Khái Niệm Phong Trào Độc Lập Dân Tộc / 2023 / Top 20 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | 2atlantic.edu.vn

Bài 20. Phong Trào Độc Lập Dân Tộc Ở Châu Á (1918 / 2023

Bài 20. Phong trào độc lập dân tộc ở châu Á (1918 – 1939)

Trường :THCS Nguyễn TrãiGV:Võ Đăng Khoa

Mụn :L?ch S? L?p :8TIẾT 30. Bài 20 PHONG TRÀO ĐỘC LẬP DÂN TỘC Ở CHÂU Á (1918 – 1939) II.PHONG TRÀO ĐỘC LẬP DÂN TỘC Ở ĐÔNG NAM Á (1918-1939).1. Tình hình chungBẢN ĐỒ CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNGVIỆT NAMTHÁI LANMALAYXIAINÑÔNÊXIAPHILIPPINMIANMACAMPUCHIALAOÔXTRÂYLIAẤN ĐỘ DƯƠNGTHÁIBÌNHDƯƠNGTRUNG QUỐCMÔNG CỔLIÊN XÔNHẬT BẢNẤNĐỘVIỆT NAMMALAIXIAINÑÔNÊXIAHOA KÌCANAĐATRIỀU TIÊNTHÁI LANPHI-LIP-PIN– Thuộc địa của Pháp: Ba nước Đông DươngPPP– Thuoäc ñòa cuûa Anh: Ma-Lai-xi-a; Mieán Ñieän; …AA– Thuộc địa của Hà Lan: In-đô-nê-xi-aH– Thuộc địa của Tây Ban Nha, sau đó là Mỹ: Phi-líp-pinTBẢN ĐỒ CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG Đầu TK XX hầu hết các nước ĐNA đều là thuộc địa của đế quốc (trừ Thái Lan).Sau thất bại của “Phong trào Cần vương” tầng lớp trí thức đều muốn vận động CM theo hướng CM dân chủ tư sản.– Từ những năm 20, nét mới của phong trào CM ở ĐNA là giai cấp vô sản từng bước trưởng thành và tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh.Đảng Cộng sản nhiều nước ra đời : In-đô-nê-xi-a (1920) ; Việt Nam , Mã Lai, Xiêm (1930). + Tăng số lượng, phát triển và trưởng thành của giai cấp công nhân sau chính sách khai thác thuộc địa của các nước đế quốc và những ảnh hưởng của CM tháng Mười Nga.Em hãy cho biết phong trào cách mạng dân chủ tư sản ở Đông Nam Á này có điểm gì mới ?– Phong trào dân chủ tư sản ở ĐNA cũng có những bước tiến bộ rõ rệt.+ Những chính đảng có tổ chức và ảnh hưởng xã hội lớn như Đảng Dân tộc ở In-đô-nê-xi-a, Phong trào Tha-kin ở Miến Điện…Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhiều cuộc khởi nghĩa diễn ra: Gia-va, Xu-ma-tơ-ri (1926 – 1927) ở In-đô-nê-xi-a, Xô viết Nghệ – Tĩnh (1930 – 1931) tại Việt Nam.Cách mạng LàoKN Chậu Pa- chayLÀOVIỆT NAMCAM PU CHIALÀOONG KẸO COMANĐAMCHẬU PACHAYCHỐNG THUẾRÔLÊPHANLIÊN MINH ĐÔNG DƯƠNG2. Phong trào độc lập dân tộc ở một số nước Đông Nam Á.– ở Đông Dương, cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp được tiến hành dưới nhiều hình thức, với sự tham gia của các tầng lớp nhân dân.+ ở Lào: Cuộc khởi nghĩa do Ong Kẹo & Com-ma-đam kéo dài hơn 30 năm.+ ở Cam-pu-chia: phong trào đấu tranh liên tiếp bùng nổ tiêu biểu là phong trào A-cha Hem-chiêu lãnh đạo (1930 – 1935).– Tại khu vực hải đảo: nhiều phong trào chống thực dân, lôi cuốn hàng triệu người tham gia. + Cuộc khởi nghĩa: Gia-va và Xu-ma-tơ-ra (In-đô-nê-xi-a) trong những năm 1926 – 1927 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản In-đô-nê-xi-a. Sau khi cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, quần chúng đã ngả theo phong trào dân tộc tư sản do Xu-các-nô – lãnh tụ của Đảng Dân tộc, đứng đầu.– Từ năm 1940, khi phát xít Nhật tấn công đánh chiếm Đông Nam Á, cuộc đấu tranh phóng dân tộc của nhân dân các nước trong khu vực đã tập trung vào kẻ thù hung hãn nhất này.Em hãy nêu nét chính về phong trào cách mạng ở In-đô-nê-xi-a trong thập niên 30 của thế kỉ XX ?Su-ra-bay-aBác Hồ và Tổng thống Xu- các- nô với các cháu thiếu nhi Indonexia, ngày 2.3.1959 MALAIXIAMI?N DI?NKinh đô cổ Pa-gan ở MianmaXiêmSau TK XIXvùng đệm Anh-Pháp Tại sao Xiêm là nước duy nhất trong khu vực Đông Nam Á không trở thành thuộc địa của các nước tư bản phương Tây?Thủ đô Băng Cốc – Thái LanCác nước Đông Nam á giữa 2 cuộc chiến tranh thế giới ( 1918 – 1939)Biến đổiPhong trào đấu tranh giảI phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ

