Khái Niệm Phiên Mã / 2023 / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | 2atlantic.edu.vn

Sinh Học 12 Bài 2: Phiên Mã Và Dịch Mã / 2023

Tóm tắt lý thuyết

2.1.1. Cấu trúc và chức năng của các loại ARN

mARN

Gồm 1 mạch polynuclêôtit, mạch thẳng. Đầu 5′ có trình tự nuclêôit đặc hiệu (không đuợc dịch mã) gần codon mở đầu để ribôxôm nhận biết và gắn vào

Mang thông tin di truyền cấu trúc chuỗi pôlypeptit

tARN

Mạch đơn xẻ 3 thuỳ, thuỳ giữa mang anticôđon. Đầu 3′ mang a.a

Mang axit amin đến ribôxôm tham gia dịch mã

ARN

Là 1 mạch pôlynuclêôtit dạng mạch đơn hoặc quấn lại như tARN

Là thành phần cấu tạo ribôxôm

2.1.2. Cơ chế phiên mã

Khái niệm phiên mã

Phiên mã là quá trình tổng hợp ARN trên mạch khuôn ADN

Đối tượng xảy ra phiên mã

​Virut có vật chất di truyền là ADN mạch kép, vi khuẩn và sinh vật nhân thực

Nơi diễn ra quá trình phiên mã​​

Quá trình phiên mã diễn ra ở trong nhân tế bào, tại kì trung gian giữa hai lần phân bào, lúc NST tháo xoắn

Diễn biến quá trình phiên mã

Bước 1: ​Tháo xoắn ADN

Enzim ARNpolymeraza bám vào vùng khởi đầu làm gen tháo xoắn để lộ mach khuôn 3′-5′

Bước 2: Tổng hợp ARN

Enzim ARNpolymeraza trượt dọc theo mạch mã gốc 3′-5′ tổng hợp ARN theo nguyên tắc bổ sung (A-U, G-X) cho đến khi gặp tín hiệu kết thúc

Bước 3: Giai đoạn kết thúc

Enzim ARNpolymeraza gặp tín hiệu kết thúc thì quá trình phiên mã dừng lại và phân tử mARN vừa tổng hợp được giải phóng

Ở tế bào nhân sơ, mARN sau phiên mã được trực tiếp dùng làm khuôn để tổng hợp protein

Ở tế bào nhân thực, mARN sơ khai được cắt bỏ các đoạn Intron và nối các doạn Exon lại với nhau thành mARN trưởng thành

2.2.1. Khái niệm dịch mã

Dịch mã là quá trình tổng hợp chuỗi polipeptit hình thành protein

2.2.2. Cơ chế dịch mã

Hoạt hoá axit amin

​Nhờ các enzim đặc hiệu và năng lượng ATP, các aa được hoạt hóa và gắn với tARN tương ứng tạo thành phức hợp aa-tARN

Sơ đồ hóa:

Tổng hợp chuỗi Polipeptit

Bước 1. Mở đầu

Đầu tiên tiểu phần bé của Riboxom tiếp xúc với mARN tại vị trí đặc hiệu có mã AUG

aa- tARN mang aa mở đầu metionin (ở sinh vật nhân thực), hoặc Foocminmetionin (ở sinh vật nhân sơ) tiến vào mARN bổ sung mã mở đầu theo NTBS (A-U, G-X)

Tiểu phần lớn của Riboxom liên kết với tiểu phần bé tạo thành Riboxom hoàn chỉnh

Bước 2. Kéo dài chuỗi Polipeptit

Tiếp theo, aa1-tARN gắn vào vị trí bên cạnh, bộ 3 đối mã của nó cũng khớp với bộ 3 của axit amin thứ nhất trên mARN theo NTBS.

Enzim xúc tác tạo thành liên kết peptit giữa axit amin mở đầu và aa1 (Met-aa1). Riboxom dịch chuyển đi 1 bộ 3 đồng thời tARN được giải phóng khỏi riboxom.

