Khái Niệm Luật Hình Sự / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | 2atlantic.edu.vn

Khái Niệm Luật Hình Sự

a, Đối tượng điều chỉnh của Luật hình sự

Là những quan hệ xã hội phát sinh giữa nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm.

Trong quan hệ pháp luật hình sự luôn có hai chủ thể với những vị trí pháp lý khác nhau đó là nhà nước và người phạm tội.

Nhà nước có quyền truy tố xét xử người phạm tội, buộc họ phải chịu những biện pháp trách nhiệm hình sự nhất định để bảo vệ pháp luật bảo vệ lợi ích của toàn xã hội. Đồng thời, nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội.

Người phạm tội có trách nhiệm chấp hành các biện pháp cưỡng chế mà nhà nước áp dụng đối với mình (tạm giam, tạm giữ, giam), mặt khác, họ có quyền yêu cầu nhà nước đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của mình (khiếu nại hành vi vi phạm thủ tục của các cơ quan tiến hành tố tụng, bào chữa, nhờ người bào chữa).

b, Phương pháp điều chỉnh của Luật hình sự

Xuất phát từ chức năng điều chỉnh và địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật này, Luật hình sự sử dụng phương pháp “quyền uy” – phương pháp sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự. Sự thể hiện quyền uy là một bên nhân danh nhà nước áp dụng pháp luật như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án đối với người phạm tội (điều tra, truy tố, xét xử).

c, Khái niệm Luật hình sự

Luật hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm hệ thống những quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm, đồng thời quy định hình phạt đối với những tội phạm ấy

Khái Niệm Luật Hình Sự Là Gì?

Luật hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quy định về tội phạm, xác định hình phạt phạm tội nhằm đấu tranh chống tội phạm, lại trừ các hành vi nguy hiểm cho xã hội. Luật hình sự bao gồm hệ thống những quy định pháp luật, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành với mục đích xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đồng thời quy định hình phạt đối với những tội phạm ấy.

Hệ thống pháp luật của Việt Nam là sự kết hợp từ nhiều ngành luật. Mỗi ngành luật được ban hành ra đều nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của Nhà Nước, của công dân, bảo đảm pháp chế, phòng chống vi phạm pháp luật.

Trong đó, luật hình sự với mục đích bảo vệ mối quan hệ hình thành giữa nhà nước và người phạm tội khi người phạm tội bị nhà nước ra quyết định về tội của mình.

Như vậy, luật hình sự là ngành luật không phải là để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, luật hình sự tạo ra nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa tội phạm và hình phạt.

Trách nhiệm, nhiệm vụ của luật hình sự

– Luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ những quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng trong đời sống xã hội bao gồm: Quyền làm chủ của nhân dân, quyền bảo vệ quyền lợi và lợi ích của công dân, bảo vệ các chế độ xã hội, bảo vệ quyền lợi của tổ chức, nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật.

– Luật hình sự được ban hành ra như một công cụ sắc bén để đấu tranh và phòng chống tội phạm.

– Luật hình sự còn là một giáo trình giúp mọi người nâng cao ý thức pháp luật, nâng cao ý thức hành vi phạm tội.

Mỗi bộ luật đều có phương pháp điều chỉnh riêng biệt, vì mối quan hệ xã hội giữa nhà nước và người phạm tội khác nhau. Nhà nước dùng uy quyền để quy định mức độ phạm tội, ấn định hình phạt buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm về hình phạt đó.

– Nhà nước sẽ tự mình đưa ra xem xét và quyết định hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội.

– Nhà nước sẽ giao nhiệm vụ xử lý tội phạm cho các cơ quan tư pháp. Các cơ quan này sẽ có nhiệm vụ thay nhân danh nhà nước điều tra, truy tố, xét xử, xác định hình phục buộc người phạm tội phải chấp hành hình phạt.