Tại Sao Cần Mở Rộng Khái Niệm “Độc Lập Dân Tộc”? / 2023

Hai Bà Trưng – hai người đầu tiên nổi dậy trong giai đoạn ngàn năm Bắc thuộc có lẽ cũng là hai người đầu tiên khiến dân tộc buộc phải suy nghĩ một cách sâu sắc về vấn đề độc lập lãnh thổ.

Chúng ta sẽ không nhắc đến giai đoạn trước đó như Kinh Dương Vương (gắn liền với nhà nước Xích Quỷ), Hùng Vương (nhà nước Văn Lang) hay An Dương Vương (nhà nước Âu Lạc) vì cả 3 nhà nước này đều mang màu sắc huyền thoại, với những gia vị huyền thoại đậm đặc khác nhau.

Chúng ta cũng không nhắc tới một số cuộc nổi dậy lẻ tẻ thời trước Hai Bà Trưng vì nó không thật sự để lại những dấu ấn đậm nét trong dòng lịch sử.

Chúng ta nhắc đến Hai Bà Trưng và quãng thời gian hơn 2 năm làm chủ lãnh thổ của Hai Bà vì với cuộc nổi dậy chính thức, quy mô đầu tiên này, dân tộc Việt có quyền tin rằng, mình đủ khả năng giành độc lập lãnh thổ. Chỉ một niềm tin ấy thôi – xác lập một niềm tin ấy thôi, ông cha chúng ta đã phải đi một quãng đường rất xa.

Nhưng rồi sự độc lập lãnh thổ mà hai vị vua bà giành được chỉ là một sự độc lập chóng vánh. Những sự độc lập chóng vánh như thế tiếp tục diễn ra sau này, gắn liền với những cái tên như Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, Mai Hắc Đế, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ…

Nếu cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng xây viên gạch đầu tiên vào ngôi nhà niềm tin thì nền độc lập chóng vánh của chính Hai Bà Trưng và hàng loạt người anh hùng sau đó hoàn toàn có thể tạo ra một nếp nghĩ: Độc lập chóng vánh thì có thể nhưng độc lập lâu dài thì không thể(?). Ở thời điểm đó, nếu quả nhiên tiền nhân mang suy nghĩ đó thì cũng có thể hiểu được.

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc.

Tuy nhiên, chiến thắng Bạch Đằng năm 938 chứng minh: suy nghĩ đó (nếu có) là một suy nghĩ sai lầm. Sau trận Bạch Đằng, Ngô Quyền xưng vương là một giai đoạn độc lập kéo dài ổn định. Câu hỏi lớn với hậu thế: điều kiện tiên quyết nào biến độc lập chóng vánh thành độc lập lâu dài?

Có lẽ chính Ngô Quyền cũng không trả lời được câu hỏi này. Bởi Ngô Quyền chỉ vừa nằm xuống là đất nước lại tao loạn và giai đoạn tao loạn nội bộ (mà lịch sử vẫn gọi là “loạn 12 sứ quân), nguy cơ nền độc lập non trẻ bị xóa sổ là nguy cơ có thật.

Rất may thời điểm ấy kẻ thù mạnh nhất của chúng ta là nhà Tống (Trung Quốc) cũng đang phải đối diện với rất nhiều vấn đề của chính họ nên chưa thể động binh. Nhưng những giai đoạn sau này, ở thời nhà Đinh, nhà Lý, nhà Trần, khi kẻ thù của chúng ta mạnh thật sự và muốn “nuốt” nền độc lập non trẻ của chúng ta thì chúng cũng không thể nào “nuốt” nổi. Vì sao vậy?