Tiếp theo, aa2-tARN lại tiến vào riboxom, quá trình cũng diễn ra như đối với aa1

Quá trình cứ tiếp tục tiếp diễn cho đến cuối phân tử mARN

Bước 3. Kết thúc

Khi Riboxom tiếp xúc với mã kết thúc (UAA, UAG, UGA) thì quá trình dịch mã dừng lại

Riboxom tách khỏi mARN, giải phóng chuỗi polipeptit

aa mở đầu bị cắt khỏi chuỗi polipeptit tạo Pr có cấu trúc hoàn chỉnh

​* Cơ chế phân tử của hiện tượng di truyền

Sơ đồ tư duy về quá trình phiên mã

Khái Niệm Phần Mềm Mã Nguồn Mở / 2023

Định nghĩa phần mềm mã nguồn mở ra đời dựa trên Hướng dẫn về Phần mềm tự do, được Bruce Perens soạn thảo và áp dụng đầu tiên. Thuật ngữ ” phần mềm mã nguồn mở” dùng để đề cập đến các phần mềm người dùng có thể kiểm tra, sửa đổi và chia sẻ công khai. “Mã nguồn” là một phần của phần mềm mà hầu hết người dùng máy tính không bao giờ nhìn thấy. Các lập trình viên có quyền truy cập vào mã nguồn của chương trình máy tính để cải thiện chương trình đó bằng cách thêm các tính năng vào nó hoặc sửa các phần không hoạt động bình thường.

Phần mềm mã nguồn mở ngày càng được sử dụng nhiều hơn trên thế giới

Sự khác biệt giữa phần mềm nguồn mở và các loại phần mềm khác là gì?

Một số phần mềm có mã nguồn chỉ cho phép người, nhóm hoặc tổ chức đã tạo ra nó kiểm soát độc quyền đối với nó – có thể sửa đổi. Mọi người gọi loại phần mềm này là “phần mềm độc quyền” hoặc “đóng nguồn”. Với phần mềm độc quyền, chỉ có những tác giả của phần mềm mới có thể sao chép, kiểm tra và sửa đổi phần mềm đó. Và để sử dụng phần mềm độc quyền, người dùng phải đồng ý (thường là bằng cách ký một cam kết) rằng họ sẽ không tác động gì lên phần mềm ngoài phạm vi được cho phép. Microsoft Office và Adobe Photoshop là những ví dụ về phần mềm độc quyền.

Phần mềm nguồn mở thường không giống nhau bởi phần mềm này được chia sẻ công khai, do đó mọi người đều có thể xem, sao chép, học hỏi, thay đổi nó. LibreOffice và Chương trình quản lý hình ảnh GNU chính là những ví dụ tiêu biểu về phần mềm nguồn mở. Cũng giống như phần mềm độc quyền, người dùng sử dụng phần mềm mã nguồn mở cần phải chấp nhận các điều khoản khi họ sử dụng phần mềm mã nguồn mở. Tuy nhiên, các điều khoản này không hề giống với phần mềm độc quyền. Giấy phép nguồn mở ảnh hưởng đến cách mọi người có thể sử dụng, nghiên cứu, sửa đổi và phân phối phần mềm. Nói chung, giấy phép nguồn mở cho phép người dùng được phép sử dụng phần mềm nguồn mở cho bất kỳ mục đích nào họ muốn.

Phần mềm nguồn mở chỉ quan trọng đối với các lập trình máy tính?

Điều này hoàn toàn không đúng. Công nghệ và tư duy mã nguồn mở mang đến lợi ích cho cả lập trình viên và người dùng. Mỗi khi người dùng máy tính truy cập trang web, kiểm tra email, trò chuyện với bạn bè, nghe nhạc trực tuyến hoặc chơi trò chơi điện tử nhiều người, máy tính, điện thoại di động kết nối với một mạng máy tính toàn cầu sử dụng phần mềm mã nguồn mở để định tuyến và truyền tải dữ liệu tới các thiết bị “cục bộ”. Các máy tính trong mạng máy tính này thường nằm ở những nơi xa xôi mà người dùng không thực sự nhìn thấy hoặc không thể truy cập được. Ngày càng có nhiều người dựa vào máy tính từ xa thực hiện các tác vụ như xử lý văn bản trực tuyến, quản lý email và phần mềm chỉnh sửa ảnh mà không cần cài đặt và chạy trên máy tính cá nhân của họ. Thay vào đó, họ chỉ cần truy cập các chương trình này trên các máy tính từ xa bằng cách sử dụng trình duyệt Web hoặc ứng dụng điện thoại di động. Khi họ làm việc này, họ đang tham gia vào chương trình điện toán đám mây.