Nếu có gì thắc mắc hay chưa hiểu rõ về luật. Bạn hãy vui lòng liên hệ Tổng đài 1900.8698 để được các luật sư Tgs tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 Hoặc truy cập Website:

Khái Niệm Tội Phạm Trong Bộ Luật Hình Sự

Khái niệm tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật hình sự. Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự ở mỗi nước. Tội phạm là một hiện tượng xã hội, cho nên khái niệm của nó luôn luôn gắn liền với sự phát triển xã hội và ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện. Hiện nay, trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999 với một loạt quan điểm mới như bổ sung nguồn của Bộ luật hình sự và trách nhiệm hình sự của pháp nhân… thì việc hoàn thiện quy định về khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự là điều hết sức cần thiết.

1. Tham khảo Luật hình sự của một số nước thế giới

Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới có quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự, tuy nhiên cũng có một số quốc gia không đưa khái niệm tội phạm vào Bộ luật hình sự.

Bên cạnh đó, ở một số quốc gia có quy định khái niệm tội phạm trong Luật hình sự và cách thể hiện khái niệm tội phạm cũng có nhiều điểm khác nhau, có những quốc gia chỉ quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức, có những quốc gia quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức và dấu hiệu nội dung.

Ngay từ thời kỳ đầu khi xã hội tư sản vừa bước ra khỏi sự hạn chế của chủ nghĩa phong kiến, với tư tưởng đề cao vai trò của tự do dân chủ và bình đẳng, tư tưởng nhà nước pháp quyền thì quan niệm con người được phép làm những gì pháp luật không cấm… được thể hiện rất rõ nét trong khái niệm tội phạm. Do đó, khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự ở một số nước tư sản đã được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau: là hành vi bị đạo luật hình sự cấm hoặc là “vi phạm pháp luật bị Bộ luật hình sự trừng trị” hoặc là “hành vi do luật hình sự cấm bằng nguy cơ xử phạt” … Theo các luật gia tư sản thời kỳ này thì tội phạm là các hành vi do luật hình quy định. Trong khái niệm tội phạm này tính luật định được coi là đặc điểm duy nhất của tội phạm. Thực hiện nguyên tắc “không có tội phạm nếu điều đó không bị cấm trong Bộ luật hình sự”, các luật gia tư sản chứng minh được thế tiến bộ của nước mình trước luật hình phong kiến. Cho tới nay, trong Bộ luật hình sự ở một số nước cũng vẫn quy định tội phạm dưới dạng hình thức là hành vi do Luật định. Cụ thể như: tại Điều 1 BLHS Thụy Điển quy định: ” Tội phạm là hành vi được quy định trong Bộ luật này hoặc luật hoặc các văn bản pháp luật khác và bị áp dụng các hình phạt theo quy định của Luật này “. Điều 10 Bộ luật hình sự Cộng hòa Tây Ban Nha, tội phạm là hành vi bằng hành động hoặc không hành động, có lỗi cố ý hoặc vô ý và bị áp dụng hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự và theo quy định tại Điều 1 Bộ luật hình sự Cộng hòa Thụy Sĩ, chỉ người nào thực hiện hành vi bị Bộ luật hình sự cấm bằng nguy cơ bị áp dụng hình phạt mới phải chịu hình phạt

Hiện nay, cùng với dấu hiệu hình thức, ở một số nước đã đưa dấu hiệu nội dung vào khái niệm tội phạm. Tội phạm không chỉ là hành vi được luật hình quy định mà còn là hành vi chống lại lợi ích xã hội, là hành vi có hại. Các khái niệm tội phạm được quy định trong Luật hình sự thể hiện ở hai dạng: khái niệm đầy đủ và khái niệm tổng quát về tội phạm.

Trong khái niệm này các tác giả đưa ra đầy đủ các dấu hiệu tội phạm. Một số cho rằng “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự do người đến một độ tuổi nhất định có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và vì nó người phạm tội phải bị xử phạt”.

Những người có quan điểm này cho rằng tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ Luật hình sự quy định hay nói cách khác tội phạm có hai đặc tính cơ bản: nội dung là hành vi nguy hiểm cho xã hội và hình thức được Bộ luật hình sự quy định.