Người thích hợp nhất để trả lời câu hỏi này không phải là Lý Thường Kiệt, cho dù Lý Thường Kiệt là vị tướng Việt Nam duy nhất cất quân sang đánh ngược phương Bắc; cũng không phải là Trần Hưng Đạo, cho dù Trần Hưng Đạo đã oanh liệt lãnh đạo quân dân đánh bại cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên Mông.

Người thích hợp nhất trả lời câu hỏi này là Đinh Bộ Lĩnh. Bởi Đinh Bộ Lĩnh sau khi lên ngôi đã tạo nên một nhà nước trung ương tập quyền đầu tiên.

Chính mô hình nhà nước trung ương tập quyền (chứ không phải mô hình hào trưởng phân tán như giai đoạn trước) đã giúp Việt Nam phát huy tối đa sức mạnh dân tộc, trong cuộc đương đầu với một dân tộc mạnh hơn mình. Khi nào nhà nước tập quyền suy yếu, nền độc lập lại đứng trên bờ vực mong manh, mà 20 năm Minh thuộc là bài học điển hình.

Như thế, chìa khóa tạo nên những giai đoạn độc lập ổn định chính là mô hình nhà nước tập quyền. Từ việc tin và dám tin vào khả năng xây dựng một lãnh thổ độc lập, đến việc tạo dựng những giai đoạn độc lập chóng vánh và đỉnh cao là chính thức kiến thiết những giai đoạn độc lập ổn định kéo dài, cha ông chúng ta đã đi qua cả ngàn năm lịch sử và nhuộm đỏ dòng sông lịch sử bằng máu của chính mình.

Độc lập dân tộc – độc lập lãnh thổ do vậy trở thành một cái nhìn xuyên suốt và tất yếu. Độc lập dân tộc – độc lập lãnh thổ, nó là một HẰNG SỐ MÁU!

Nhưng ngẫm kỹ ra, ở trên đời, có cái gì là hằng số thật không? Có những thứ ở giai đoạn này là hằng số nhưng đến giai đoạn khác lại là biến số. Và phải thấy, trong rất nhiều trường hợp, biến số không phủ nhận sạch trơn mọi giá trị của hằng số mà chỉ mở rộng thêm các giá trị mới, dung nạp thêm những dữ liệu mới để hy vọng đạt tới một hằng số mới, phù hợp nhất với những hệ quy chiếu mới.

Với một cách nghĩ như thế, có lẽ đã đến lúc phải mở rộng thêm nội hàm khái niệm “độc lập dân tộc”. Đúng là “độc lập dân tộc” trước hết và đầu tiên phải là “độc lập lãnh thổ” nhưng nếu chỉ có mỗi hằng số “độc lập lãnh thổ” thì e rằng “độc lập dân tộc” chưa phải là một khái niệm tối ưu. Hãy thử nhìn lại xem, điều gì đang xảy ra ở dân tộc chúng ta hôm nay?

Những mối đe dọa về độc lập lãnh thổ còn không? Còn, cho dù tính chất của nó đã khác xa thời phong kiến ngày xưa. Nhưng bên cạnh nỗi đe dọa này, còn có một nỗi đe dọa đáng sợ không kém, đó là sự độc lập mang tính quá khích, tả khuynh ở rất nhiều bộ phận người.

Sự độc lập quá khích như thế đã tạo ra hàng loạt những tranh cãi, cả trên không gian ảo lẫn ngoài đời thực. Sự độc lập tả khuynh như thế có thể tạo ra những rạn nứt từ bên trong đội ngũ trí thức quốc gia.

Bây giờ cứ mở Facebook ra coi, bạn sẽ không bất ngờ khi thấy nhóm trí thức này “tấn công”, “hạ bệ” nhóm trí thức kia. Bạn cũng sẽ không bất ngờ nếu thấy nhóm trí thức này khăng khăng cách nghĩ của mình là đúng và bất cứ nhóm trí thức nào khác dám nghĩ khác mình đều là nghĩ sai.

Trong rất nhiều trường hợp, sau khi đã xác quyết là “nhóm kia” nghĩ sai thì “nhóm này” không ngừng kêu gọi, hô hào những người có chung quan điểm với mình lao vào… thi hành án.

Rất nhiều lần tôi nghĩ, đấy chỉ là một chiến trường trên Facebook, nơi mà người ta không phải mặt đối mặt với nhau, nên sẵn sàng “chiến” nhau bằng tất cả những ngôn từ kinh khủng nhất.