Điện toán đám mây là một khía cạnh ngày càng quan trọng của cuộc sống khi mọi thông tin đều được kết nối với nhau thông qua internet. Một số ứng dụng điện toán đám mây, như Google Apps, là sở hữu độc quyền. Những ứng dụng khác, như ownCloud và Nextcloud, là mã nguồn mở. Các ứng dụng điện toán đám mây chạy trên phần mềm bổ sung giúp hoạt động trơn tru và hiệu quả. Các nền tảng điện toán đám mây có thể là mã nguồn mở hoặc mã nguồn đóng. OpenStack là một ví dụ về nền tảng điện toán đám mây nguồn mở.

Tại sao mọi người thích sử dụng phần mềm nguồn mở?

Mọi người thích phần mềm nguồn mở hơn các phần mềm độc quyền vì một số lý do, bao gồm:

Phần mềm mã nguồn mở được ưa chuộng hơn phần mềm mã nguồn đóng

Kiểm soát dữ liệu tốt hơn: với phần mềm mã nguồn mở, việc kiểm soát trở nên dễ dàng hơn, người dùng có thể sử dụng phần mềm cho bất kỳ mục đích nào họ mong muốn. Đồng thời người dùng cũng có thể thay đổi các chức năng không phù hợp hoặc lược bỏ bớt các phần không cần thiết.

Đào tạo: phần mềm mã nguồn mở chia sẻ nhiều thông tin công khai, giúp ích cho sự phát triển trình độ của các lập trình viên. Sinh viên cũng có thể dễ dàng nghiên cứu trong quá trình học, tạo ra phần mềm tốt hơn. Với các sai sót được góp ý, phần mềm này sẽ nhanh chóng được cải tiến và giúp những người khác tránh khỏi những sai lầm tương tự.

An toàn: Một số người thích phần mềm mã nguồn mở vì họ cho rằng chúng an toàn hơn các phần mềm mã nguồn đóng. Bất kỳ ai cũng có thể xem và sửa đổi phần mềm mã nguồn mở, sửa chữa những sai sót mà các tác giả tạo ra chúng có thể chưa nghĩ đến. Hơn nữa, việc sửa chữa này không cần nhận được sự cho phép của tác giả. Việc này giúp quá trình cải tiến diễn ra nhanh hơn so với phần mềm mã nguồn đóng.

Tính ổn định: Nhiều người thích sử dụng phần mềm mã nguồn mở hơn phần mềm mã nguồn đóng bởi họ cho rằng phần mềm mã nguồn mở có tính ổn định hơn. Vì được chia sẻ công khai nên người dùng có thể chắc chắn rằng các phần mềm mình đang dùng sẽ không đột nhiên biến mất hoặc ngưng sử dụng trong trường hợp người sáng tạo ban đầu đóng phần mềm.

Khái niệm “Mã nguồn mở” chỉ có nghĩa là một cái gì đó là miễn phí?

Mã nguồn mở không đồng nghĩa với miễn phí. Các lập trình viên phần mềm mã nguồn mở có thể tính tiền cho phần mềm mã nguồn mở họ tạo ra hoặc đóng góp công sức. Hoặc họ có thể tặng miễn phí phần mềm nhưng sẽ thu phí dịch vụ hỗ trợ và triển khai. Dù theo cách nào thì phần mềm mã nguồn mở cũng không phải là tài nguyên miễn phí nếu doanh nghiệp muốn sử dụng để nâng cao hiệu suất công việc.

Tôi có thể tìm hiểu thêm về mã nguồn mở ở đâu?

IZISolution là một trong những đơn vị cung cấp giải pháp phần mềm quản trị doanh nghiệp mã nguồn mở. Bạn hoàn toàn có thể liên hệ với chúng tôi để sở hữu những thông tin quý giá không chỉ về khái niệm phần mềm mã nguồn mở hoặc theo dõi trang web của chúng tôi để cập nhật các thông tin mới nhất và hữu ích nhất.

IZISolution

Lý Thuyết Arn Và Quá Trình Phiên Mã Sinh 12 / 2023

1. Cấu tạo hóa học của ARN

Tương tự như phân tử ADN thì ARN là đại phân tử cấu tạo theo nguyên tắc đa phân, đơn phân là các ribônuclêôtit.

Mỗi đơn phân (ribônuclêôtit) gồm 3 thành phần:

ARN có cấu trúc chỉ gồm một chuỗi poliribônuclêôtit. Số ribônuclêôtit trong ARN bằng một nửa nuclêôtit trong phân tử ADN tổng hợp ra nó.

