Khái Niệm Công Tác Xã Hội Cá Nhân / 2023 / Top 20 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | 2atlantic.edu.vn

Công Tác Xã Hội Cá Nhân: Mục Tiêu, Giá Trị Và Nguyên Tắc / 2023

Biên soạn: ThS. Nguyễn Quốc Giang

1. Một số khái niệm về Công tác xã hội cá nhân

Bà Mary Richmond –nhà công tác xã hội tiên phong người Mỹ – cho rằng “Công tác xã hội cá nhân là nghệ thuật làm việc với từng cá nhân với các vấn đề khác nhau, thông qua việc nhân viên xã hội cùng hợp tác với thân chủ, giúp thân chủ thực hiện chức năng xã hội, cải thiện mối quan hệ giữa họ và môi trường xã hội trở nên tốt hơn.”

Theo cố Thạc sỹ Phát triển cộng đồng Nguyễn Thị Oanh “Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp can thiệp (của Công tác xã hội) quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm. Mục đích của Công tác xã hội cá nhân là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hành bình thường các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình.

Những điểm chung của các định nghĩa về CTXH cá nhân bao gồm:

Nhấn mạnh đây là một trong những phương pháp làm việc của CTXH nhằm hỗ trợ cho từng cá nhân theo mối quan hệ một – một;

Nhấn mạnh đến chức năng xã hội của cá nhân, những tiềm năng vốn có để cá nhân tự giải quyết vấn đề của mình;

Đề cập đến yếu tố môi trường xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề hiện tại của cá nhân đặc biệt là việc thực hành chức năng xã hội của cá nhân.

Ví dụ:

Một em học sinh có vai trò xã hội là học hành tốt, nhưng em thường xuyên bỏ học. Như vậy là việc thực hiện vai trò xã hội của em có vấn đề.

Hay “A, một người nhà của người bệnh phải chăm lo cho người bệnh và phối hợp với nhân viên y tế trong việc điều trị, tuy nhiên người này thường xuyên bỏ mặc người bệnh, không chăm sóc và hay nóng giận với nhân viên y tế, điều này nói lên vai trò xã hội của cá nhân A này đang có vấn đề”.

Đối tượng can thiệp là cá nhân và gia đình, mối quan hệ một – một;

 Nhiệm vụ của người trợ giúp đều có thể là người cung cấp dịch vụ (ví dụ như tham vấn);

 Họ cũng có thể thực hiện nối kết nguồn lực với TC;

 Nhân viên xã hội (NVXH) hay nhân viên CTXH được đào tạo chuyên môn.

2.2 Đặc điểm khác nhau:

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP

       Là tiến trình hỗ trợ cá nhân giải quyết vấn đề và đáp ứng nhu cầu (tâm lý xã hội, vật chất).

      Mục đích: giúp cho cá nhân giải quyết vấn bằng cách đi sâu vào đời sống của TC, bằng các phương pháp trong CTXH giúp thân chủ tự giải quyết vấn đề.        Mục đích: giúp cá nhân giải quyết vấn đề bằng cách tiếp cận nguồn lực trong xã hội theo 1 tiến trình giúp đỡ.

       Nhấn mạnh đến những kỹ năng của NVXH trong việc giúp thân chủ nhìn ra được điểm mạnh của thân chủ, tác động thay đổi của môi trường, dung hòa cả 2 yếu tố để giúp thân chủ thực hiện chức năng xã hội của mình một cách phù hợp.        Trong quản lý ca người ta nhấn mạnh vai trò kết nối thân chủ với nguồn lực, điều tiết và biện hộ cho thân chủ để họ có được dịch vụ trợ giúp tốt nhất hơn là trực tiếp cung cấp dịch vụ.

CTXH với cá nhân là thiết lập mối quan hệ tốt giữa nhân viên xã hội với thân chủ, giúp cho họ hiểu rõ về chính họ (khám phá bản thân), xác định lại mối tương quan giữa họ với những người xung quanh, giúp họ tăng khả năng vận dụng các nguồn lực xã hội (tài nguyên) và của bản thân để thay đổi. Nói một cách khác, CTXH cá nhân nhằm phục hồi, củng cố và phát triển sự thực thi bình thường chức năng xã hội của cá nhân và gia đình trong bối cảnh xã hội mà vấn đề của họ đang diễn ra và bị tác động.

Mục tiêu Diễn giải

    Giúp mọi người phát huy năng lực của chính họ và nâng cao khả năng tự xử lý và giải quyết vấn đề.

     Giúp thân chủ nhận ra vấn đề, những cách thức khác nhau để xác định vấn đề, giải pháp. Giúp thân chủ khám phá thế mạnh của mình, những điều họ có thể làm và tạo niềm hy vọng có thể giải quyết vấn đề, có thể tạo nên những thay đổi…

    Giúp mọi người tìm các nguồn lực và tạo thuận lợi cho các quan hệ tương tác giữa các cá nhân với tổ chức hay cá nhân khác.

     Cung cấp thông tin các dịch vụ xã hội và các chương trình phúc lợi để thân chủ có thể tiếp cận, đôi khi họ có thể bị từ chối phục vụ vì họ thuộc một nhóm nào đó bị bỏ rơi hay có vấn đề xã hội. NVXH sẽ có trách nhiệm hỗ trợ họ để họ có thể được hưởng lợi từ chương trình phúc lợi, hoặc dịch vụ xã hội.

    Giúp các tổ chức đáp ứng nhiệt tình nhu cầu của thân chủ và tạo ảnh hưởng tới quan hệ giữa các tổ chức và cá nhân.

     Cùng làm việc với các tổ chức đảm bảo việc thực hiện các chính sách, chế độ cho thân chủ. Xây dựng mối quan hệ tốt với các tổ chức, cá nhân để mang lại hiệu quả hỗ trợ tốt nhất cho thân chủ.

    Tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội.

3.2. Giá trị của CTXH cá nhân

Thừa nhận những giá trị có sẵn và tầm quan trọng của cá nhân cũng như có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các cá nhân và xã hội (thuyết hệ thống);

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng phẩm giá của cá nhân và những khả năng của họ trong việc thực hiện những quyết định quan trọng;

Công nhận sự tự quyết là một quyền cơ bản của cá nhân;

Công nhận tính độc đáo của thân chủ/khách hàng.

3.3 Nguyên tắc của CTXH cá nhân

3.3.1 Cá nhân hóa

Mỗi thân chủ là một cá thể duy nhất với những đặc điểm cá tính riêng biệt và chịu sự chi phối khác nhau của môi trường sống. Do đó, NVXH không nên nhìn nhận thân chủ theo những ý tưởng có trước cho từng thân chủ, dán nhãn lên hoàn cảnh và hành vi của thân chủ. Khả năng xem thân chủ như một cá nhân riêng biệt bằng cách cảm nhận qua những nét riêng tư và sự sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu của thân chủ là điều quan trọng nhất trong nguyên tắc cá nhân hóa. Những nhu cầu, nguyện vọng của thân chủ được thể hiện qua kế hoạch giải quyết vấn đề riêng cho thân chủ đó. Vì thế NVXH không áp dụng một mô hình chung cho những thân chủ khác nhau.

3.3.2 Chấp nhận thân chủ

NVXH chấp nhận thân chủ với tất cả những phẩm chất tốt và xấu của thân chủ đó,những điểm mạnh và điểm yếu của họ mà không phán xét hành vi của người đó. Chấpnhận thân chủ đoi hỏi sự không tính toán, không điều kiện cũng như không tuyên án hành vi của thân chủ. Nền tảng của nguyên tắc này là giả định triết học cho rằng mỗi cá nhân có giá trị bẩm sinh, không kể đến địa vị và hành vi của họ. Thân chủ được quyền lưu ý và thừa nhận là một con người cho dù anh ta có phạm tội đi chăng nữa.Chấp nhận không có nghĩa là tha thứ cho những hành vi phạm tội mà xã hội lên án, chấp nhận là thể hiện sự quan tâm và thiện chí hướng về con người ẩn sau hành vi.

3.3.3 Thái độ không kết án

Thái độ không kết án, không phê phán có nghĩa là không tỏ vẻ bất bình với thân chủ, không đổ lỗi bằng việc tranh luận về những nguyên nhân, hậu quả của hành vi hoặc đưa ra những lời phê phán. NVXH không nên thể hiện thái độ xem thường hay kết án đối với thân chủ. Khi NVXH đối xử với thân chủ bằng thái độ thân thiện, không kết án, thân chủ sẽ cảm thấy họ được chấp nhận hoàn toàn và có thể thoải mái bộc lộ vấn đề của họ.

3.3.4 Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ

Nguyên tắc này cho rằng cá nhân có quyền quyết định những vấn đề thuộc về đời sống riêng tư của họ và người khác không có quyền áp đặt các quyết định lên họ. Nhân viên xã hội có thể hướng dẫn, giúp đỡ thân chủ đưa ra những quyết định phù hợp với họ nhất. Sự tự quyết của thân chủ có những giới hạn riêng. Quyết định mà thân chủ đưa ra phải nằm trong phạm vi quy định của xã hội và hậu quả của nó không gây tổn hại đến chính họ cũng như tới những người khác.

