vào địa phương, tập tục, hay thể chế; còn cái thứ hai (ii) thì có phụ thuộc vào văn hóa các nơi khác nhau mà trở nên khác nhau.

Thời gian gần đây, cá nhân tôi tham gia nhiều lần chia sẻ về nhận thức về kinh văn 23-4-2018 ở các nhóm; nay xin viết bài chia sẻ ra nhận thức của mình.

Trước hết xin phép trích dẫn nguyên bản kinh văn của Sư phụ:

Về vấn đề định nghĩa Pháp Luân Đại Pháp ở xã hội người thường Không có tôn giáo nào mà thời đầu sư phụ của môn ấy truyền Đạo nói rằng mình là ‘tôn giáo’, nhưng về hình thức nơi xã hội người thường thì đều chung quy thành ‘tôn giáo’. Cho nên ở xã hội nhân loại vì để phù hợp luật pháp người thường, [chúng ta] có thể dùng [danh nghĩa] tôn giáo đăng ký, có thể thừa nhận là đoàn thể tôn giáo theo định nghĩa của người thường. Lý Hồng Chí 23 tháng Tư, 2018

Tất cả những trường hợp (1) (2) và (3) thì Sư phụ đều có giảng giải rõ ràng, phân tích kỹ lưỡng, đảm bảo học viên thực hiện cho đúng, lưu lại ở thế gian một cách thức ổn định lâu dài.

Nhưng có những học viên sau khi đọc kinh văn ngắn “Về vấn đề định nghĩa Pháp Luân Đại Pháp ở xã hội người thường” đã hiểu lầm rằng chúng ta sẽ biến thành “tôn giáo” (tức là hiểu rằng đây là chúng ta đang cải cách phương thức vận hành nội bộ); hoặc cho rằng học viên Việt Nam chúng ta cũng đi đăng ký làm “tôn giáo” (tức là không tính đến vấn đề “người ta nhìn nhận chúng ta như thế nào”). Đó đều là hiểu lầm.

Ở Việt Nam, thì cách thức chúng ta hoạt động hiện không phải là “tôn giáo” theo khái niệm “tôn giáo” của người Việt đang hiểu. Nhưng ở một quốc gia khác, ví như Mỹ quốc, thì họ có thể gọi chúng ta là “tôn giáo”. Đây là do văn hóa khác biệt, chứ không phải do cách thức hoạt động của chúng ta không nhất quán.

Giả sử tình huống ta đến cơ quan nhà nước Mỹ và đăng ký tôn giáo. Người ta hỏi: Các vị hoạt động thế nào? Ta trả lời: Chúng tôi tin vào Chân-Thiện-Nhẫn, hoạt động thế này thế này. Người ta bèn trả lời: OK, tôi nhận đăng ký của các vị. Họ nhận đăng ký bởi vì chúng ta đúng là theo khái niệm “tôn giáo” mà họ hiểu.

Giả sử tình huống ta đến cơ quan nhà nước Việt Nam và đăng ký tôn giáo. Người ta hỏi: Các vị hoạt động thế nào? Ta trả lời: Chúng tôi hoạt động thế này thế này. Người ta từ chối và nói: Các vị không có chức sắc như “thượng tọa” “phương trượng” “trụ trì”, các vị không có những thứ như “quy y” hay “lễ rửa tội”, các vị không giống khái niệm “tôn giáo” mà chúng tôi hiểu, vì thế chúng tôi không nhận đăng ký của các vị được.

Ở trong kinh văn, Sư phụ viết rõ “vì để phù hợp luật pháp người thường”, nghĩa là tiền đề là người ở xã hội ấy nhìn nhận rằng chúng ta đúng là phù hợp theo khái niệm “tôn giáo” của họ, thì chỉ khi ấy, vấn đề “đăng ký” hay gì gì đó mới trở nên có ý nghĩa.

Bài kinh văn 23-4-2018 là giảng về vấn đề (ii) hòa nhập vào xã hội, không phải vấn đề (i) cơ chế hoạt động nội tại.