Nhưng rồi tôi lại nghĩ, chính nhờ không nhìn thấy mặt nhau nên họ đã “hành xử thật” với nhau và chính nhờ thế, người quan sát lại nhìn thấy những góc rất thật mà dẫu có tiếp xúc với họ hằng ngày, mình cũng không có cơ may nhận thấy.

Và khi đã nhận thấy cái góc rất thật ấy, một nỗi sợ tức thì xuất hiện: sợ rằng, “sức mạnh ảo” đến một giải đoạn nào đó sẽ dẫn đến “sức mạnh thật” – “tranh đấu thật” – “hậu quả thật”.

Nhìn lại lịch sử từ cuối thời phong kiến đến nay, dù muốn hay không cũng phải thừa nhận rằng người Việt đã trải qua nhiều cơ tầng chia rẽ. Sau thời “Trịnh – Nguyễn phân tranh” là thời “Tây Sơn – Nguyễn Ánh” trả thù nhau. Sau thời “Tây Sơn – Nguyễn Ánh” trả thù nhau là thời người Pháp chia đất nước này thành 3 miền.

Và sau thời người Pháp chia đất nước thành 3 miền lại đến thời chúng ta bị chia đôi, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến. Phải đến năm 1975, sau rất nhiều nỗ lực, đất nước mới thống nhất, giang sơn mới được thu về.

Nhưng dù muốn hay không cũng phải thấy, những sự chia rẽ về lãnh thổ, về chế độ, về quan điểm kéo dài hàng trăm năm đã tạo nên những chia rẽ âm ỉ trong tâm hồn người Việt. Và công việc khó khăn nhất của những nhà lãnh đạo dân tộc luôn là: phải làm gì để thực sự hàn gắn lại mọi chia rẽ?

Thực tế là suốt nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều chính sách hàn gắn những chia rẽ này, với bằng chứng là người Việt ở hải ngoại đã trở về đầu tư, làm ăn trong nước ngày một nhiều hơn, từ đó đóng góp nhiều hơn vào giá trị nói chung của nền kinh tế.

Chắc chắn là chỉ có hàn gắn mọi chia rẽ mới tạo nên sức mạnh đích thực. Và chỉ có sức mạnh đích thực mới có thể phát huy tối đa nội lực của một dân tộc vốn rất nhỏ về địa lý và cũng không thật lớn về các giá trị văn minh.

Nhưng hàn gắn sự chia rẽ không chỉ là nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước. Trong rất nhiều trường hợp, đặc biệt là trong thời kỳ bùng nổ quan điểm trên mạng xã hội hiện nay, nó còn là công việc quan trọng của đội ngũ trí thức. Vậy thì đội ngũ trí thức đã ý thức và thực hiện công việc này hiệu quả chưa?

Lâu nay, người Việt vẫn tự hào với mệnh đề: Cứ khi nào có chiến tranh là mọi người đoàn kết lại! Cần phải nói cho rõ, chiến tranh ở mệnh đề này là chiến tranh “cứng” – chiến tranh quân sự – xâm phạm lãnh thổ.

Nhưng trong thời điểm này chiến tranh “cứng” không đáng sợ bằng chiến tranh “mềm”, chiến tranh quân sự không đáng sợ bằng chiến tranh chính sách. Thành thử, nếu chỉ đợi chiến tranh cứng – chiến tranh quân sự mới đoàn kết thì rất có thể chúng ta sẽ tự mình đánh mất rất nhiều thứ giá trị của mình.

Năm 40 sau Công nguyên, với việc đứng dậy phất cờ khởi nghĩa, Hai Bà Trưng cho dân tộc niềm tin vào việc có thể xác lập một sự độc lập lãnh thổ trước một kẻ thù mạnh hơn mình, còn bây giờ một đội ngũ trí thức nào đó có thể cho dân tộc niềm tin là chúng ta đủ sức hàn gắn mọi chia rẽ, đoàn kết với nhau, không chỉ trong những hoàn cảnh chiến tranh?

Năm 968, với việc chính thức lên ngôi, xây dựng nhà nước trung ương tập quyền đầu tiên, Đinh Bộ Lĩnh chỉ ra một công thức quan trọng trong việc bảo vệ và xác lập một nền độc lập kéo dài, còn bây giờ, đội ngũ trí thức nào đủ trí tuệ và sự dấn thân để chỉ ra một công thức hữu hiệu hàn gắn mọi chia rẽ, ít nhất là những chia rẽ trong chính đội ngũ trí thức với nhau?