Quyền tự quyết của thân chủ thể hiện ở việc thân chủ có sự cam kết tham gia vào toàn bộ tiến trình giải quyết vấn đề. Trong mọi tình huống, thân chủ thể hiện quyền chủ động tham gia hay rút lui khỏi các hoạt động trợ giúp mà NVXH dành cho họ.

3.3.5 Khuyến khích thân chủ tham gia giải quyết vấn đề

Nguyên tắc này gắn liền với quyền tự quyết của thân chủ. Nguyên tắc này còn góp phần giúp thân chủ chủ động tham gia vào việc theo đuổi những kế hoạch dài hạn cả sau khi can thiệp chấm dứt.

3.3.6 Giữ bí mật của thân chủ

Đây là nguyên tắc quan trọng trong CTXH. Nhân viên xã hội có nhiệm vụ giữ gìn bí mật những thông tin mà thân chủ cung cấp trong hầu hết các tình huống. Việc phá vỡ những nguyên tắc bảo mật phải được cân nhắc kỹ lưỡng trong những tình huống nghiêm trọng khi thân chủ có hành vi nguy hiểm đe dọa đến an toàn của bản thân và người khác.

(còn tiếp, phần 2: Công tác xã hội cá nhân: tiến trình giải quyết vấn đề)

Tài liệu tham khảo

SDRC- ESP. (2012). Tài liệu tập huấn CTXH cá nhân và gia đình.

Dean, H. Hepworth & Jo Ann Larsen. (1993). Direct Social Work Practice – Hướng dẫn CTXH Thực hành. Cole Publishing Company, Pacific Grove, California.

Charles H, Zastrow. (1999). The Practice of Social Work – CTXH Thực hành. Cole Publishing Company, United States of America.

Nguyễn Thị Oanh. (1998). Công tác xã hội đại cương, NXB Giáo dục.

SDRC. 2012. Tài liệu tập huấn “Quản lý ca”.

Ảnh bìa: nguồn internet (http://clipart-library.com/process-cliparts.html)

4.5

/

5

(

2

votes

)

Lv: Công Tác Xã Hội Cá Nhân Trong Việc Hỗ Trợ Người Cao Tuổi Tại Xã Minh Quang. / 2023

Published on

Tải luận văn thạc sĩ công tác xã hội, chuyên ngành công tác xã hội, đề tài: Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ người cao tuổi tại xã Minh Quang, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, dành cho những bạn làm luận văn có nhu cầu tham khảo.

1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI NGUYỄN THỊ THƯƠNG HUYỀN CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG VIỆC HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÃ MINH QUANG, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÀ NỘI – 2017

2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI NGUYỄN THỊ THƯƠNG HUYỀN CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG VIỆC HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÃ MINH QUANG, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Chuyên ngành: Công tác xã hội Mã số : 60.90.01.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐỖ THỊ VÂN ANH HÀ NỘI – 2017

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài “Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ người cao tuổi tại xã Minh Quang, huyện Ba Vì Tp. Hà nội” đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đúng với thực tiễn nghiên cứu. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền

4. LỜI CẢM ƠN Đề hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự hỗ trợ, hướng dẫn giảng dạy của các thầy cô, sự giúp đỡ của nhiều cá nhân, tổ chức. Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa sau đại học trường đại học, các thầy cô trong khoa công tác xã hội đã tham gia giảng dạy chương trình cao học ngành công tác xã hội trường đại học Lao động – Xã hội. Tôi xin chân thành cảm ơn TS.Đỗ Thị Vân Anh đã tận tình hỗ trợ và định hướng nghiên cứu trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài luận văn thạc sỹ. Hà Nội, tháng 10 năm 2017 Học viên Nguyễn Thị Thương Huyền

6. 1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đối với hoạt động công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi ………………………………………………………………………………… 28 1.4.1. Năng lực, trình độ của nhân viên xã hội………………………………………. 28 1.4.2. Đặc điểm đối tượng can thiệp, hỗ trợ………………………………………….. 29 1.4.3. Kinh phí hoạt động………………………………………………………………….. 29 1.4.4. Cơ chế chính sách và chế độ đãi ngộ đối với nhân viên công tác xã hội………. 29 1.5. Luật pháp chính sách đối với người cao tuổi ………………………………. 29 1.5.1. Những chủ trương của Đảng……………………………………………………… 29 1.5.2. Luật pháp và chính sách của nhà nước………………………………………… 31 1.6. Phương pháp can thiệp ……………………………………………………………….. 38 Tiểu kết chương 1…………………………………………………………………………… 41 CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VÀ TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ TRONG HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÃ MINH QUANG, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI………… 42 2.1. Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu…………………………………. 42 2.2. Mô tả khách thể nghiên cứu………………………………………………………. 44 2.3. Thực trạng công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi tại xã Minh Quang, huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội……………………………………………………… 59 2.3.1. Nhận thức, đánh giá của người cao tuổi về công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi tại cộng đồng ……………………………………………………………… 59 2.3.2. Mức độ tìm kiếm nguồn lực của nhân viên công tác xã hội …………… 60 2.3.3. Tìmhiểu nhucầu hỗ trợ ngườicao tuổiđối vớicôngtác xã hộicá nhân……….. 61 2.4. Tiến trình công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ người cao tuổi tại xã Minh Quang, huyện Ba Vì Tp. Hà Nội (đối với trường hợp cụ thể)…….. 61 2.4.1. Hồ sơ thân chủ………………………………………………………………………… 61 2.4.2. Vài nét về hoàn cảnh thân chủ và gia đình…………………………………… 62 2.4.3. Giai đoạn 1: Tiếp cận thân chủ ………………………………………………….. 63

7. 2.4.4. Giai đoạn 2: Thu thập thông tin …………………………………………………. 64 2.4.5. Giai đoạn 3: Đánh giá và xác định vấn đề……………………………………. 65 2.4.6. Giai đoạn 4: Lập kế hoạch can thiệp/hỗ trợ………………………………….. 73 2.4.7. .Giai đoạn 5: Triển khai kế hoạch và thực hiện kế hoạch……………….. 77 2.4.8. Giai đoạn 6: Lượng giá…………………………………………………………….. 77 2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ người cao tuổi……………………………………………………… 79 Tiểu kết chương 2…………………………………………………………………………… 82 CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG VIỆC HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI TẠI CỘNG ĐỒNG……………………………………………………………….. 83 3.1. Với cộng đồng xã hội ……………………………………………………………….. 83 3.2. Với Đảng và Nhà nước …………………………………………………………….. 83 3.3. Đối với gia đình……………………………………………………………………….. 85 3.4. Bản thân người cao tuổi và gia đình………………………………….86 3.5. Đối với nhân viên CTXH………………………………………………………….. 87 Tiểu kết chương 3…………………………………………………………………………… 90 KẾT LUẬN……………………………………………………………………………………. 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………… 93 PHỤ LỤC………………………………………………………………………………………. 96

8. DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Sơ đồ 1 cây vấn đề …………………………………………………………………………… 68 Sơ đồ 2: sơ đồ phả hệ ……………………………………………………………………….. 70 Sơ đồ 3:Biểu đồ sinh thái ………………………………………………………………….. 71 Biểu đồ 1.1: Thuyết nhu cầu của Maslow…………………………………………….. 24 Biểu đồ 2.1: Tình trạng hôn nhân của người cao tuổi xã Minh Quang………. 45 Biểu đồ 2.2:: Mô hình sinh sống NCT xã Minh Quang…………………………… 45 Biểu đồ 2.3 : Nguồn thu nhập chính của người cao tuổi xã Minh Quang…… 46 Biểu đồ 2.4:Tình trạng sức khỏe của NCT xã Minh Quang …………………….. 48 Biểu đồ 2.5: Mức độ quan tâm của người thân đối với người cao tuổi………. 49 Biểu đồ 2.6.Mức độ hài lòng của người cao tuổi về sự quan tâm đến sức khỏe của các thành viên trong gia đình. ………………………………………………………. 50 Biểu đồ 2.7. Thời gian người cao tuổi dành thăm hỏi họ hàng/bạn bè/hàng xóm và ngược lại……………………………………………………………………………… 52 Biểu đồ 2.8: Mô hình can thiệp của nhân viên xã hội……………………….76

9. I DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Giới tính của người cao tuổi tại xã Minh Quang……………………… 44 Bảng 2.2. Mong muốn, nhu cầu của người cao tuổi……………………………….. 55 Bảng 2.3. Bảng phân tích điểm mạnh điểu yếu của thân chủ …………………… 72 Bảng 2.4. bảng xây dựng kế hoạch cho thân chủ …………………………………… 75

10. II DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CTXH Công tác xã hội NCT Người cao tuổi NVCTXH Nhân viên công tác xã hội TC Thân chủ