2. Các loại ARN và chức năng

Có 3 loại ARN là mARN, tARN và rARN thực hiện các chức năng khác nhau.

mARN cấu tạo từ một chuỗi poliribônuclêôtit dưới dạng mạch thẳng, mARN có chức năng truyền đạt thông tin di truyền từ mạch gốc trên ADN đến chuỗi polipeptit. Các chuỗi polipeptit sẽ tạo thành prôtêin.

tARN có cấu trúc với 3 thuỳ, trong đó có một thuỳ mang bộ ba đối mã có trình tự bổ sung với 1 bộ ba mã hóa axit amin trên phân tử mARN, tARN có chức năng vận chuyển axit amin tới ribôxôm để tổng hợp nên chuỗi polipetit.

rARN có cấu trúc mạch đơn nhưng nhiều vùng các nuclêôtit liên kết bổ sung với nhau tạo các vùng xoắn kép cục bộ. rARN liên kết với các protein tạo nên các riboxom. rARN là loại ARN có cấu trúc có nhiếu liên kết hidro trong phân tử nhất và chiếm số lượng lớn nhất trong tế bào.

II. PHIÊN MÃ 1. Khái niệm

Phiên mã là quá trình tổng hợp phân tử ARN từ mạch mã gôc của gen. Bản chất của quá trình phiên mã là truyền đạt thông tin trên mạch mã gốc sang phân tử ARN.

Quá trình này diễn ra trong nhân, ở kì trung gian của tế bào giữa 2 lần phân bào, lúc NST đang giãn xoắn.

2. Cơ chế phiên mã a) Các thành phần tham gia vào quá trình phiên mã

Mạch mã gốc của gen mang thông tin tổng hợp phân tử ARN

Nguyên liệu để tổng hợp mạch là các ribonucleotit tự do trong môi trường (U, A,G,X)

ARN polimeaza nhận biết điểm khởi đầu phiên mã trên mạch mã gốc, bám vào và liên kết với mạch mã gốc, tháo xoắn phân tử ADN → lộ ra mạch mã gốc, tổng hợp nên mạch ARN mới.

Quá trình phiên mã diễn ra theo các bước:

Bước 1. Khởi đầu:

Enzym ARN pôlimeraza bám vào vùng điều hoà làm gen tháo xoắn để lộ ra mạch gốc có chiều 3’→ 5′ và bắt đầu tổng hợp mARN tại vị trí đặc hiệu.

Bước 2. Kéo dài chuỗi ARN:

Enzym ARN pôlimeraza trượt dọc theo mạch gốc trên gen có chiều 3′ → 5′ và gắn các nuclêôtit trong môi trường nội bào liên kết với các nuclêôtit trên mạch gốc theo nguyên tắc bổ sung: A gốc – U môi trường, T gốc – A môi trường, G gốc – X môi trường, X gốc – G môi trường, để tổng hợp nên mARN theo chiều 5′ → 3′.

Vùng nào trên gen vừa phiên mã xong thì 2 mạch đơn của gen đóng xoắn ngay lại.

Bước 3. Kết thúc:

Khi enzym di chuyển đến cuối gen, gặp tín hiệu kết thúc thì quá trình phiên mã dừng lại, phân tử ARN được giải phóng.

Do gen ở sinh vật nhân sơcó vùng mã hóa liên tục nên mARN sau phiên mã được dùng trực tiếp làm khuôn tổng hợp prôtêin.

Ở sinh vật nhân thực, do vùng mã hóa của gen không liên tục nên mARN sau phiên mã phải cắt bỏ các đoạn intron, nối các đoạn êxôn tạo mARN trưởng thành rồi đi qua màng nhân ra tế bào chất làm khuôn tổng hợp chuỗi polipeptit.

Kết quả: 1 lần phiên mã 1 gen tổng hợp nên 1 phân tử ARN, có trình tự giống với mARN bổ sung nhưng thay T bằng U.

: hình thành các loại ARN tham gia trực tiếp vào quá trình sinh tổng hợp prôtêin quy định tính trạng.