Ở cấp độ các bang, hầu hết bộ luật hình sự các bang đều chú ý xây dựng khái niệm tội phạm nói chung, làm cơ sở cho việc quy định các hành vi phạm tội cụ thể. Bộ luật hình sự bang California định nghĩa: ” Tội phạm là hành vi được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động vi phạm các quy định của pháp luật về việc cấm thực hiện hoặc buộc phải thực hiện hành vi và hình phạt được áp dụng có thể là tử hình, tù giam, phạt tiền, buộc thôi việc ở các cơ quan hoặc cấm đảm nhiệm các công việc hoặc thu lợi ở bang này“. Bộ luật hình sự bang Colorado định nghĩa: ” Tội phạm là sự vi phạm bất kì luật nào của liên bang hoặc là xử sự được mô tả bởi chính luật đó mà bằng việc phạm tội có thể bị phạt tiền hay phạt tù“. Bộ luật hình sự bang New York định nghĩa: ” Tội phạm là hành vi gây thiệt hại mà hình phạt đối với người thực hiện là tù giam có thời hạn hoặc phạt tiền được quy định trong các văn bản luật hoặc văn bản dưới luật của bang hoặc được thừa nhận trong các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền “. Nét đặc trưng là nhà làm luật rất coi trọng yếu tố hình thức và hậu quả pháp lí của tội phạm. Dấu hiệu về “tính chất được quy định trong pháp luật hình sự” và “phải bị xử phạt về hình sự đối với người thực hiện nó” là các dấu hiệu pháp lí chủ yếu của tội phạm

2. Cơ sở lý luận cho việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam

Trên cơ sở tham khảo những quy định của Bộ luật hình sự ở một số nước trên, có thể nhận thấy về cơ sở lý luận cho việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự cần phải giải quyết vấn đề: có nên quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự hay không? và nếu quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự thì quy định như thế nào?

Rõ ràng, với những ý nghĩa trên của khái niệm tội phạm thì cần thiết phải quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam.

Vấn đề ở đây đây đặt ra nên quy định khái niệm tội phạm theo hướng chỉ quy định dấu hiệu hình thức (được Bộ luật hình sự quy định hay nói cách khác trái pháp luật hình sự) hay bao gồm cả dấu hiệu nội dung (hành vi nguy hiểm cho xã hội) và dấu hiệu hình thức.

Nghiên cứu lịch sử luật hình sự Việt Nam thì lần đầu tiên khái niệm tội phạm đã được chính thức ghi nhận trong văn bản pháp luật ở khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1985. Theo đó, khái niệm tội phạm được quy định: ” Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ kinh tế và sở hữu xã hội chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa“. Trong khái niệm đã khẳng định nguyên tắc hành vi, luật hình sự Việt Nam không những không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tư tưởng của con người mà còn không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cả những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan nhưng không phải là hành vi. Kế thừa quy định về khái niệm tội phạm ở Bộ luật hình sự năm 1985, khoản 1 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: ” Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, một lần nữa nguyên tắc hành vi lại được khẳng định. Có thể thấy pháp luật hình sự nước ta luôn luôn coi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là điều kiện đầu tiên, quan trọng nhất để xem xét một hành vi có phải là tội phạm hay không.

Từ những cơ sở trên, có thể thấy việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam bao gồm cả dấu hiệu nội dung (tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi) và dấu hiệu hình thức (tính trái pháp luật hình sự) là hết sức cần thiết.

3. Bất cập quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành và đề xuất hoàn thiện

Nghiên cứu từng khoản của Điều 8 Bộ luật hình sự quy định về khái niệm tội phạm có những bất cập sau:

, khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: ” Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”

Như vậy, khái niệm tội phạm dưới dạng khái niệm đầy đủ về tội phạm như một số nước. Phân tích khái niệm trên, ta có thể thấy tội phạm có các đặc điểm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi này được quy định trong Bộ luật hình sự, hành vi này phải do người có năng lực trách nhiệm thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý và hành vi xâm hại đến một loạt các khách thể được bảo vệ bởi luật hình sự. Tuy nhiên, một định nghĩa như vậy tương đối dài, không đảm bảo tính ngắn gọn của định nghĩa. Theo Từ điển tiếng việt thì “khái niệm” được hiểu là “ý nghĩ phản ánh ở dạng khái quát các sự vật và hiện tượng của hiện thực và những mối liên hệ giữa chúng”. Do đó đòi hỏi khái niệm phải được diễn đạt ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn thể hiện được những nội dung mang tính bản chất của khái niệm.