11. 1 LỜI MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Cùng với sự phát triển của xã hội và bùng nổ như mạnh mẽ của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và phúc lợi xã hội, tuổi thọ của con người cũng theo đó dần được tăng lên, cuộc sống dần được cải thiện. Quy luật sinh – lão – bệnh – tử của kiếp nhân sinh là điều khó tránh khỏi, ai rồi cũng sẽ già, ai rồi cũng sẽ đến lúc mắt mờ, chân run. Nhưng làm thế nào để khi gần đến “cái dốc bên kia của cuộc đời” con người ta vẫn góp được chút gì đó có ích, có ý nghĩa cho cuộc đời. Có thể nói, tuổi già đang là một thách thức lớn của nhân loại vì vậy cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người có tuổi là yêu cầu rất chính đáng của xã hội đây không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân hay một tổ chức mà là một vấn đề mang tính toàn cầu. Như chúng ta đều biết, già hóa dân số đang là một trong những quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Già hóa dân số là thành quả của khoa học y tế, của phát triển kinh tế, phúc lợi xã hội nhưng già hóa cũng sẽ tác động đến phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và hệ thống phúc lợi xã hội đối với người cao tuổi. Người cao tuổi, họ là lớp người có quá trình cống hiến lâu dài cho gia đình, xã hội và đất nước và được coi là thế hệ duy trì tính liên tục phát triển của nhân loại, là lớp người nhiều tri thức, kinh nghiệm để truyền lại cho thế hệ tiếp theo. Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn quan tâm, chăm sóc, phát huy vai trò NCT thông qua việc đã ban hành nhiều văn bản, chính sách như: Luật Người cao tuổi, Chương trình hành động về Người cao tuổi… Cùng với các chính sách, nhiều mô hình chăm sóc NCT được triển khai trên cả nước, với sự tham gia của hàng triệu NCT. Xã Minh Quang là một trong 7 xã miền núi nằm ở sườn Tây núi Ba vì, cách trung tâm huyện Ba Vì 30 km, có 2628 hộ dân với dân số 12686 người,

12. 2 tuy là xã miền núi nhưng lại có NCT sinh sống khá đông với 2000 người (15,8%) dân số… (Báo cáo chung về tình hình kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội năm 2016) Cũng như NCT khác trên cả nước, NCT xã Minh Quang cũng cần được hỗ trợ quan tâm,chăm sóc của gia đình và cộng đồng. Từ một khía cạnh nào đó NCT đang gặp vấn đề cũng được coi là đối tượng yếu thế và cần sự quan tâm đặc biệt của xã hội.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “trách nhiệm của các vị phụ lão của chúng ta đối với nhiệm vụ đất nước thật là trọng đại. Đất nước hưng thịnh do phụ lão xây dựng, đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức. Nước bị mất phụ lão cứu Nước suy sụp lão phù trì Nước nhà hưng, suy tồn, vong, phụ lão đều gánh trách nhiệm rất nặng nề…” NCT có phát triển khỏe mạnh thì nền an sinh mới phát triển được. Công tác xã hội ở Việt Nam đã được công nhận là một ngành khoa học, là một nghề có đặc thù trợ giúp những đối tượng yếu thế trong xã hội, trong đó có NCT. Nhân viên xã hội cần tìm hiểu về các chính sách của Đảng, Nhà nước với đối tượng này, tham khảo học tập những mô hình trợ giúp trên thế giới và đặc biệt cần tìm hiểu sâu về đặc điểm và nhu cầu của chính đối tượng NCT để trợ giúp một các tích cực nhất, chính sách của NCT phải gắn với thực tế và phải được tuyên truyền rộng rãi. Việc chăm sóc NCT trên địa bàn còn nhiều bất cập cụ thể là NCT không được quan tâm chăm sóc chu đáo, sự xung đột giữa NCT với con cháu… trên địa bàn xã Minh Quang chưa tiến hành thực hiện một ca cá nhân nào và chưa nghiên cứu về công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi. Từ thực tế trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ người cao tuổi tại xã Minh Quang, huyện Ba Vì, TP Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình với mong muốn vận dụng kiến thức đã học để áp dụng vào thực tiễn góp phần hỗ trợ người cao tuổi xã Minh Quang, đó là tiến trình giúp đỡ của một nhân viên công tác xã hội giúp đỡ thân chủ của mình thay đổi suy nghĩ, hành động tích cực. Đồng thời, tôi cũng

15. 5 Trước hết cần kể đến nghiên cứu “Công tác xã hội với người cao tuổi bị bạo lực gia đình” – Nghiên cứu tại xã An Tường, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội, của tác giả Phùng Thanh Thảo (2014). Kết quả nghiên cứu cho thấy bạo lực gia đình với NCT xảy ra ở khắp mọi nơi, không kể địa vị gia đình, trình độ dân trí.Đó là thực trạng về bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần và bạo lực kinh tế. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình, tuy nhiên có 4 yếu tố chủ yếu là: rượu, bia và các chất kích thích; yếu tố kinh tế; yếu tố nhận thức; yếu tố giới tính. Nghiên cứu cũng chỉ ra một số biện pháp đã áp dụng tại địa phương nhằm giảm thiểu tình trạng bạo lực NCT trong gia đình, đồng thời đề xuất một số biện pháp can thiệp. Và xây dựng mô hình CTXH nhằm hỗ trợ cũng như nâng cao công tác phòng chống bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình với NCT nói riêng. Nghiên cứu “Chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn Việt Nam hiện nay và hoạt động của công tác xã hội” – Nghiên cứu tại xã Quỳnh Bá – Quỳnh Lưu – Nghệ An, Luận văn Thạc sĩ công tác xã hội, của tác giả Trương Thị Điểm (2014). Nghiên cứu cho thấy rằng tỉ lệ NCT tại địa bàn nghiên cứu đang có xu hướng gia tăng và tỉ lệ NCT là nữ giới nhiều hơn nam giới. Người cao tuổi ở những độ tuổi khác nhau họ vẫn tham gia lao động tạo thu nhập, hỗ trợ con cháu về vật chất và công việc nhà. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy gia đình không còn giữ vai trò chính trong việc chăm sóc NCT mà dần được chuyển sang Nhà nước, các tổ chức xã hội, dịch vụ y tế tư nhân, dịch vụ thị trường. Đồng thời đề tài cũng đã nêu lên những triển vọng và hoạt động của CTXH trong việc chăm sóc sức khỏe cho NCT, giúp nâng cao nhận thức của toàn xã hội đối với việc chăm sóc sức khỏe cho NCT và đảm bảo quyền lợi cho NCT.

17. 7 những nghiên cứu về NCT trong suốt thời gian dài. Từ kết quả của những nghiên cứu đó tác giả bài viết cũng có những đề xuất, khuyến nghị nhằm nâng cao hơn nữa về việc chăm sóc cho NCT ở nước ta. Nghiên cứu “Thực trạng người cao tuổi Hà Tây” năm 2003 của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Hà Tây. Nghiên cứu này được triển khai tại 3 xã, phường: Xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai đại diện cho khu vực nông nghiệp; xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên đại diện cho khu vực làng nghề; phường Nguyễn Trãi, thị xã Hà Đông đại diện cho khu vực thành thị. Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra được vai trò của NCT trong các hoạt động sống hằng ngày, nhu cầu của họ cả về vật chất lẫn tinh thần, sức khỏe… và từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho NCT . Những nghiên cứu thực trạng này cung cấp cho chúng ta cái nhìn tổng quan về đời sống của NCT tại những địa phương khác nhau.Trong các nghiên cứu này các giả đã tiến hành tìm hiểu về cả đời sống vật chất cũng như tinh thần của NCT và tìm hiểu được vai trò của NCT đối với gia đình và cộng đồng mình.Từ thực trạng đó, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đời sống của NCT vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Trong đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng” của Đặng Vũ Cảnh Linh (2009) đã đưa ra một số vấn đề về NCT: Thứ nhất, điều kiện sống ngày một tăng góp phần tích cực vào việc nâng cao sức khỏe của NCT. Thứ hai, công tác chăm sóc sức khỏe NCT đã được quan tâm. Thứ ba, công tác tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NCT tại cộng đồng còn ít, tại nhiều địa bàn khảo sát tình trạng NCT hoạt động đơn lẻ, tự phát phổ biến. Thứ tư, điều kiện sống của NCT đang dần được cải thiện cùng với cuộc sống của toàn xã hội. Một số mô hình chăm sóc NCT hiện nay bước đầu đã giải quyết được những vấn đề của xã hội. Các mô hình này ít nhiều đã giúp

18. 8 NCT có được cuộc sống thanh thản và nhận được sự quan tâm chăm sóc chu đáo. Hiện tại, ở nước ta có nhiều mô hình trợ giúp NCT khác nhau, có những mô hình trong các trung tâm trợ giúp, các cơ sở chăm sóc nuôi dưỡng cũng có những mô hình tại cộng đồng. Những nghiên cứu trên đã bàn về một vài mô hình, và đánh giá các hoạt động triển khai tại các mô hình này. Từ các nghiên cứu chúng ta có thể thấy rằng, những mô hình này đã góp phần quan trọng vào việc cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống NCT tại các trung tâm cơ sở nuôi dưỡng tập trung cũng như tại cộng đồng. Một công trình nghiên cứu về NCT không thể bỏ qua là Báo cáo “Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách” (Tháng7/2011) được Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) khởi xướng trong khuôn khổ chương trình Kế hoạch Một Liên hợp quốc. Báo cáo đã trình bày về một số đặc điểm của già hóa dân số và NCT ở Việt Nam với những phân tích cụ thể về xu hướng và mức độ già hóa dân số ở Việt Nam trong thời gian tới cùng với thực trạng về cuộc sống gia đình, sức khỏe, hoạt động kinh tế… Bên cạnh đó báo cáo cũng phân tích về hệ thống hưu trí, trợ cấp và chăm sóc sức khỏe cho NCT ở Việt Nam trong thời gian gần đây cũng như các chiến lược quốc gia trong thời gian tới nhằm giải quyết những vấn đề của già hóa dân số. Từ đó báo cáo đưa ra khuyến nghị chính sách người NCT Việt Nam khỏe mạnh, tích cực trong các hoạt động xã hội và năng động trong các hoạt động chân tay và trí óc. Qua những nghiên cứu kể trên, tác giả nhận thấy đã có nhiều tác giả và công trình nghiên cứu về NCT như: Thực trạng đời sống, những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, những vấn đề về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cũng như các mô hình chăm sóc dành cho NCT nước ta. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào chuyên sâu nghiên cứu về công tác xã hội cá nhân về NCT tại