Những Khái Niệm Và Kiến Thức Cơ Bản Trong Mật Mã Học / 2023

Một số khái niệm cơ bản trong Mật Mã Học

Mật mã học (Cryptography) chính là để đảm bảo độ an toàn của thông tin trong công nghệ. Nó đi liền với quá trình chuyển đổi thông tin từ dạng ” có thể hiểu được” sang ” không thể hiểu được” và ngược lại là quá trình giải mã. Nhưng như thế mật mã học vẫn đảm bảo được tính chất thông tin như sau:

Tính bí mật (confidentiality): thông tin được hạn chế người biết

Tính toàn vẹn (integrity): các thông tin không bị thay đổi rất an toàn

Tính xác thực (authentication): xác thực người người gửi hoặc người nhận

Tính chống chối bỏ (non-repudiation): người gửi hay người nhận không thể chối từ đã gửi hay nhận thông tin

Thám mã (cryptanalysis): là việc phân tích bản tin mã hóa để nhận được bản tin rõ trong điều kiện không biết trước khóa mã. Thực tế công việc này gặp nhiều khó khăn khi không biết rõ hệ mật mã nào được sử dụng.

3 phương pháp tấn công cơ bản của thám mã là:

Tìm khóa vét cạn

Phân tích thống kê

Phân tích toán

Bản rõ (Plaintext): dạng thông báo ban đầu Bản mã (Ciphertext): dạng mã của bản rõ ban đầu Khóa (Key): thông tin tham số dùng để mã hóa Mã hóa (Encryption): sự biến đổi thông tin dạng bản rõ sang bản mã bằng khóa hoặc không Giải mã (Decryption): quá trình ngược lại so với giải mã.

Phân loại thuật toán mã hóa trong mật mã học

Cách phân loại theo khóa được sử dụng phổ biến nhất.

Thuật toán mã hóa khóa đối xứng

Thuật toán này còn có các tên khác như Secret Key Cryptography (hay Private Key Cryptography), quá trình mã hóa và giải hóa sử dụng một khóa. Được thực hiện như sau: Hệ thống mã hóa này, ban đầu phải thống nhất được về khóa dùng chung cho mã hóa và giải mã trước khi truyền dữ liệu 2 bên gửi và nhận, bộ phận sinh khóa đưa ra khóa. Tiếp theo là bên gửi mã hóa Plaintext bằng khóa bí mật rồi gửi thông điệp được mã hóa cho bên nhận. Công việc của bên nhận là dùng khóa bí mật trên giải mã và lấy ra Plaintext.

Ngay từ đầu hai bên làm chung trên một mã hóa, nhưng người gửi gửi thông điệp đã mã hóa lại không cho biết khóa đã sử dụng với người nhận trong quá trình thực hiện. Thì người nhận sẽ không biết được nội dung tài liệu đã gửi, vì thế song song trao đổi về thuật toán là việc trao đổi về khóa.

Quá trình trao đổi khóa phải theo một kênh bí mật, có thể trao đổi trực tiếp hoặc gián tiếp. Điều quan trọng là thực hiện trên kênh tuyệt đối bí mật và hai bên tin tưởng lẫn nhau tránh để bên thứ 3 biết được.

Một số thuật toán mã hóa khóa công khai phổ biến

Ở đây Plaintext được mã hóa theo từng khối 64 bits và sử dụng một khóa là 64 bits, thực tế thì chỉ có 56 bits được sử dụng chính. Thuật toán này được sử dụng rộng rãi và trong khoảng thời gian hơn 20 năm phát triển. Đến bây giờ nó không được ưa chuộng nhiều vì kích thước khóa nhỏ và độ an toàn không được cao.

Triple DES (3DES) để cải thiện độ mạnh của DES bằng việc sử dụng quá trình hóa- giải- mã- mã hóa sử dụng 3 khóa. Khối 64 bit Plaintext đầu tiên được mã hóa bởi khóa thứ nhất. Dùng mã thứ hai để giải mã, bước cuối là dùng khóa thứ 3 và có kết quả giải mã trên mã hóa.

AES (Advanced Encryption Standard) Chính thức ra đời vào tháng 11 năm 2001 thay thế cho chúng tôi Hỗ trợ độ lớn nhỏ nhất của khóa là 128, 192 và 256 bits, đến hiện tại nó đang được sử dụng nhiều.

Thuật toán mã hóa bất đối xứng

Nó còn có tên khác là mã hóa khóa công khai (Public Key Cryptography) với thiết kế khóa sử dụng trong quá trình mã khóa khác biệt với khóa sử dụng trong giải mã. Hai khóa này có quan hệ về mặt toán học nhưng không thể suy diễn được ra nhau. Khóa được dùng ở đây sẽ được công khai cho tất cả mọi người thế nên thuật toán này gọi là Public-Key. Việc dùng khóa này để mã hóa rất dễ dàng nhưng chỉ có một người duy nhất có khóa giải mã tương ứng mới đọc được dữ liệu. Vì thế thuật mã hóa này Encryption key được gọi là Public key còn Decryption key được gọi là Prvate key.