Một điểm quan trọng nữa trong nội dung dự thảo sửa đổi Bộ luật hình sự là quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Như vậy, thực hiện hành vi phạm tội ngoài cá nhân ra thì còn pháp nhân thực hiện.

Ngoài ra, trong khái niệm còn thể hiện đặc điểm tội phạm phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Cần phải khẳng định, năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để có thể xác định một người là có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm hoặc không thực hiện một việc mà luật hình sự quy định phải làm. Như vậy, năng lực trách nhiệm hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với lỗi mà tính có lỗi là đặc điểm của tội phạm đã được quy định trong khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999. Theo đó, lỗi được hiểu là: ” Thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý “. Là mặt hình thức của lỗi, quan hệ tâm lí ở đây bao gồm yêu tố lí trí và yếu tố ý chí là hai yếu tố cần thiết tạo thành lỗi. Hai yếu tố này – một thể hiện năng lực nhận thức thực tại khách quan, một thể hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở của sự nhận thức là những yếu tố tâm lí cần thiết của mọi hành động có ý thức của con người. Nội dung của những yếu tố này cũng chính là những điều kiện bắt buộc để tạo thành năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, khi một người được coi là có lỗi đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thì đương nhiên họ phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, khi tính có lỗi đã được quy định trong khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 là đặc điểm của tội phạm rồi thì nhà làm luật không cần phải quy định tính có năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể vào trong khái niệm này nữa. Quy định như vậy sẽ làm cho nội dung khái niệm của tội phạm trở nên rườm rà và tính khoa học của nó không cao.

Hành vi nguy hiểm cho xã hội tức là hành vi xâm phạm (gây thiệt hại hoặc nguy cơ gây thiệt hại) một hay nhiều khách thể nhất định. Vì vậy cũng có những cách nhìn nhận khác nhau về việc liệt kê khách thể chung của tội phạm. Có ý kiến cho rằng chính bằng cách chỉ ra khách thể chung như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội…người làm luật đã làm sáng tỏ bản chất giai cấp của luật hình sự, phân biệt khái niệm tội phạm trong luật hình xã hội chủ nghĩa với luật hình các chế độ nhà nước khác. Loại ý kiến thứ hai thì cho rằng người làm luật liệt kê rõ trong định nghĩa về tội phạm khách thể bị xâm hại là đưa ra cơ sở pháp lý để phân biệt tội phạm và các vi phạm pháp luật khác. Còn loại ý kiến khác nữa thì cho rằng các khách thể mà người làm luật đưa ra trong định nghĩa về tội phạm là trật tự các mối quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ tùy theo mức độ quan trọng của nó, và vì vậy nó là cơ sở cho sự phân loại các chương trong Bộ Luật hình sự ở phần các tội phạm.

Những cách nhìn nhận trên đều có những yếu tố hợp lý của nó, nhưng không hoàn toàn chính xác. Nếu theo cách nhìn nhận thứ nhất thì không phải chỉ luật hình sự xã hội chủ nghĩa mới bảo vệ những khách thể như độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, như tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của con người. Quan điểm thứ hai cũng không chính xác. Các quan hệ xã hội mà Bộ luật hình sự nêu ra ở đây không chỉ bị tội phạm xâm hại, các vi phạm pháp luật khác như vi phạm hành chính, gây thiệt hại về dân sự… cũng có thể gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội. Sự khác nhau ở đây chỉ ở chỗ các vi phạm pháp luật này ít nguy hiểm hơn. Nếu theo cách nhìn thứ ba thì chúng ta không hiểu tại sao tại phần các tội phạm, người làm luật lại quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự.. của công dân ngay sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia và trước các tội xâm phạm sở hữu.