Độc lập dân tộc trước hết và trên hết, phải gắn liền với độc lập, chủ quyền lãnh thổ. Nhưng trong từng giai đoạn, khái niệm này phải được mở rộng, hoàn chỉnh và trong giai đoạn hiện nay, độc lập dân tộc nhất thiết phải gắn liền với việc hàn gắn chia rẽ, quy tụ lòng người.

Không ngừng đau đáu, trăn trở với vấn đề này mà chỉ dồn năng lượng vào chuyện tranh cãi, hạ bệ nhau trên mạng ảo, giới trí thức hôm nay sẽ không hoàn thành những nhiệm vụ mà lịch sử giao phó và những thành quả mà tiền nhân để lại cho mình.

Phan Mỹ Chí

Bài 13: Phong Trào Dân Tộc Dân Chủ Ở Việt Nam Từ Năm 1925 / 2023

Câu 4: Trình bày hoàn cảnh ra đời, hoạt động và ý nghĩa của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên? * Hoàn cảnh ra đời:

– Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô đến Quảng Châu (Trung Quốc) liên lạc với những người Việt Nam yêu nước trong tổ chức Tâm tâm xã.

– Tháng 2/1925, Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn một số thanh niên Việt Nam tích cực lập ra tổ chức Cộng sản đoàn”.

– Tháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trong đó tổ chức Cộng sản đoàn” là nòng cốt

* Hoạt động : (Truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam )

– Ngày 21/6/1925 xuất bản tuần báo Thanh niên cơ quan ngôn luận của Hội ra số đầu tiên.

– Đầu năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã tập hợp những bài giảng trong các lớp đào tạo cán bộ ở Quảng Châu và in thành tác phẩm Đường Kách mệnh”.

– Công tác xây dựng cơ sở trong nước cũng được chú trọng phát triển số hội viên của hội không ngừng tăng lên ( Năm 1928 đã có 300 hội viên đến 1929 phát triển 1700 Hội viên)

– 9/7/1925 Nguyễn Aí Quốc cùng một số nhà yêu nước lập ra hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông

– Cuối năm 1928, thực hiện chủ trương Vô sản hoá” đưa hội viên thâm nhập vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền….tiến hành tuyên truyền vận động, nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân.

– Sự truyền bà chủ nghĩa Mác – Lênin đã khiến cho phong trào công nhân Việt Nam từ năm 1928 trở đi có những chuyển biến rõ rệt về chất, tạo điều kiện cho sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam năm 1929.

Câu 5: Trình bày sự thành lập VQDĐ, diễn biến, kết quả, ý nghĩa và nguyên nhân thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái ?

– Trên cơ sở hạt nhân là Nam Đồng thư xã, ngày 25/12/1927 Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính thành lập Việt Nam quốc dân Đảng.

– Đây là tổ chức đại diện cho tư sản dân tộc theo khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản.

– Tôn chỉ mục đích

+ Lúc mới thành lập chưa có cương lĩnh rõ ràng

+ Năm 1928 và năm 1929, hai lần thay đổi chủ nghĩa.

– Chủ trương, tiến hành cách mạng bằng bạo lực.

– Cơ sở của VNQDĐ trong quần chúng rất ít

– Địa bàn hoạt động bó hẹp, chủ yếu ở một số địa phương Bắc kỳ

– Tổ chức vụ ám sát trùm mộ phu Badanh (2-1929)

– Tổ chức cuộc khởi nghĩa Yên Bái : bắt đầu ở Yên Bái (9/2/1930), tiếp theo là Phú Thọ, Hải Dương, Thái Bình, nhưng nhanh chóng thất bại.

– Việt Nam quốc dân đảng chưa có Cương lĩnh rõ ràng, thành phần ô hợp, không tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia.

– Khởi nghĩa bị động, không chuẩn bị kỹ càng, thực dân Pháp còn đủ mạnh để đàn áp.

* Ý nghĩa : cổ vũ lòng yêu nước, chí căm thù giặc của nhân dân. Nối tiếp tinh thần yêu nước, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Chấm dứt vai trò của Việt Nam Quốc dân Đảng trong phong trào giải phóng dân tộc.

Câu 6: Trình bày hoàn cảnh, quá trình ra đời của Ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam, ý nghĩa lịch sử và những hạn chế của ba tổ chức này?

*Hoàn cảnh lịch sử:

– Đến cuối năm 1929 phong trào dân tộc dân chủ ở nước ta đặc biệt là phong trào công nhân theo đường lối vô sản ngày càng phát triển manh mẽ , đặt ra yêu cầu cần phải có chính Đảng lãnh đạo .