Phật Giáo Như Là Một Triết Học Hay Một Tôn Giáo

Triết lý siêu việt của đạo Phật đã trở thành một trong những đỉnh cao tư tưởng của lịch sử triết học Đông phương cũng như Tây phương. Phật giáo đã vượt ra khỏi một tôn giáo và là một tư tưởng triết học.

Nếu hiểu tôn giáo hay đạo (religion) là niềm tin tuyệt đối vào Thượng đế (God), là đấng sáng tạo (creator) ra vũ trụ, và có nhiều quyền lực toàn năng để người theo đạo đó tôn thờ thì ở Tây phương có các đạo như Đạo Thiên Chúa (Catholicism), Đạo Cơ Đốc (Christianity), Đạo Do Thái (Judaism), Đạo Hồi (Islam). Các đạo này là đạo thờ có một Thần hay gọi là các tôn giáo độc thần (monotheistic religions). Còn ở Ấn Độ thì có Ấn Độ giáo (Hinduism) thờ nhiều thần hay đạo đa thần (polytheistic religion). Như vậy Phật giáo không được coi là một tôn giáo, bởi vì:

– Phật giáo không tin có Thượng đế (God), không tin có Đấng Sáng Tạo (creator) ra vũ trụ và kiểm soát số phận định mệnh của nhân loại.

Đức Phật là một con người lịch sử (historical person). Ngài không bao giờ tự xưng mình là Thượng đế, không bao giờ tự xưng mình là Đấng Sáng Tạo ra vũ trụ.

Phật giáo không chấp nhận ở đức tin mù quáng và tuyệt đối. Phật giáo khuyên mọi người đừng thụ động chấp nhận những điều gì bạn đã đọc hay nghe, và cũng đừng tự động phản đối các điều đó ngay. Người nghiên cứu đạo Phật cũng như người Phật tử cần phải dùng trí tuệ của mình để phán đoán các điều ấy.

Đức Phật đã từng dạy: “Đừng chấp nhận bất cứ ta nói một cách thụ động và dể dàng bởi vì đó là lời ta nói ra, bởi vì đệ tử kính trọng ta, nhưng đệ tử phải suy xét, phán đoán các điều ấy. Sau khi khảo sát các lời dạy của ta, nếu đệ tử thấy đó là điều đúng thì mới thực hành, còn nếu không đúng thì đừng nghe và làm theo.”

Nếu hiểu tôn giáo là niềm tin vào đạo lý và sự thực hành các nghi lể, tục lệ và tổ chức của một nhóm người, của một tổ chức thì Phật giáo là một tôn giáo cũng như các tôn giáo khác như đạo Thiên Chúa, đạo Do Thái, đạo Hồi , Ấn Độ giáo v…v…

Phật giáo như là một Triết học

Nghiên cứu triết học nhằm giúp ta phán đoán và đi tìm chân lý, đi tìm sự thật. Điều nầy không có nghĩa là lúc nào ta cũng tìm được sự thật, nhưng có điều chắc chắn rằng mục đích của chúng ta là đi tìm sự thật.

Nói cách khác, nếu hiểu triết học là sự yêu mến trí tuệ giác ngộ thì Phật giáo là một triết học, bởi vì Phật giáo đã: – hướng dẩn ta nhận thức sáng suốt về các hành động và tư tưởng của ta; giúp ta phát triển trí tuệ giác ngộ, sự hiểu biết chân lý.

Ở trong quyển Anguttara Nikaya (Tăng nhất tập) có đoạn ghi lời Đức Phật như sau: “Đừng tin tưởng những điều gì dựa vào tập quán , những bài văn viết lưu truyền lại. Đừng tin những gì được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Đừng tin tưởng những điều gì do các bậc thánh nhân, giáo chủ nói lại. Ngay cả đừng tin tưởng vào những điều mà thầy học của mình, tôn sư của mình nóí ra. Điều quan trọng là chúng ta phải kiểm nghiệm những lời nói, những điều do các bậc nêu trên dạy, ta phải nhận rõ đâu là chỗ đúng, đâu là chỗ sai, đâu là điều có lợi cho mình, cho kẻ khác. Các đệ tử hãy lấy đó làm tiêu chuẩn sống ở trong cuộc đời nầy.”

Lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng như của các nhà tư tưởng Phật giáo sau nầy đều chú trọng đến sự khảo sát nghiên cứu điều gì cũng hết sức kỹ lưỡng, hợp lý. Đây chính là những điều cơ bản của các triết gia Tây phương, triết gia Ấn Độ làm nền tảng cho các lý luận của mình. Như vậy, Phật giáo được coi như là một triết học, do đó Đức Phật được kính trọng như là một triết gia lớn(the Great Philosopher)/ một nhà tư tưởng lớn (the Great thinker). Triết gia là người theo đuổi chân lý (Philosopher goes in pursuit of truth) đã khám phá được chân lý và truyền bá chân lý nầy cho người khác.

Để nghiên cứu Phật giáo như là một triết học, chúng ta sẽ nghiên cứu các tư tưởng tôn giáo có trước khi Đức Phật ra đời và có cùng thời với Đức Phật, các lời dạy của Đức Phật, các lý thuyết triết học và các lý luận của các luận sư Phật giáo sau ngày Đức Phật nhập Niết bàn. Như vậy, chúng ta sẽ không đi sâu vào việc tìm hiểu các giới luật của tăng đoàn (Buddhist monastic order of Sangha) gồm có Tăng và Ni. Chúng ta cũng không đi sâu vào các bài viết có tính đại chúng (popular writing ) nhằm soạn giảng các bài học luân lý cho các thính giả bình thường . Dĩ nhiên, chúng ta sẽ không tìm hiểu các kiến trúc, điêu khắc, tranh vẽ Phật giáo ở đây.Các điều nầy đã được trình bày trong các bài viết hay trong các sách khác. Chúng ta sẽ tìm hiểu lời dạy của Đức Phật và sự khai triển lời dạy nầy bởi các luận gia Phật giáo.Những phán đoán thuần lý và lý luận của các vị nầy, những kết luận về quan điểm của họ. Từ đó, chúng ta sẽ nhận rõ chân lý của lời Phật dạy.

Trong lời dạy của Đức Phật mà các nhà tư tưởng Phật giáo thường dựa vào quan niệm về thế giới tự nhiên thì có điểm không đúng với khoa học tự nhiên ngày nay. Thí dụ như quan niệm các vật thể thông thường như đá, bàn ghế đều do bốn nguyên tử khác nhau cấu thành: đất, không khí, nước và lửa (earth, air, water, fire). Trong triết học cổ đại của Hy Lạp cũng có quan niệm tương tự.Các triết gia ngày xưa , gọi nước là một yếu tố, họ đã nghĩ rằng chỉ có một chất căn bản là chất lỏng. Ngày nay, có sự phân biệt giữa nước (H2O) với rượu, ethyl ( ethyl alcohol) trong hai loại nầy có yếu tố lửa ( fire element) ở mức độ khác nhau. Hơn nữa, vật chất được cấu tạo bởi nhiều yếu tố hơn là 4 yếu tố trên. Ngay cả yếu tố màu sắc (color) cũng không do 4 yếu tố trên cấu thành.

Như vậy, triết lý Phật giáo có bị lỗi thời trước quan niệm của khoa học về thế giới tự nhiên hay không?

Tôi xin trả lời rằng triết lý Phật giáo vẫn là tư tưởng đáng tôn trọng. Thật vậy, khi nghiên cứu triết học cổ đại của Hy Lạp, triết gia Aristotle ( Hy Lạp 384 Công nguyên -322 CN) tin rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ (the earth is the center of the universe ) . Ngày nay, chúng ta biết điều nầy là sai lầm, nhưng Aristotle vẫn được tôn trọng là một triết gia quan trọng trong lịch sử triết học Tây phương. Trong việc nghiên cứu triết học cổ đại, chúng ta sẽ bỏ qua những phần trái với kiến thức khoa học hiện đại và chúng ta sẽ chú trọng vào các phần còn lại.