19. 9 cộng đồng. Do đó, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: Công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ người cao tuổi tại xã Minh Quang, huyện Ba Vì, TP Hà Nội. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1.Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu lý luận về người cao tuổi Phân tích đánh giá thực trạng của NCT; nhu cầu cần được hỗ trợngười cao tuổi tại xã Minh Quang Vận dụng công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ đối với người cao tuổi tại cộng đồng Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp đảm bảo thực hiện công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi. 3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi Điều tra xã hội học về thực trạng người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu Thực hiện tiến trình công tác xã hội cá nhân tại cộng đồng Đề xuất một số giải pháp bảo đảm thực hiện công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi tại cộng đồng. 4. Đối tượng và và khách thể nghiên cứu 4.1.Đối tượng nghiên cứu Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ người cao tuổi tại xã Minh Quang huyện Ba Vì Tp.Hà Nội 4.2.Khách thể nghiên cứu Khách thể nghiên cứu là người cao tuổi tại xã Minh Quang. Ngoài ra khách thể nghiên cứu mở rộng là con của các ông, bà trong đối tượng nghiên cứu là NCT, cán bộ công tác xã hội, lãnh đạo địa phương…

21. 11 nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ của người ấy. Phỏng vấn sâu (PVS) là phương pháp được sử dụng để có được những thông tin cần thiết từ phía thân chủ. Thông qua cách hỏi và trả lời trực tiếp giữa nhân viên CTXH với thân chủ, người làm công tác xã hội và những người cao tuổi đang sống tại cộng đồng (Ngoài phỏng vấn sâu thân chủ ra tác giả còn PVS gia đình TC, 2 NCT và 1 cán bộ xã để bài nghiên cứu có được những thông tin cần thiết và phục vụ cho việc nghiên cứu)

22. 12 Cơ cấu phỏng vấn sâu Thứ tự Người phỏng vấn sâu Nội dung phỏng vấn 1 Thân chủ: Hoàn cảnh gia đình. Bạn bè thường chơi với thân chủ Vấn đề thân chủ đang gặp phải 2 Người thân trong gia đình Mức độ tình cảm và sự quan tâm của người thân trong gia đình đối với thân chủ. Nhu cầu và nguyện vọng của thân chủ. Sự quan tâm của gia đình đối với thân chủ . Gia đình đang gặp khó khăn gì. Mong muốn của gia đình. 3 Người cao tuổi Tìm hiểu về thực trạng người cao tuổi trên địa bàn xã Minh Quang, cuộc sống hiện tại của NCT; những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi già (đời sống, sức khỏe, tinh thần, quan hệ trong gia đình, thay đổi cấu trúc gia đình…); NCT quan tâm đến những vấn đề gì; NCT nhận được những hỗ trợ gì và từ đâu; hệ thống chính sách ASXH hiện nay đáp ứng như thế nào tới nhu cầu của NCT; và các đề xuất của NCT để có một cuộc sống tốt hơn 4 Cán bộ địa phương Những khó khăn trong việc chăm sóc NCT tại cộng đồng. Phương pháp quản lý và tư vấn nào được xem là hiệu qủa nhất đối với NCT bị khủng hoảng tâm lý. Các tổ chức nào thường giao lưu với NCT tại cộng đồng. Sự quan tâm đối với NCT bị khủng hoảng tâm lý tại cộng đồng. 5 Nhân viên y tế Để biết tình hình chăm sóc sức khỏe hiện nay đối với NCT như thế nào? Các bệnh mà NCT thường gặp phải là gì?

23. 13 Mục đích của phương pháp này là tìm hiểu rõ hơn về vấn đề đối tượng cần can thiệp. Trong quá trình phỏng vấn, nhân viên CTXH sử dụng những kỹ năng chuyên sâu như: Kỹ năng quan sát, kỹ năng thấu hiểu, kỹ năng khuyến khích đối với thân chủ và đối tượng được phỏng vấn để từ đó có thể hiểu sâu sắc hơn những biểu hiện về tâm lý, cảm xúc, tình cảm ẩn chứa trong những lời nói và câu chuyện của đối tượng. Nhân viên CTXH phỏng vấn thân chủ là chủ yếu.Thời gian cho mỗi lần phỏng vấn khoảng từ 45- 60 phút. Nội dung phỏng vấn được chuẩn bị trước thành những mảng câu hỏi, những vấn đề mà nhân viên CTXH quan tâm và hướng tới. Trình tự của buổi phỏng vấn không bị cố định theo trình tự đã được chuẩn bị. Nội dung chính của buổi phỏng vấn xoay quanh những vấn đề như: Thông tin về hoàn cảnh thân chủ và gia đình, những vấn đề khó khăn đang gặp phải. 6.4. Phương pháp quan sát Quan sát là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu công tác xã hội thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn,… để thu nhận các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài, được thực hiện trong nhiều giai đoạn như từ giai đoạn khảo sát địa bàn nghiên cứu, gia đoạn tiến hành can thiệp với thân chủ và những hoạt động khác đến giai đoạn kết thúc quá trình can thiệp. Mục đích của quan sát là nhằm thu thập và kiểm chứng các thông tin cơ bản về hoàn cảnh gia đình, thái độ hành vi của người cao tuổi, mối quan hệ của người cao tuổi với người thân trong gia đình và mọi người xung quanh. Không chỉ quan sát những gì người cao tuổi nói mà NVXH còn phải quan sát các yếu tố xung quanh như gia đình, bạn bè, cộng đồng… bởi vì những yếu tố này có tác động rất lớn đến sự thay đổi của người cao tuổi. Từ

26. 16 CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI 1.1. Khái niệm cơ bản 1.1.1. Khái niệm công tác xã hội Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996: 5). CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống (Zastrow, 1999:..).( https://congtacxahoi.net/cong-tac- xa-hoi-la-gi/) Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội. CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.( https://congtacxahoi.net/cong-tac-xa-hoi-la- gi/) Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai ( Giáo trình nhập môn công tác xã hội, 2012) Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

27. 17 1.1.2. Khái niệm người cao tuổi Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi. Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay “người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, “người cao tuổi” là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng. Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể. Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quy định: Người cao tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”. Theo WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên. Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ… lại quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên. Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau. Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao. Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn. Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau. Theo quan điểm của Công tác xã hội: Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, công tác xã hội nhìn nhận về người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống. Do đó, người cao tuổi là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của công tác xã hội.[tr8.Đề án 32_ Công tác xã hội với người cao tuổi]

28. 18 1.1.3. Khái niệm nhân viên công tác xã hội Theo tác giả nghiên cứu: Nhân viên công tác xã hội là người có kiến thức chuyên môn, kỹ năng làm việc với các đối tượng xã hội; là chiếc cầu nối hỗ trợ giữa thân chủ với cộng đồng xã hội trong việc cung ứng các dịch vụ xã hội giúp cho đối tượng vươn lên hòa nhập theo hướng tích cực. Khi thực hiện vai trò hỗ trợ các đối tượng, nhân viên công tác xã hội có rất nhiều vai trò khác nhau, tùy từng hoàn cảnh, đặc điểm của đối tượng mà nhân viên công tác xã hội xác định vai trò nào là trọng tâm. Nhân viên công tác xã hội chính là chiếc cầu nối, đại diện cho đối tượng nói lên nhu cầu, nguyện vọng của mình, nhân viên công tác xã hội vừa kết nối đối tượng đến với các dịch vụ xã hội, vừa giúp họ được tiếp cận và hưởng dịch vụ xã hội trên cơ sở tiếp cận bình đẳng trên cơ sở đó vậng động, thuyết phục, truyền thông trong cộng đồng tạo cơ hội cho các đối tượng trong xã hội có cơ hội hòa nhập, tiếp cận dịch vụ, vươn lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực. 1.1.4. Khái niệm hỗ trợ Theo từ điển tiếng Việt thì hỗ trợ là: Giúp đỡ nhau, giúp thêm vào: hỗ trợ bạn bè, hỗ trợ cho đồng đội kịp thời. Hỗ trợ về khía cạnh xã hội là sự tương trợ giữa người với người, những người biết hỗ trợ cho những người chưa biết. Kẻ mạnh có thể hỗ trợ cho những kẻ yếu thế để tạo ra mối quan hệ tốt đẹp cùng phát triển, tiến tới xã hội văn minh hơn Hỗ trợ về khía cạnh kinh tế là người có tiền sẽ hỗ trợ cho người không có tiền, người có tiềm lực kinh tế hỗ trợ cho người có trí tuệ để cùng nhau phát triển phục vụ mục tiêu chung Do vậy theo tác giả nghiên cứu có thể hiểu hỗ trợ một cách ngắn gọn là hỗ trợ là giúp đỡ nhau cùng phát triển vì một mục tiêu chung của hai bên hoặc toàn xã hội.