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng việc quy định các dấu hiệu tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, tội phạm xâm phạm đến các khách thể được luật hình sự bảo vệ (được liệt kê như khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999) là không cần thiết, mà chỉ cần quy định một cách khái quát khái niệm tội phạm với các đặc điểm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và được quy định trong pháp luật hình sự.

, khoản 2 và khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: ” Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.

, khoản 4 Điều 8 quy định: ” Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác “. Quy định này là cơ sở để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác. Bất kỳ một vi phạm pháp luật nào dù ít hay nhiều đều mang tính nguy hiểm cho xã hội nhưng so với tội phạm, tính nguy hiểm của các vi phạm này không đáng kể. Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa đầy đủ. Để đánh giá một hành vi có nguy hiểm cho xã hội hay không cần dựa vào hai đặc tính: chất và lượng. Hai đặc tính đó hợp thành tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Đối với tính nguy hiểm của hành vi thì đó là tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Vì vậy, cần thiết sửa khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 bằng cách thay tập hợp tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể bằng tập hợp tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể.

Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 thành:

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác. ”

, ** Giảng viên, trường Đại học Kiểm sát Hà Nội.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 159 – 160.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 160.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 160 – 161.

Xem: Hồ Sỹ Sơn, tlđd, tr 92.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 171.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 168.

Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, sđd, tr 20.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 165.

Trường Đại học Luật Hà Nội, sđd, tr 136

Điều 1 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 161 – 163.

Xem: Trương Quang Vinh, tlđd

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 167.

KHÁI NIỆM TỘI PHẠM TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ Phạm Việt Nghĩa**

Khái niệm tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật hình sự. Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự ở mỗi nước. Tội phạm là một hiện tượng xã hội, cho nên khái niệm của nó luôn luôn gắn liền với sự phát triển xã hội và ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện. Hiện nay, trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999 với một loạt quan điểm mới như bổ sung nguồn của Bộ luật hình sự và trách nhiệm hình sự của pháp nhân… thì việc hoàn thiện quy định về khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự là điều hết sức cần thiết.

1. Tham khảo Luật hình sự của một số nước thế giới

Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới có quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự, tuy nhiên cũng có một số quốc gia không đưa khái niệm tội phạm vào Bộ luật hình sự.

Bên cạnh đó, ở một số quốc gia có quy định khái niệm tội phạm trong Luật hình sự và cách thể hiện khái niệm tội phạm cũng có nhiều điểm khác nhau, có những quốc gia chỉ quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức, có những quốc gia quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức và dấu hiệu nội dung.

Ngay từ thời kỳ đầu khi xã hội tư sản vừa bước ra khỏi sự hạn chế của chủ nghĩa phong kiến, với tư tưởng đề cao vai trò của tự do dân chủ và bình đẳng, tư tưởng nhà nước pháp quyền thì quan niệm con người được phép làm những gì pháp luật không cấm… được thể hiện rất rõ nét trong khái niệm tội phạm. Do đó, khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự ở một số nước tư sản đã được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau: là hành vi bị đạo luật hình sự cấm hoặc là “vi phạm pháp luật bị Bộ luật hình sự trừng trị” hoặc là “hành vi do luật hình sự cấm bằng nguy cơ xử phạt” … Theo các luật gia tư sản thời kỳ này thì tội phạm là các hành vi do luật hình quy định. Trong khái niệm tội phạm này tính luật định được coi là đặc điểm duy nhất của tội phạm. Thực hiện nguyên tắc “không có tội phạm nếu điều đó không bị cấm trong Bộ luật hình sự”, các luật gia tư sản chứng minh được thế tiến bộ của nước mình trước luật hình phong kiến. Cho tới nay, trong Bộ luật hình sự ở một số nước cũng vẫn quy định tội phạm dưới dạng hình thức là hành vi do Luật định. Cụ thể như: tại Điều 1 BLHS Thụy Điển quy định: ” Tội phạm là hành vi được quy định trong Bộ luật này hoặc luật hoặc các văn bản pháp luật khác và bị áp dụng các hình phạt theo quy định của Luật này “. Điều 10 Bộ luật hình sự Cộng hòa Tây Ban Nha, tội phạm là hành vi bằng hành động hoặc không hành động, có lỗi cố ý hoặc vô ý và bị áp dụng hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự và theo quy định tại Điều 1 Bộ luật hình sự Cộng hòa Thụy Sĩ, chỉ người nào thực hiện hành vi bị Bộ luật hình sự cấm bằng nguy cơ bị áp dụng hình phạt mới phải chịu hình phạt