Khi nghiên cứu “Phật giáo như là một triết học”, chúng ta sẽ nghiên cứu các lãnh vực triết học chính yếu của Phật giáo như sau: -Vũ trụ luận, Nhận Thức luận, Nhân minh luận hay luận lý học, Luân lý luận hay Đạo đức học , Giải thoát luận hay con đường giải thoát của đạo Phật.

Chúng ta thấy có nhiều nơi sử dụng danh từ “Phật giáo” và “Phật học” (Buddhist studies) gần như đồng nghĩa. Tuy nhiên hai danh từ này có chổ phân biệt tế nhị: – Phật giáo ý chỉ yếu tố tôn giáo của đạo Phật, còn Phật học ý chỉ yếu tố triết học, sự nghiên cứu về đạo Phật, về học thuyết của đạo Phật.

Trong suốt 45 năm thuyết pháp, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã không viết một chữ nào về các lời giảng dạy của Ngài. Tương tự như vậy, các Triết gia Trung Hoa sống đồng thời với Thích Ca như Khổng tử, Lảo tử cũng đã không để lại một chữ viết nào về các lời dạy của các Ngài. Lời dạy của Thích Ca được truyền khẩu qua nhiều thế hệ. Khoảng 500 năm sau ngày Đức Phật nhập Niết Bàn thì Giáo đoàn (Sangha) mới bắt đầu tập hợp lại các lời dạy của Ngài, và ghi lại các lời dạy này trong các cuốn Phật kinh (Sutra) căn cứ vào ký ức của các bậc trưởng thượng. Những lời nói trong kinh văn có nhiều nơi khó hiểu, đôi khi hầu như không thể hiểu được vì các bản văn ghi lại quá giản lược, và chỉ trở nên dể hiểu, chỉ trở nên một tư tưởng triết học thâm sâu nhờ sự soi sáng bằng các bài bình giảng văn chương, các bài nghị luận triết học của các bậc học giả có trí tuệ, các vị này còn tìm hiểu và khai phá những ý tưởng thăng trầm ẩn tàng trong các kinh điển ấy.

Đạo Phật không lưu lại một kinh điển do chính Thích Ca Mâu Ni viết bằng một văn tự nào; đây có thể là một ưu điểm, và có thể là một may mắn cho tư tưởng Phật giáo. Điều này giúp cho tư tưởng Phật giáo không bị dính chặt vào văn tự, nhờ thế các nhà diễn giải, các luận sư đã làm rực rỡ, và đã điểm tô Triết học Phật giáo thành rừng Triết học đầy kỳ hoa dị thảo. Do đó, khi nghiên cứu tư tưởng Phật giáo, người học Phật cần đem sự hiểu biết, trí tuệ của mình để có thể thấu hiểu cái triết lý thâm sâu và siêu việt này.

Đạo Phật lúc mới đầu là một triết học, nhưng dần dần dân tộc Ấn độ biến đạo Phật thành một tôn giáo. Rồi tôn giáo này được truyền bá qua các nước Á Châu như Tây Tạng, Trung Hoa, Sri Lanka, Miến Điện, Đại Hàn, Việt Nam, Nhật Bản… và các nước Tây phương như Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Canada, Úc … Ngày nay với sự phát triển vượt bực, đạo Phật đã trở thành một trong những tôn giáo lớn của thế giới. Đạo Phật đứng hàng thứ tư sau Cơ đốc giáo, Hồi giáo và Ấn độ giáo. Triết lý siêu việt của đạo Phật đã trở thành một trong những đỉnh cao tư tưởng của lịch sử triết học Đông phương cũng như Tây phương. Phật giáo đã vượt ra khỏi một tôn giáo và là một tư tưởng triết học.

GS Ngọc Vĩnh Thượng