32. 22 chức khi lưu ý tới tính hiệu quả của dịch vụ để đảm bảo tiết kiệm tối đa chi phí nhưng phải đảm bảo chất lượng dịch vụ. Đảm bảo công bằng: đảm bảo công bằng được thể hiện trong công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi là mỗi người cao tuổi đều có quyền như nhau, được tiếp cận dịch vụ như nhau và nhân viên CTXH phải có thái độ khách quan và công bằng khi xây dựng kế hoạch và triển khai kế hoạch trợ giúp. Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp: nhân viên công tác xã hội cần có phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp, những hành vi thể hiện mối quan hệ nghề nghiệp như: tôn trọng quan điểm giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp, không lợi dụng cương vị công tác của mình để đòi hỏi sự hàm ơn của khách hàng. Mối quan hệ giữa nhân viên CTXH với người cao tuổi cần đảm bảo tính thân thiện, tương tác hai chiều, song khách quan và đảm bảo yêu cầu chuyên môn.Nguyên tắc này giúp cho nhân viên CTXH đảm bảo tính khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đảm bảo sự công bằng trong hỗ trợ. Trao quyền cho đối tượng: trao quyền trong CTXH cá nhân đối với người cao tuổi là việc tôn trọng sự khác biệt của mỗi người dành quyền tự quyết cho người cao tuổi. Xây dựng kế hoạch dựa trên tiềm năng và lợi ích của mỗi người cao tuổi, tạo cơ hội tham gia và tăng khả năng tự đáp ứng của người cao tuổi. Để làm tốt nguyên tắc này, nhân viên CTXH cần đảm bảo sự tham gia của họ trong cả tiến trình từ thu thập thông tin, đánh giá xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện kế hoạch cũng như đánh giá dịch vụ. Ngoài ra nhân viên CTXH cần trang bị cho người cao tuổi các kỹ năng phát triển, đặc biệt là khuyến khích họ trong việc tham gia tìm kiếm và huy động các nguồn lực của mình vào giải quyết vấn đề khó khăn của chính mình.

33. 23 1.3. Lý thuyết ứng dụng trong can thiệp 1.3.1. Lý thuyết hệ thống sinh thái Thuyết hệ thống ra đời từ năm 1940, do nhà sinh vật học Ludwig Von BertaLffy phát hiện. Để phản đối chủ nghĩa đơn giản hóa và việc cô lập của các đối tượng khoa học, ông đưa ra quan điểm rằng tất cả các cơ quan đều là các hệ thống, bao gồm những hệ thống nhỏ hơn, và là phần tử của các hệ thống lớn hơn. Từ một quan điểm trong ngành sinh học, ý tưởng về hệ thống đã có nhiều ảnh hưởng tới các ngành khoa học khác, kể cả công tác xã hội.[tr78.Giáo trình công tác xã hội cá nhân và gia đình] Thuyết hệ thống cung cấp cho nhân viên công tác xã hội một phương tiện để tổ chức tư duy vấn đề, đặc biệt là khi vấn đề có sự tương quan phức tạp giữa các thông tin và khi khối lượng thông tin lớn. [tr80. Giáo trình công tác xã hội cá nhân và gia đình]. Thuyết hệ thống sử dụng trong công tác xã hội chú ý tới nhiều các quan hệ giữa những phần tử nằm trong hệ thống hơn là chú ý tới trong phần tử là mỗi cá nhân với các thuộc tính của phần tử (cá nhân) đó. Thuyết hệ thống được sử dụng trong công tác xã hội như một công cụ trợ giúp nhân viên xã hội sắp xếp, tổ chức những lượng thông tin lớn thu thập được, để xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề và cách can thiệp. Thuyết hệ thống là một bộ phận không thể tách rời của quan điểm sinh thái. Hành vi của con người không phải bộc lộ tự phát một cách độc lập, mà nằm trong mối quan hệ qua lại với những hệ thống khác trong xã hội.[tr81] Cá nhân được coi là một thống vi mô, cá nhân không nằm đơn lẻ mà luôn chịu sự tác động của các hệ thống gia đình, hệ thống xã hội. Các hệ thống luôn có sự tác động qua lại với nhau. Vận dụng lý thuyết hệ thống trong việc nghiên cứu đề tài nhằm nhìn nhận sự tác động qua lại của công tác chăm sóc người cao tuổi như thế nào ở

34. 24 các hệ thống dịch vụ xã hội. Cụ thể, có những tiếp cận như thế nào về hệ thống các chính sách xã hội. Sống trong một cộng đồng nhưng không phải cá nhân nào cũng có cơ hội tiếp cận các chính sách và dịch vụ như nhau. Qua đó, tìm hiểu nguyên để có những giải pháp nhằm giúp họ có cơ hội tiếp cận các chính sách và dịch vụ một cách nhanh nhất. 1.3.2. Lý thuyết nhu cầu Mỗi con người sinh ra trong xã hội ai cũng có những nhu cầu cho cuộc sống sinh tồn của mình, đó là nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Các nhu cầu đó rất đa dạng, phong phú và phát triển. Nhu cầu của con người phản ánh những mong muốn chủ quan hoặc khách quan tùy theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa, nhận thức và vị trí xã hội của họ. Để tồn tại và phát triển trong xã hội, con người cần phải đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như: ăn, mặc, ở và chăm sóc y tế… rồi đến các nhu cầu cao hơn như: nhu cầu được an toàn, được học hành, được yêu thương, được tôn trọng và phát triển. Khi con người được đáp ứng các nhu cầu cơ bản thì họ mới có động lực và đó cũng chính là điều kiện để được đáp ứng các nhu cầu cao hơn. Theo thuyết động cơ của Maslow, con người là một thực thể sinh – tâm lý xã hội. Dó đó, con người có nhu cầu cá nhân cần cho sự sống (nhu cầu về sinh học) và nhu cầu về xã hội. Ông chia nhu cầu con người thành 5 bậc thang từ thấp đến cao: Nhu cầu sinh học bao gồm các nhu cầu cơ bản về không khí, nước, thức ăn, quần áo, nhà ở, nghỉ ngơi…đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người. Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn.( http://congtacxahoi.net/thuyet- nhucau-cua-maslow-va-van-dung- thuyet-nhu-cau-trong-tham-van/) Biểu đồ 1.1: Thuyết nhu cầu của Maslow

35. 25 – Nhu cầu an toàn: Ai cũng có mong muốn được sống trong một thế giới hòa bình, không có chiến tranh, không có bạo lực, kể cả trong những trường hợp bị mất kế sinh nhai được Nhà nước và xã hội bảo vệ và giúp đỡ. Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ,…. Nhu cầu xã hội: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc vào một nhóm nào đó. Là con người xã hội, con người có các nhu cầu giao tiếp, nhu cầu sự yêu thương, chia sẻ. Họ không muốn có sự cô đơn, bị bỏ ra ngoài lề xã hội, họ mong muốn có hạnh phúc gia đình, sự tham gia và thuộc một nhóm nào đó (gia đình, bạn bè, cộng đồng). Nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh. Nhu cầu được tôn trọng: Tự trọng là giá trị của chính cá nhân mỗi người; được người khác tôn trọng là sự mong muốn được người khác thừa nhận giá trị của mình. Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho con người có suy nghĩ tích cực hơn, cảm thấy tự tin hơn. Nhu cầu được thể hiện mình: Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn tự khẳng định mình và được xã hội tạo điều kiện để hoàn thiện và phát huy hết khả năng, tiềm năng cá nhân để đạt được các thành quả trong xã hội. Tuy nhiên, không phải trong xã hội, ai cũng luôn được đáp ứng các nhu cầu đó một cách đầy đủ, vẫn tồn tại những con người thiếu thốn các nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu của các nhân và gia đình. Có những người có nguy cơ bị đe dọa đến cuộc sống thường ngày, những người này rất cần được sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội. Dựa vào thuyết nhu cầu để nhận định những nhu cầu nói chung của con người. Tuy nhiên, phải tùy vào hoàn cảnh của từng cá nhân và gia đình cụ thể để xem xét họ đang thiếu và cần những nhu cầu gì. Vì họ là những cá thể khác