– Những yêu cầu mới đó đã vượt quá khả năng lãnh đạo của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên.

– Tháng 3/1929, một số hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên ở Bắc kỳ đã họp ở số nhà 5D Hàm Long (Hà Nội) và lập ra chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam gồm 7 người, mở đầu cho quá trình thành lập Đảng cộng sản thay thế cho Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên.

* Qúa trình thành lập Đông dương Cộng Sản Đảng:

– Tháng 5/1929, tại Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên (ở Hương Cảng – Trung Quốc), đoàn đại biểu Bắc kỳ đã đưa ra đề nghị thành lập Đảng cộng sản, nhưng không được chấp nhận nên họ đã rút khỏi Hội nghị về nước và tiến hành vận động thành lập Đảng cộng sản.

– Ngày 17/6/1929, đại biểu các tổ chức cơ sở của Hội VNCMTN ở miền Bắc đã họp và quyết định thành lập Đông Dương Cộng Sản Đảng, thông qua tuyên ngôn, điều lệ Đảng và ra báo Búa liềm làm cơ quan ngôn luận.

An Nam Cộng Sản Đảng: Đông Dương Cộng Sản Đảng ra đời đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của quần chúng, uy tín và tổ chức Đảng phát triển rất nhanh, nhất là ở Bắc và Trung kỳ.

Trước ảnh hưởng sâu rộng của Đông Dương Cộng Sản Đảng, tháng 8/1929, các hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên ở Trung Quốc và Nam kỳ cũng đã quyêt định thành lập An Nam Cộng Sản Đảng.

Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn

Tháng 9/1929, nhóm theo chủ nghĩa Mác trong Tân Việt Cách mạng Đảng đã tách ra, thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

– Đó là xu thế khách quan của cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Việt Nam theo xu hướng cách mạng vô sản.

– Đây là bước chuẩn bị trực tiếp cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong quá trình tuyên truyền vận động quần chúng, các tổ chức này hoạt động riêng rẽ, đã tranh giành, công kích lẫn nhau, gây nên tình trạng thiếu thống nhất, đẩy phong trào cách mạng Việt Nam đứng trước nguy cơ bị chia rẽ.

Câu 7: Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản VN ( hoàn cảnh lịch sử, nội dung, ý nghĩa ) * Hoàn cảnh lịch sử

– Năm 1929, phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, tiểu tư sản và các tầng lớp nhân dân yêu nước phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo thống nhất, chặt chẽ của một chính đảng duy nhất .

– Trong năm 1929, ba tổ chức cộng sản ra đời hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, gây nên tình trạng thiếu thống nhất, đẩy phong trào cách mạng Việt Nam đứng trước nguy cơ bị chia rẽ.

– Yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam là phải có một Đảng cộng sản thống nhất trong cả nước. Trước tình hình trên Nguyễn Ái Quốc từ Thái Lan trở về Hương Cảng triệu tập Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Đảng.

Ngày 6/1/1930 tại Cửu Long (Hương Cảng – Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản. Tham dự Hội nghị có đại diện của Đông Dương Cộng Sản Đảng và An Nam Cộng Sản Đảng.

* Nội dung hội nghị :

– Nguyễn Ái Quốc phê phán những quan điểm sai lầm, của các tổ chức Cộng sản và nêu chương trình hội nghị .

– Hội nghị đã nhất trí thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng cộng sản duy nhất. lấy tên là Đảng Cộng Sản Việt Nam.

– Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc dự thảo. Đó là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

– Bầu Ban chấp hành TW lâm thời do Trịnh Đình Cửu đứng đầu .

Hội nghị thống nhất Đảng có giá trị lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng .

Nội dung của cương lĩnh chính trị đầu tiên

+ Xác định đường lối chiến lược cách mạng Việt Nam là tiến hành cuộc cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng thổ địa để đi tới xã hội cộng sản.

+ Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ đế quốc Pháp cùng bọn phong kiến, tư sản phản cách mạng để làm cho nước Việt Nam độc lập tự do.

+ Lực lượng cách mạng: là công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức; còn phú nông, trung nông, tiểu địa chủ và tư sản thì lợi dụng hoặc trung lập, đồng thời phải liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới .

+ Lãnh đạo cách mạng là Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp vô sản.

+ Mối quan hệ: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới.

* Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam

– Là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới, là sự sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử.

– Là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

– Đảng ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử CMVN:

+ Đảng trở thành Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng

+. Từ đây, cách mạng Việt Nam có đường lối đúng đắn, khoa học, sáng tạo.