Hiện nay, cùng với dấu hiệu hình thức, ở một số nước đã đưa dấu hiệu nội dung vào khái niệm tội phạm. Tội phạm không chỉ là hành vi được luật hình quy định mà còn là hành vi chống lại lợi ích xã hội, là hành vi có hại. Các khái niệm tội phạm được quy định trong Luật hình sự thể hiện ở hai dạng: khái niệm đầy đủ và khái niệm tổng quát về tội phạm.

Trong khái niệm này các tác giả đưa ra đầy đủ các dấu hiệu tội phạm. Một số cho rằng “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự do người đến một độ tuổi nhất định có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và vì nó người phạm tội phải bị xử phạt”.

Những người có quan điểm này cho rằng tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ Luật hình sự quy định hay nói cách khác tội phạm có hai đặc tính cơ bản: nội dung là hành vi nguy hiểm cho xã hội và hình thức được Bộ luật hình sự quy định.

Ở cấp độ các bang, hầu hết bộ luật hình sự các bang đều chú ý xây dựng khái niệm tội phạm nói chung, làm cơ sở cho việc quy định các hành vi phạm tội cụ thể. Bộ luật hình sự bang California định nghĩa: ” Tội phạm là hành vi được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động vi phạm các quy định của pháp luật về việc cấm thực hiện hoặc buộc phải thực hiện hành vi và hình phạt được áp dụng có thể là tử hình, tù giam, phạt tiền, buộc thôi việc ở các cơ quan hoặc cấm đảm nhiệm các công việc hoặc thu lợi ở bang này“. Bộ luật hình sự bang Colorado định nghĩa: ” Tội phạm là sự vi phạm bất kì luật nào của liên bang hoặc là xử sự được mô tả bởi chính luật đó mà bằng việc phạm tội có thể bị phạt tiền hay phạt tù“. Bộ luật hình sự bang New York định nghĩa: ” Tội phạm là hành vi gây thiệt hại mà hình phạt đối với người thực hiện là tù giam có thời hạn hoặc phạt tiền được quy định trong các văn bản luật hoặc văn bản dưới luật của bang hoặc được thừa nhận trong các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền “. Nét đặc trưng là nhà làm luật rất coi trọng yếu tố hình thức và hậu quả pháp lí của tội phạm. Dấu hiệu về “tính chất được quy định trong pháp luật hình sự” và “phải bị xử phạt về hình sự đối với người thực hiện nó” là các dấu hiệu pháp lí chủ yếu của tội phạm

2. Cơ sở lý luận cho việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam

Trên cơ sở tham khảo những quy định của Bộ luật hình sự ở một số nước trên, có thể nhận thấy về cơ sở lý luận cho việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự cần phải giải quyết vấn đề: có nên quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự hay không? và nếu quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự thì quy định như thế nào?

Rõ ràng, với những ý nghĩa trên của khái niệm tội phạm thì cần thiết phải quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam.

Vấn đề ở đây đây đặt ra nên quy định khái niệm tội phạm theo hướng chỉ quy định dấu hiệu hình thức (được Bộ luật hình sự quy định hay nói cách khác trái pháp luật hình sự) hay bao gồm cả dấu hiệu nội dung (hành vi nguy hiểm cho xã hội) và dấu hiệu hình thức.