36. 26 nhau nên họ có những nhu cầu khác nhau. Vì thế khi tiếp cận theo những nhu cầu sẽ giúp nhân viên xã hội hiểu rõ từng hoàn cảnh sống của từng cá nhân khác nhau và sẽ hiểu rõ hơn những nhu cầu mà cá nhân họ đang cần để khi hỗ trợ và cung cấp các dịch không theo hướng chủ quan. Tiếp cận theo nhu cầu giúp nhân viên xã hội thấu hiểu được tâm tư nguyện vọng của đối tượng, biết họ đang cần và thiếu cái gì và biết lắng nghe để cảm thông với những mong muốn của đối tượng. Vì thế, khi hiểu rõ những nhu cầu mà đối tượng đang cần thì nhân viên xã hội cố gắng để động viên khích lệ họ tham gia vào thực hiện các hoạt động và cùng với sự hỗ trợ từ các nguồn lực nhằm đạt được nhu cầu mà họ đang mong muốn. Trong xã hội, thường có những cá nhân thiếu các nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu cơ bản nên họ không có khả năng đảm bảo được cuộc sống của mình, có thể bị đe dọa đến sự an toàn của cuộc sống. Vì thế họ rất cần đến sự trợ giúp của xã hội. Khi các nhu cầu cơ bản của cuộc sống được đáp ứng chính là động cơ để thúc đẩy họ tham gia vào các hoạt động sản xuất và các hoạt động trong xã hội. Từ đó giúp họ tăng năng lực và tự chủ trong cuộc sống hàng ngày. Nghiên cứu sử dụng thuyết nhu cầu nhằm nói lên rằng, mỗi con người trong xã hội ai cũng có những nhu cầu. Nhưng tùy theo hoàn cảnh sống và địa vị của từng con người mà họ có những nhu cầu khác nhau. Từng đối tượng như phụ nữ, trẻ em hay người cao tuổi… họ đều có những cầu khác nhau trong cuộc sống thường ngày của mình. Đối với người cao tuổi là đối tượng được chăm sóc, nhưng cũng có thể là người chăm lo cho gia đình, vừa là người tham gia lao động sản xuất và tham gia các hoạt động xã hội nên trong cuộc sống họ cũng có những nhu cầu chưa đươc đáp ứng và rất cần sự trợ giúp của xã hội.

37. 27 1.3.3. Lý thuyết vị trí – vai trò Thuyết vị trí vai trò trong xã hội nhấn mạnh đến các bộ phận cấu thành của xã hội và cho rằng mỗi cá nhân có một vị trí xã hội nhất định, được thừa nhận trong cơ cấu xã hội, gắn liền với những quyền lợi, nghĩa vụ hay kỳ vọng để định hướng cho những hành vi xã hội của cá nhân đó. Nó được xác định trong sự đối chiếu so sánh với các vị trí xã hội khác. Mỗi xã hội có cơ cấu phức tạp bao gồm các vị trí, vai trò xã hội khác nhau. Lý thuyết về vị trí – vai trò xã hội cho rằng, mỗi cá nhân có một vị trí xã hội là vị trí tương đối trong cơ cấu xã hội, hệ thống quan hệ xã hội. Nó được xác định trong sự đối chiếu so sánh với các vị trí xã hội khác nhau. Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắn với những trách nhiệm và quyền hạn kèm theo. Mỗi cá nhân có vị trí xã hội khác nhau, do đó cũng có nhiều vị thế khác nhau. Những vị thế xã hội của cá nhân có thể là: vị thế đơn lẻ, vị thế tổng quát hoặc có thể chia theo cách khác là: vị thế có sẵn – được gắn cho, vị thế đạt được, một số vị thế vừa mang tính có sẵn, vừa mang tính đạt được. Vai trò của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng. Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội. Những đòi hỏi đó luôn dựa vào các chuẩn mực của xã hội. Tùy thuộc vào đặc thù văn hóa của mỗi vùng, của mỗi dân tộc mà có những chuẩn mực riêng của nó. Vì vậy một vị thế xã hội nhưng tùy vào dặc thù của xã hội đó mà có những vai trò khác nhau. Trong Công tác xã hội, thuyết này được ứng dụng để khi tiếp cận với đối tượng thì nhân viên công tác xã hội phải hiểu rõ từng vị trí mà họ được thừa nhận trong gia đình và ngoài xã hội. Khi con người có tiếng nói riêng của mình, được gia đình và xã hội coi trọng thì họ sẽ thực hiện tốt các vai trò của mình và sẽ đáp ứng được nhiều mong đợi từ người khác. Lý thuyết vị trí – vai trò xã hội được sử dụng trong luận văn này nhằm mục đích nói lên rằng trong công tác xã hội khi hoạt động ở từng lĩnh vực cụ

38. 28 thể thì cũng có những vai trò cụ thể đối với từng lĩnh vực. Trong công tác chăm sóc NCT thì công tác xã hội có vai trò như thế nào để người cao tuổi sống lâu, sống khỏe và sống có ích. Trong quá trình chăm sóc người cao tuổi thì nhân viên công tác xã hội phải hiểu rõ vai trò và vị thế của người cao tuổi trong gia đình và xã hội. Từ việc hiểu rõ vai trò này, thì nhân viên công tác xã hội dễ dàng thực hiện các nội dung chăm sóc người cao tuổi. 1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đối với hoạt động công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi 1.4.1. Năng lực, trình độ của nhân viên xã hội Yếu tố về trình độ chuyên môn của nhân viên xã hội: trong CTXH cá nhân thì trình độ chuyên môn của nhân viên công tác xã hội bao gồm: trình độ học vấn, chuyên ngành đào tạo cung cấp những nền tảng về kiến thức lý thuyết để hiểu về nghề nghiệp, về đối tượng, khả năng phân tích, đánh giá, khả năng thuyết phục, tác động đối tượng… có ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả và chất lượng của hoạt động trợ giúp. Các yếu tố tính cách, sở thích và cảm xúc của nhân viên công tác xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nghiệp vụ của họ, bởi nhân viên công tác xã hội sẽ phải tương tác nhiều với đối tượng của mình bằng các hoạt động tư vấn, tham vấn… vì vậy, nhân viên công tác xã hội dễ bị mang cái thuộc về cá nhân của mình để truyền đạt cho đối tượng của mình nhằm điều chỉnh nhận thức hành vi của đối tượng. Yếu tố gia đình của nhân viên công tác xã hội: mỗi người đều có gia đình, họ coi gia đình là chỗ dựa đồng thời họ cũng có những trách nhiệm cần phải hoàn thành vai trò là người chồng, người vợ, người con trong gia đình. Gia đình có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng công việc trợ giúp của nhân viên công tác xã hội.Đặc biệt là đối với phụ nữ sẽ phải gặp nhiều cản trở vì bản thân họ phải đảm đương nhiều trách nhiệm trong gia đình.

39. 29 1.4.2. Đặc điểm đối tượng can thiệp, hỗ trợ Người cao tuổi, với các đặc điểm tâm lý như khó diễn tả bằng lời những khó khăn, trở ngại , những vấn đề mình đang gặp phải sẽ là một khó khăn không nhỏ đối với nhân viên xã hội khi thực hiện thu thập thông tin cũng như khi tư vấ, tham vấn. Mặt khác, sự hoài nghi, thiếu tin tưởng vào người khác và cũng có những trường hợp người cao tuổi che dấu sự thật thì đó là một rào cản đối với nhân viên công tác xã hội. Như vậy hợp tác, tiến bộ tích cực của người cao tuổi sẽ tạo ra không khí vui vẻ, cảm giác hứng khởicho nhân viên công tác xã hội và ngược lại khi người cao tuổi không hợp tác tạo nên ở nhân viên công tác xã hội cảm giác chán nản, mệt mỏi. 1.4.3. Kinh phí hoạt động Kinh phí hoạt động là một yếu tố mang tính quyết định đối với bất cứ một hoạt động nào. Đối với công tác trợ giúp người cao tuổi thì kinh phí được sử dụng trong các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng của các trung tâm, cơ sở bảo trợ và công tác xã hội, kinh phí cho nhân viên thực hiện thực hiện các hoạt động can thiệp hỗ trợ, tư vấn và kết nối lại cộng đồng và một số nhiệm vụ khác. 1.4.4. Cơ chế chính sách và chế độ đãi ngộ đối với nhân viên công tác xã hội Đối với nhân viên công tác xã hội những khó khăn mà họ gặp phải là môi trường làm việc không ổn định, tiếp xúc với các đối tượng gặp phải các vấn đề cần trợ giúp, dễ ảnh hưởng đến tâm lý.Trình độ chuyên môn về ngành công tác xã hội vẫn còn chưa đáp ứng được nhu cầu và nhiệm vụ đặt ra. 1.5. Luật pháp chính sách đối với người cao tuổi 1.5.1. Những chủ trương của Đảng Sau khi Hội Người cao tuổi Việt Nam được thành lập (10.5/1995), Ban Bí thư TW đã ban hành chỉ thị 59/CT-TW ” Về chăm sóc người cao tuổi” quy định ” Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là