+ Là bước chuẩn bị đầu tiên có tính quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt của CMVN

+ Cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới.

Đại hội lần 3 (9/1960) quyết định lấy ngày 3/2 hàng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.

Dân Tộc Là Gì ? Các Khái Niệm Về Dân Tộc? / 2023

1. Khái niệm về dân tộc (cách hiểu về dân tộc):

Dân tộc (tộc người, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc người) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me… Hình thức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phương thức sản xuất.

Dân tộc (nation) – hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (hình thái của tộc người trong xã hội nguyên thủy là bộ lạc, trong xã hội nô lệ và xã hội phong kiến là bộ tộc). Dân tộc đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững và chặt chẽ hơn về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người.

So với bộ tộc thời phong kiến, dân tộc trong thời kì phát triển tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa có lãnh thổ ổn định, tình trạng cát cứ bị xoá bỏ, có nền kinh tế hàng hóa phát triển, thị trường quốc gia hình thành thống nhất, các ngữ âm, thổ ngữ bị xoá bỏ, tiếng thủ đô được coi là chuẩn và ngày càng lan rộng ảnh hưởng, sự cách biệt về văn hóa giữa các vùng, miền và giữa các bộ phận của tộc người bị xóa bỏ phần lớn, ý thức về quốc gia được củng cố vững chắc.

Cộng đồng dân tộc thường được hình thành hoặc từ một bộ tộc phát triển lên; hoặc là kết quả của sự thống nhất hai hay nhiều bộ tộc có những đặc điểm chung về lịch sử – văn hóa.

Ngoài những nét giống nhau trên, giữa dân tộc tư bản chủ nghĩa và dân tộc xã hội chủ nghĩa có những nét khác biệt nhau, do đặc điểm của phương thức sản xuất và thể chế xã hội. Ở dân tộc tư bản chủ nghĩa, xã hội phân chia đối kháng giai cấp giữa tư sản và vô sản, Nhà nước là của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản. Còn ở dân tộc xã hội chủ nghĩa, xã hội không còn đối kháng giai cấp, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

3. Dân tộc (quốc gia dân tộc; ví dụ: dân tộc Việt Nam) là cộng đồng chính trị – xã hội, được hình thành do sự tập hợp của nhiều tộc người có trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định và được quản lí thống nhất bởi một nhà nước. Kết cấu của cộng đồng quốc gia dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nước. Một quốc gia dân tộc có tộc người đa số và các tộc người thiểu số. Có tộc người đã đạt đến trình độ dân tộc, song nhiều tộc người ở trình độ bộ tộc. Với cơ cấu tộc người như vậy, quan hệ giữa các tộc người rất đa dạng và phức tạp. Nhà nước phải ban hành chính sách dân tộc để duy trì sự ổn định và phát triển của các tộc người, sự ổn định và phát triển của đất nước. Cũng có trường hợp, một quốc gia chỉ gồm một tộc người (Triều Tiên).

(Nội dung trên được đưa ra bởi: Từ điển luật học xuất bản năm 2010)

Khái niệm dân tộc trong tiếng Việt có thể đề cập đến các nghĩa sau:

+ Dân tộc (cộng đồng): theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử; đôi khi bao gồm nhiều nhóm sắc tộc. Dân tộc trong trường hợp quốc gia dân tộc còn được gọi là quốc dân.

+ Sắc tộc: chỉ nhóm xã hội được phân loại dựa trên nhiều nét chung như di sản văn hóa, nguồn gốc, lịch sử, ngôn ngữ hoặc phương ngữ.

Một số định nghĩa khác về dân tộc:

Dân tộc có thể chỉ một cộng đồng người chia sẻ một ngôn ngữ, văn hóa, sắc tộc, nguồn gốc, hoặc lịch sử. Tuy nhiên, nó cũng có thể chỉ những người có chung lãnh thổ và chính quyền (ví dụ những người trong một quốc gia có chủ quyền) không kể nhóm sắc tộc.

Trong trường hợp gắn liền với một quốc gia dân tộc, dân tộc còn được gọi là quốc dân. “Dân tộc” mang nhiều nghĩa và phạm vi nghĩa của thuật ngữ thay đổi theo thời gian.