Thuật toán trên có ưu điểm về tốc độ thực hiện rất nhanh nhưng vẫn có nhược điểm sau:

Khóa phải được trao đổi thông qua một kênh bí mật.

Thông tin chắc chắn sẽ bị lộ nếu như bị mất khóa

Định kỳ chúng ta cần thay đổi khóa

Số lượng người dùng tương ứng với số lượng khóa

Nhược điểm thuật toán mã hóa khóa riêng nằm ở việc quản lý khóa, để khắc phục thì mã hóa khóa công khai ra đời. Trong hệ thống mã khóa này thì một người sử dụng khi tham gia đều được cấp 2 khóa: một khóa để mã hóa dữ liệu (Public key) một dùng để giải mã (Private key). Khi đó Public key được nhiều người biết còn khóa còn lại chỉ duy nhất một người biết. Để truyền tin cho nhau sử dụng mã hóa công khai được thực hiện như sau:

Sender yêu cầu cung cấp hay tự tìm khóa công khai của Receiver trên một Server quản lý khóa đó

Khi hai phía thống nhất thuật toán để mã hóa dữ liệu xong, Sender sử dụng khóa công khai của Receiver cùng với thuật toán trên để mã hóa thông tin bí mật.

Mã hóa thông tin xong sẽ gửi đến Receiver, nhưng Sender cũng không thể nào giải mã được thông tin đã mã hóa (khác với mã hóa khóa riêng).

Nhận được thông tin đã mã hóa, Receiver dùng khóa bí mật của mình để giải mã và lấy thông tin ban đầu.

Mã hóa khóa công khai được quản lý một cách linh hoạt và hiệu quả hơn. Khi dùng chỉ cần bảo vệ khóa Private key. Hệ thống này có độ an toàn cao hơn nhiều so với mã khóa riêng. Nhưng nó vẫn chưa được hoàn chỉnh, nó có tốc độ thực hiện không được nhanh chậm hơn mã khóa riêng gần 1000 lần. Vì thế họ đã gộp hệ thống mã khóa riêng và công hai với nhau là Hybrid Cryptosytems. Có các thuật toán mã công khai như sau:

RSA : được sử dụng đồng thời mã hóa công khai và chữ ký điện tử, mức độ an toàn ở đây dựa vào việc phân tích số nguyên tố lớn thành hai số nguyên tố.

Mã hóa một chiều

Có trường hợp ta chỉ cần mã hóa thông tin chứ không giải mã lúc đó ta sẽ dùng phương pháp mã hóa một chiều. Thường thì hay sử dụng hàm băm (hash funcution) để đưa chuỗi thông tin thành chuỗi hash với độ dài nhất định. Ở đây sẽ không có cách để khôi phục chuỗi hash về chuỗi thông tin như lúc đầu. Hàm băm nhận một chuỗi có độ dài khác nhau chuyển đổi thành chuỗi hash có độ dài cố định. Hai hash được sinh ra với kết quả khác nhau rất nhiều, thế nên hash function thường sử dụng để kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu.

Gỉa sử bạn up một dữ liệu lên mạng với mục đích là người dùng có thể kiểm tra dữ liệu họ down về chính xác là dữ liệu mình up lên không. Khi đó bạn sẽ dùng hash function để băm dữ liệu file đó ra một chuỗi hash gửi kèm cho người dùng. Lúc này người dùng chỉ cần dùng đúng hash function để tìm chuỗi hash hiện tạ của file down, so sánh với chuỗi ban đầu giống nhau là ok. Bên cạnh đó nó còn giúp bạn lưu giữ mât khẩu của người dùng cách an toàn tuyệt đối, mật khẩu được lưu giữ dưới dạng chuỗi hash, mật khẩu có bị mất thì cũng khó thể giải mã được. Thuật toán mã hóa một chiều mà hay gặp đó là MD5 và SHA MD5 nó được chứng minh là không an toàn nhưng vẫn được dùng phổ biến trong việc lưu mật khẩu SHA ra đời sau MD5 và đã có phiên bản SHA-256 có độ an toàn cao.

Kết luận