40. 30 trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Hội người cao tuổi Việt Nam mới được thành lập, cần được nhanh chóng ổn định về tổ chức và mở rộng hoạt động ở cơ sở. Đảng, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cần giúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối hợp với hội trong việc vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy người cao tuổi phục vụ công cuộc đổi mới. Quốc Hội, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Chính phủ, Bộ Lao động thương binh và xã hội, Bộ y tế, Bộ tư pháp phối hợp với hội nghiên cứu, xem xét các chính sách luật pháp hiện hành, đề xuất những văn bản pháp quy của Nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc và phát huy người cao tuổi. “Nhà nước cần dành ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề chăm sóc người cao tuổi. Trước hết cần quan tâm chăm sóc những người cao tuổi có công, cô đơn không nơi nương tựa, tàn tật và bất hạnh, nhanh chóng xóa bỏ tình trạng người già lang thang trên đường phố, ngõ xóm. Đề nghị chính phủ hỗ trợ hội người cao tuổi Việt Nam về kinh phí và điều kiện hoạt động” Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng nêu: ” Đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu, những người cao tuổi thực hiện chính dách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khỏe, nâng cao đời sống tinh thần vật chất trong điều kiện mới; đáp ứng nhu cầu thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xã hội, nêu gương tốt giáo dục lý tưởng và truyền thống cách mạng cho thanh niên, thiếu niên…” Thông báo số 12-TB/TW ngày 13/6/2001 đã khẳng định hội người cao tuổi Việt Nam là tổ chức xã hội của người cao tuổi, có các nhiệm vụ đã được quy định cụ thể tại pháp lệnh Người cao tuổi; Hội có ban đại diện ở cấp tỉnh và cấp huyện. cấp tỉnh có từ 2 đến 3, cấp huyện có từ 1 đến 2 cán bộ chuyên trách đồng thời khẳng định: ” Nhà nước tiếp tục trợ cấp kinh phí hoạt động

42. 32 Quan điểm của bác Hồ được thể hiện trong Hiến pháp năm 1946, Điều 14 quy định ” Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ”. Điều 32 của hiến pháp 1959 ghi rõ ” Giúp đỡ người già, người đau yếu và tàn tật, mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khỏe và cứu trợ xã hội…”. Điều 64 của hiến pháp 1992 quy định “…Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái, con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà cha mẹ …” và điều 87 Hiến pháp có ghi rõ ” Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”. Luật hôn nhân và gia đình khoàn 2 điều 36 quy định: ” con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật … và khoản 2 điều 47 Luật này quy định: ” cháu có bổn phận chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ngoại”. Luật bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân đã dành một chương riêng: Bảo vệ sức khỏe người cao tuổi … trong đó, khoản 1 điều 41 của luật này quy định: ” người cao tuổi được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khỏe của mình”. Luật lao động quy định tại điều 124: ” người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khỏe người lao động cao tuổi, không được sử dụng người lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm ảnh hưởng sức khỏe”. Điều 151 của Bộ luât hình sự quy định: ” Tội ngược đãi hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu người có công nuôi dưỡng mình” và điều 152 quy định ” tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng”. Bên cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi ” người phạm tội là người già”. 1.5.2.2.Chính sách của Nhà nước Việt Nam về người cao tuổi Năm 1996, Thủ tướng chính phủ ban hành chỉ thị 117/CP về chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội người cao tuổi Việt Nam chỉ thị

43. 33 khẳng định rằng kính lão đắc thị là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng và Nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất tunh thần của người cao tuổi là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm của toàn dân. Các cấp chính quyền đã đề ra nhiều chính sách thể hiện sự quan tâm đó. Để phát huy truyền thống của dân tộc, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và hỗ trợ hoạt động của hội người cao tuổi, thủ tướng đã chỉ thị: Về chăm sóc người cao tuổi Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo các cơ quan chức năng, đơn vị thuộc quyền thường xuyên quan tâm làm tốt công tác chăm sóc người cao tuổi. Công tác này cần được thể hiện trong các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ngắn hạn và dài hạn của địa phương. Trong chỉ tiêu xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng cuộc sống mới khu dân cư: chỉ đạo các cơ quan văn hóa, thông tin, giáo dục và đào tạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về ý thức, thái độ và nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ kính trọng người cao tuổi. Các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước trong khi hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và các chương trình quốc gia, cần chú ý bồi dưỡng và phát huy nguồn lực người cao tuổi.Hàng năm cần dành một tỷ lệ thích đáng ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy vai trò người cao tuổi và hỗ trợ hội người cao tuổi. Đối với Hội người cao tuổi Hội có tư cách pháp nhân, hoạt động theo điều lệ phù hợp với Hiến pháp và pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự hỗ trợ của Chính phủ về kinh phí và điều kiện hoạt động. Đối với các Bộ, ngành

45. 35 đồng Bộ Trưởng( nay là chính phủ) ngày 24 tháng 01 năm 1991 về điều lệ khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng; Người cao tuổi từ 100 tuổi trở lên được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế. Căn cứ nghị định số 30, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội ban hành Thông tu số 16/TT năm 2002 ” hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định số 30/CP của Chính phủ”. Nghị định số 120/CP của Chính phủ về việc sửa đổi Điều 9 của nghị định số 30/CP năm 2002. Nghị định số 121/CP của chính phủ năm 2003 ” Về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn” ghi rõ chế độ đối với Chủ tịch Hội người cao tuổi cấp xã. Năm 2004, Bộ y tế đã ban hành thông tư số 02/2004/TT-BYT hướng dẫn thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trong đó quy định: người cao tuổi được chăm sóc sức khỏe, được khám chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật, được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được ưu tiên khám, chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật, được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được ưu tiên khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế; Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm đảm bảo chế độ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại địa phương. Ngành y tế chịu trách nhiệm về chuyên môn, kỹ thuật trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi..Tổ chức mạng lưới tình nguyện viên chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại nhà.Trạm y tế xã, phường, thị trấn có trách nhiệm quản lý sức khỏe và thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi tại địa phương. Trường hợp người cao tuổi bị tàn tật cô đơn không nơi nương tựa bị ốm đau nhưng không đến khám, chữa bệnh tại nơi quy định thì trưởng trạm y tế cấp xã cử cán bộ y tế đên skhasm, chữa bệnh tại nơi ở của ngưởi cao tuổi hoặc báo cáo Ủy ban nhân dân địa phương tổ chức đưa người bệnh đến cơ sở khám chữa bệnh… thực hiện viêc ưu tiên khám trước cho người cao tuổi 9 sau

46. 36 trường hợp cấp cứu), phát triển các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc nhất là ở tuyến y tế cơ sở đối với người bệnh cao tuổi. Người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên được hưởng các chế độ bảo hiểm y tế theo quy định tại thông tư số 24.2003 ngày 6/11/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành nghị định số 120/NĐ-CP ngày 20/10/2003 của chính phủ khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, gia đình của người cao tuổi mua thẻ BHYT cho người cao tuổi. Có thể nói, Thông tư 02/2004 của Bộ y tế đã tiến một bước dài trong việc thể chế hóa chính sách y tế mới cho người cao tuổi khi Luật người cao tuổi được Quốc hội thông qua. Quyết định của Thủ tướng chính pủ số 141, năm 2004 về việc thành lập ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam Quyết định số 47, năm 2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng Quỹ chăm sóc người cao tuổi Nghị định 67/CP, năm 2007 của chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội trong đó có đối tượng là người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, được hưởng 120.000 đồng/ tháng tính đến năm 2017 là được hưởng 350.000đồng/tháng. Bằng thực tiễn hoạt động của người cao tuổi và Hội người cao tuổi Việt Nam đã có những đóng góp cụ thể vào các nội dụng trong các văn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước nêu trên. Các tổ chức Hội vừa triển khai, vừa đúc rút kinh nghiệm, vừa tham mưu đề xuất với cấp ủy, chính quyền, từng bước bổ sung những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách đối với người cao tuổi. Ban chấp hành TW Hội người cao tuổi Việt Nam cùng với tổ chức hội các cấp đã trưc tiếp tham gia bằng nhiều hình thức. Góp ý kiến bằng văn bản vào các báo cáo chính trị Đại hội IX, đại hội X, tham mưu giúp Nhà nước những vấn đề cụ thể về người cao tuổi như: thành lập Ủy ban Quốc gia về

48. 38 1.6. Phương pháp can thiệp Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp can thiệp (của CTXH) quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm. Mục đích của công tác xã hội cá nhân là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hành bình thường của chức năng xã hội của cá nhân và gia đình. Nhân viên xã hội thực hiện điều này bằng cách giúp tiếp cận các tài nguyên cần thiết. Về nội tâm, về quan hệ giữa người và người, và kinh tế xã hội. Phương pháp này tập trung vào các mối liên hệ về tâm lý xã hội, bối cảnh xã hội trong đó vấn đề của cá nhân và gia đình diễn ra và bị tác động. Tiến trình công tác xã hội cá nhân: Công tác xã hội cá nhân là phương pháp giúp đỡ cá nhân có vấn đề về chức năng tâm lý xã hội. Nó đi sâu vào tiến trình giải quyết vấn đề gồm 6 bước. Đó là tiếp nhận đối tượng; thu thập thông tin; đánh giá và xác định vấn đề; lập kế hoạch cạn thiệp, hỗ trợ; thực hiện kế hoạch; lượng giá. Đây là những bước chuyển tiếp theo thứ tự logic, nhưng trong quá trình giúp đỡ, có những bước kéo dài suốt quá trình như thu thập thông tin, can thiệp và lượng giá. Các bước này được kết hợp nhau thành 3 giai đoạn. Giai đoạn nghiên cứu gồm xác định vấn đề và thu thập thông tin; giai đoạn 2 gồm: chẩn đoán và lên kế hoạch trợ giúp; cuối cùng giai đoạn 3 gồm: thực hiện kế hoạch, lượng giá, tiếp tục hay chấm dứt. Xác định vấn đề: Công tác xã hội cá nhân bắt đầu với việc xác định vấn đề do thân chủ trình bày. Đó là vấn đề đã gây ra cho TC nhiều khó khăn và sự mất cân bằng trong chức năng tâm lý xã hội. Bước này diễn ra ở giai đoạn “đăng ký”, nghĩa là khi thân chủ tự mình hay được giúp đỡ để chính thức yêu cầu một sự giúp đỡ của cơ quan. Thu thập thông tin: Trước tiên nhân viên xã hội tìm hiểu hoàn cảnh của thân chủ thông qua sự trình bày của mình. Sau khi xác định tính chất của vấn đề nhân viên xã hội tìm hiểu sâu hơn nữa tại sao nó xảy ra.