Hầu hết mọi dân tộc sống trong một lãnh thổ cụ thể gọi là quốc gia. Một số dân tộc khác lại sống chủ yếu ngoài tổ quốc của mình. Một quốc gia được công nhận là tổ quốc của một dân tộc cụ thể gọi là “nhà nước – dân tộc”. Hầu hết các quốc gia hiện thời thuộc loại này mặc dù vẫn có những tranh chấp một cách thô bạo về tính hợp pháp của chúng. Ở các nước có tranh chấp lãnh thổ giữa các dân tộc thì quyền lợi thuộc về dân tộc nào sống ở đó đầu tiên. Đặc biệt ở những vùng người châu Âu định cư có lịch sử lâu đời, thuật ngữ “dân tộc đầu tiên” dùng cho những nhóm người có chung văn hóa cổ truyền, cùng tìm kiếm sự công nhận chính thức hay quyền tự chủ.

Khái niệm dân tộc, sắc tộc thường có nhiều cách sử dụng không thống nhất trên toàn thế giới:

Thường thì những thuật ngữ như dân tộc, nước, đất nước hay nhà nước được dùng như những từ đồng nghĩa. Ví dụ như: vùng đất chỉ có một chính phủ nắm quyền, hay dân cư trong vùng đó hoặc ngay chính chính phủ. Chúng còn có nghĩa khác là nhà nước do luật định hay nhà nước thực quyền. Trong tiếng Anh các thuật ngữ trên không có nghĩa chính xác mà thường được dùng uyển chuyển trong cách nói viết hàng ngày và cũng có thể giải nghĩa chúng một cách rộng hơn.

Khi xét chặt chẽ hơn thì các thuật ngữ “dân tộc”, “sắc tộc” và “người dân” (chẳng hạn người dân Việt Nam) gọi là nhóm thuộc về con người. “Nước” là một vùng theo địa lý, còn “nhà nước” diễn đạt một thể chế cầm quyền và điều hành một cách hợp pháp. Điều rắc rối là hai tính từ “quốc gia” và “quốc tế” lại dùng cho thuật ngữ nhà nước, chẳng hạn từ “luật quốc tế” dùng trong quan hệ giữa các nhà nước hoặc giữa nhà nước và các cá nhân, các công dân.

Thuật ngữ “dân tộc” thường dùng một cách ẩn dụ để chỉ những nhóm người có chung đặc điểm hay mối quan tâm.

1

Công tác dân tộc

Công tác dân tộc là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Nghị định 05/2011/NĐ-CP

6

Dân tộc thiểu số tại chỗ

Là đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn gốc, tổ tiên sinh sống lâu đời trên địa bàn

15/2008/QĐ-UBND

(Hết hiệu lực)

Tỉnh Đắk Lắk

7

bao gồm các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đề tài khoa học xã hội và nhân văn. Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc dự án, chương trình.

9

Mạng Ủy ban Dân tộc

Là tên viết tắt của hệ thống mạng thông tin của Ủy ban

10

Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ của Ủy ban Dân tộc

là những vấn đề khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác dân tộc cần giải quyết, được xác định, thực hiện theo quy định của Nhà nước về quản lý khoa học và công nghệ và những quy định tại Thông tư này;

11

Trường phổ thông dân tộc bán trú

là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này bao gồm trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú.

12

Trường phổ thông dân tộc bán trú

Là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập nhằm đáp ứng yêu cầu học tập của con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho địa phương, bao gồm: trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, các tỷ lệ này ổn định

Tỉnh Đắk Lắk

13

Vùng dân tộc thiểu số

Vùng dân tộc thiểu sốlà địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nghị định số 05/2011/NĐ-CP

Nguồn: Thư viện pháp luật

3. Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam

Nước ta là quốc gia đa dân tộc và có nhiều đặc điểm quan trọng, nổi bật. Trong đó cần chú ý các đặc điểm sau:

– Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết.

– Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ nhau.

– Các dân tộc ở Việt Nam trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đều nhau.

– Sự phân bố dân cư không đều; trên vùng núi, biên giới, chủ yếu là các dân tộc thiểu số đang sinh sống.

4. Thế nào là công tác dân tộc? Các nguyên tắc cơ bản của dân tộc?

” Công tác dân tộc ” là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tại Điều 3 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc quy định các nguyên tắc cơ bản sau:

– Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.

– Đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.

– Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc.

– Các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

5. Các hành vi bị nghiêm cấm trong công tác dân tộc ở Việt Nam là gì?

Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

– Mọi hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử, chia rẽ, phá hoại đoàn kết các dân tộc.

– Lợi dụng các vấn đề về dân tộc để tuyên truyền xuyên tạc, chống lại đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

– Lợi dụng việc thực hiện chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

– Các hành vi khác trái với quy định của Chính phủ.

Trân trọng./.

Các câu hỏi thường gặp