Nghiên cứu lịch sử luật hình sự Việt Nam thì lần đầu tiên khái niệm tội phạm đã được chính thức ghi nhận trong văn bản pháp luật ở khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1985. Theo đó, khái niệm tội phạm được quy định: ” Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ kinh tế và sở hữu xã hội chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa“. Trong khái niệm đã khẳng định nguyên tắc hành vi, luật hình sự Việt Nam không những không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tư tưởng của con người mà còn không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cả những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan nhưng không phải là hành vi. Kế thừa quy định về khái niệm tội phạm ở Bộ luật hình sự năm 1985, khoản 1 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: ” Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, một lần nữa nguyên tắc hành vi lại được khẳng định. Có thể thấy pháp luật hình sự nước ta luôn luôn coi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là điều kiện đầu tiên, quan trọng nhất để xem xét một hành vi có phải là tội phạm hay không.

Từ những cơ sở trên, có thể thấy việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam bao gồm cả dấu hiệu nội dung (tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi) và dấu hiệu hình thức (tính trái pháp luật hình sự) là hết sức cần thiết.

3. Bất cập quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành và đề xuất hoàn thiện

Nghiên cứu từng khoản của Điều 8 Bộ luật hình sự quy định về khái niệm tội phạm có những bất cập sau:

, khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: ” Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”

Như vậy, khái niệm tội phạm dưới dạng khái niệm đầy đủ về tội phạm như một số nước. Phân tích khái niệm trên, ta có thể thấy tội phạm có các đặc điểm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi này được quy định trong Bộ luật hình sự, hành vi này phải do người có năng lực trách nhiệm thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý và hành vi xâm hại đến một loạt các khách thể được bảo vệ bởi luật hình sự. Tuy nhiên, một định nghĩa như vậy tương đối dài, không đảm bảo tính ngắn gọn của định nghĩa. Theo Từ điển tiếng việt thì “khái niệm” được hiểu là “ý nghĩ phản ánh ở dạng khái quát các sự vật và hiện tượng của hiện thực và những mối liên hệ giữa chúng”. Do đó đòi hỏi khái niệm phải được diễn đạt ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn thể hiện được những nội dung mang tính bản chất của khái niệm.

Một điểm quan trọng nữa trong nội dung dự thảo sửa đổi Bộ luật hình sự là quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Như vậy, thực hiện hành vi phạm tội ngoài cá nhân ra thì còn pháp nhân thực hiện.

Ngoài ra, trong khái niệm còn thể hiện đặc điểm tội phạm phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Cần phải khẳng định, năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để có thể xác định một người là có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm hoặc không thực hiện một việc mà luật hình sự quy định phải làm. Như vậy, năng lực trách nhiệm hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với lỗi mà tính có lỗi là đặc điểm của tội phạm đã được quy định trong khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999. Theo đó, lỗi được hiểu là: ” Thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý “. Là mặt hình thức của lỗi, quan hệ tâm lí ở đây bao gồm yêu tố lí trí và yếu tố ý chí là hai yếu tố cần thiết tạo thành lỗi. Hai yếu tố này – một thể hiện năng lực nhận thức thực tại khách quan, một thể hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở của sự nhận thức là những yếu tố tâm lí cần thiết của mọi hành động có ý thức của con người. Nội dung của những yếu tố này cũng chính là những điều kiện bắt buộc để tạo thành năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, khi một người được coi là có lỗi đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thì đương nhiên họ phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, khi tính có lỗi đã được quy định trong khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 là đặc điểm của tội phạm rồi thì nhà làm luật không cần phải quy định tính có năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể vào trong khái niệm này nữa. Quy định như vậy sẽ làm cho nội dung khái niệm của tội phạm trở nên rườm rà và tính khoa học của nó không cao.

Hành vi nguy hiểm cho xã hội tức là hành vi xâm phạm (gây thiệt hại hoặc nguy cơ gây thiệt hại) một hay nhiều khách thể nhất định. Vì vậy cũng có những cách nhìn nhận khác nhau về việc liệt kê khách thể chung của tội phạm. Có ý kiến cho rằng chính bằng cách chỉ ra khách thể chung như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội…người làm luật đã làm sáng tỏ bản chất giai cấp của luật hình sự, phân biệt khái niệm tội phạm trong luật hình xã hội chủ nghĩa với luật hình các chế độ nhà nước khác. Loại ý kiến thứ hai thì cho rằng người làm luật liệt kê rõ trong định nghĩa về tội phạm khách thể bị xâm hại là đưa ra cơ sở pháp lý để phân biệt tội phạm và các vi phạm pháp luật khác. Còn loại ý kiến khác nữa thì cho rằng các khách thể mà người làm luật đưa ra trong định nghĩa về tội phạm là trật tự các mối quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ tùy theo mức độ quan trọng của nó, và vì vậy nó là cơ sở cho sự phân loại các chương trong Bộ Luật hình sự ở phần các tội phạm.

Những cách nhìn nhận trên đều có những yếu tố hợp lý của nó, nhưng không hoàn toàn chính xác. Nếu theo cách nhìn nhận thứ nhất thì không phải chỉ luật hình sự xã hội chủ nghĩa mới bảo vệ những khách thể như độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, như tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của con người. Quan điểm thứ hai cũng không chính xác. Các quan hệ xã hội mà Bộ luật hình sự nêu ra ở đây không chỉ bị tội phạm xâm hại, các vi phạm pháp luật khác như vi phạm hành chính, gây thiệt hại về dân sự… cũng có thể gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội. Sự khác nhau ở đây chỉ ở chỗ các vi phạm pháp luật này ít nguy hiểm hơn. Nếu theo cách nhìn thứ ba thì chúng ta không hiểu tại sao tại phần các tội phạm, người làm luật lại quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự.. của công dân ngay sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia và trước các tội xâm phạm sở hữu.

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng việc quy định các dấu hiệu tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, tội phạm xâm phạm đến các khách thể được luật hình sự bảo vệ (được liệt kê như khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999) là không cần thiết, mà chỉ cần quy định một cách khái quát khái niệm tội phạm với các đặc điểm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và được quy định trong pháp luật hình sự.

, khoản 2 và khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: ” Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.

, khoản 4 Điều 8 quy định: ” Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác “. Quy định này là cơ sở để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác. Bất kỳ một vi phạm pháp luật nào dù ít hay nhiều đều mang tính nguy hiểm cho xã hội nhưng so với tội phạm, tính nguy hiểm của các vi phạm này không đáng kể. Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa đầy đủ. Để đánh giá một hành vi có nguy hiểm cho xã hội hay không cần dựa vào hai đặc tính: chất và lượng. Hai đặc tính đó hợp thành tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Đối với tính nguy hiểm của hành vi thì đó là tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Vì vậy, cần thiết sửa khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 bằng cách thay tập hợp tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể bằng tập hợp tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể.

Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 thành:

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác. ”

Nguồn: Tạp chí Nhà nước và pháp luật – Viện Hàn lâm khoa học Xã hội Việt Nam

(số 2(322)/2015)

, ** Giảng viên, trường Đại học Kiểm sát Hà Nội.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 159 – 160.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 160.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 160 – 161.

Xem: Hồ Sỹ Sơn, tlđd, tr 92.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 171.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 168.

Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, sđd, tr 20.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 165.

Trường Đại học Luật Hà Nội, sđd, tr 136

Điều 1 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 161 – 163.

Xem: Trương Quang Vinh, tlđd

Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 167.

Khái Niệm Tội Phạm Theo Bộ Luật Hình Sự 2022

Căn cứ Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Khái niệm tội phạm như sau:

“1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. 2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

+ Tội phạm ít nghiêm trọng được hiểu là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù;

+ Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù;

+ Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù;

+ Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Link bài viết: https://havip.com.vn/khai-niem-toi-pham-theo-bo-luat-hinh-su-2015/