Công Tác Xã Hội Cá Nhân Đối Với Trẻ Em Khuyết Tật Vận Động Tại Trung Tâm Bảo Trợ Xã Hội Tỉnh Khánh Hòa / 2023

A. Mở đầu

Hàng năm, có tới hàng triệu trẻ  em được sinh ra trên thế giới. Trẻ em sinh ra và lớn lên trong những điều kiện và đặc điểm của mỗi gia đình khác nhau. Do vậy chúng cũng có những hoàn cảnh học tập, lao động và sinh hoạt khác nhau. Có những đứa trẻ được lớn lên trong sự yêu thương, chăm sóc của cha mẹ, được sống khỏe mạnh và được quan tâm một cách chu đáo thì đâu đó vẫn còn một số lượng không nhỏ các em đang chịu thiệt thòi về vật chất cũng như tinh thần, trong đó phải kể đến TEKT. Trẻ em khuyết tật tại trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa cũng không nằm ngoại lệ, trong khuôn khổ của chuyên đề, tác giả muốn đề cập tới khía cạnh công tác xã hội cá nhân với trẻ em khuyết tật tại Trung tâm.

B. Nội dung

I. Lý luận về CTXH cá nhân 

1. Khái niệm công tác xã hội cá nhân

Trước hết ta đi tìm hiểu về khái niệm công tác xã hội, nói đến khái niệm công tác xã hội đã có nhiều quan điểm được đưa ra:

Tuy có những quan niệm khác nhau về công tác xã hội nhưng hầu hết các quốc gia đều sử dụng định nghĩa được Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế (IFSW) thông qua tháng 7 năm 2000 tại Canada. Nội dung định nghĩa:

Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho con người nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng là các nguyên tắc căn bản của nghề.

Khái niệm công tác xã hội cá nhân được định nghĩa như sau:

Ta đã biết thuật ngữ công tác xã hội cá nhân ít khi xuất hiện trước những năm 1920 trong các tài liệu công tác xã hội. Thuật ngữ này đến những năm 1990 được sử dụng rộng rãi hơn trước để cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cá nhân và phòng ngừa các tệ nạn xã hội ở nhiều nước. Đó chính là một phương pháp nền tảng giúp cá nhân và gia đình mà chúng ta hay gọi là công tác xã hội với cá nhân. Chúng ta có thể tìm hiểu khái niệm công tác xã hội cá nhân thông qua quan điểm của các nhà nghiên cứu:

+ Theo Ms Helene Mathew: Công tác xã hội cá nhân là phương pháp giúp đỡ cá nhân thông qua mối quan hệ một – một. Phương pháp này được nhân viên xã hội ở các cơ sở xã hội sử dụng để giúp đỡ các cá nhân có vấn đề về chức năng xã hội cũng như việc thực hiện chức năng xã hội của họ.

+ Theo Ms Derlman: Công tác xã hội cá nhân là một tiến trình được các cơ quan lo lắng về an sinh cho con người sử dụng để cá nhân đối phó hữu hiệu hơn với các vấn đề thuộc về chức năng xã hội của họ.

+ Theo Lê Chí An: Công tác xã hội cá nhân là phương pháp giải quyết các trường hợp cá nhân và gia đình có vấn đề khó khăn trên cơ sở giúp họ thoát ra khỏi hoàn cảnh bằng chính năng lực, sức lực của họ.

Qua đây ta có thể rút ra được:

Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp giúp đỡ từng cá nhân con người thông qua mối quan hệ một – một.

Công tác xã hội cá nhân là một cách thức, quá trình nghiệp vụ mà cán bộ sử dụng các kỹ năng, kiến thức chuyên môn để giúp đối tượng phát huy tiềm năng tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của mình

2. Mục đích, nhiệm vụ, vai trò của công tác xã hội cá nhân

– Mục đích, nhiệm vụ:  Nhân viên CTXH thông qua phương pháp công tác xã hội với cá nhân để thiết lập mối quan hệ tốt với đối tượng, giúp họ hiểu rõ về họ, về hoàn cảnh của họ, xác định lại mối tương quan với những người xung quanh, giúp họ tăng khả năng huy động những nguồn lực của bản thân và của xã hội nhằm tạo sự thay đổi cho chính mình

Hay nói cách khác mục đích của công tác xã hội với cá nhân là nhằm giúp cá nhân, gia đình phục hồi, củng cố và phát triển cá     c chức năng xã hội, giúp họ giải quyết vấn đề, cải thiện tình hình của họ thông qua sự tham gia tích cực và phát huy tiềm năng của cá nhân và xã hội vào quá trình giải quyết vấn đề

3. Tiến trình công tác xã hội cá nhân

-  Tiến   trình là những bước công việc cần làm trong một khoảng thời gian nhất định. Khi giúp đỡ một cá nhân, nhân viên xã hội cũng thực hiện những bước đi trong một tiến trình gọi là tiến trình giải quyết vấn đề hay tiến trình giúp đỡ.

– Các giai đoạn của tiến trình công tác xã hội cá nhân:

+ Tiếp cận ca và xác định vấn đề ban đầu

– Việc tiếp cận ca (hay còn gọi là tiếp cận đối tượng được thực hiện có thể do phía nhân viên xã hội chủ động tìm đến đối tượng hoặc do đối tượng chủ động tìm đến với nhân viên xã hội để tìm kiếm sự hỗ trợ.

– Việc đầu tiên nhân viên xã hội phải làm là phải xác định vấn đề do đối tượng trình bày, nếu vấn đề đó nằm trong chức năng và khả năng của cơ quan xã hội thì chuẩn bị cho các bước tiếp theo, còn nếu nhu cầu giúp đỡ nằm ngoài khả năng của cơ quan xã hội thì cần nhanh chóng chuyển đối tượng đến với cơ quan chức năng phù hợp.

– Ngay từ giai đoạn này nhân viên xã hội cần thiết lập được mối quan hệ thân mật (ko quá thân mật), hợp tác với đối tượng.

+ Thu thập thông tin

– Thu thập thông tin để có cái nhìn tổng thể về đối tượng, các thông tin cần thu thập thường là:

+ Những vấn đề của đối tượng

+  Hoàn cảnh của đối tượng

+ Vấn đề đó bắt đầu từ khi nào

+ Đã có những can thiệp gì

– Nguồn thu thập thông tin:

+ Do chính bản thân đối tượng trình bày

+ Gia đình

+ Bạn bè

+ Trường học, nơi làm việc. dân phố

+ Các hồ sơ của đối tượng

+ Kết quả các trắc nghiệm tâm lý 

– Một số thông tin ban đầu có thể là mập mờ, sai lệch  do có nhiều lý do, đòi hỏi phải có sự kiểm tra thẩm định lại trong suốt quá trình thực hiện.

– Công việc thu thập thông tin được duy trì liên tục trong thời gian tiến hành hỗ trợ vì đối tượng và vấn đề hoàn cảnh của đối tượng liên tục thay đổi, nhất là khi có sự tác động từ phía nhân viên xã hội.

+ Chẩn đoán:

Dựa trên những thông tin thu được từ những giai đoạn trước tiến hành chẩn đoán như sau:

Xác định xem thực chất vấn đề trục trặc là ở chỗ nào, tính chất vấn đề là gì?

Phân tích thông tin để chỉ ra những nguyên nhân/nhân tố dẫn đến vấn đề vướng mắc:

+ Những điểm mạnh, điểm yếu của đối tượng

+ Những điểm mạnh, điểm yếu của hoàn cảnh, đối tượng cần tham gia vào để nhận thức được về bản thân và hoàn cảnh của chính mình.

+ Tâm trạng, nhận thức, mong đợi của đối tượng

Nhân viên xã hội cần nhận thức được những giới hạn của chính bản thân nhân viên xã hội và cơ quan xã hội để chia sẻ với đối tượng, giúp họ nắm bắt được tình hình, loại bỏ những khó khăn có thể

Sự chẩn đoán chính xác tạo ra cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch trị liệu hiệu quả.

+ Lập kế hoạch trị liệu

Đây là giai đoạn lên kế hoạch giải quyết vấn đề. Giai đoạn này phải xác định mục đích trị liệu và các mục tiêu cụ thể cần đạt được

Mục tiêu của trị liệu gồm:

Thay đổi hoặc cải thiện hoàn cảnh của đối tượng bằng cách hỗ trợ về nguồn lực (ví dụ tài chính tạo công ăn việc làm)

Thay đổi môi trường sống hoặc cải thiện mối quan hệ xã hội, mối quan hệ gia đình.

Giúp đối tượng thau đổi thái độ, hành vi trong hoàn cảnh trước mắt: ví dụ giúp người nghiện thấy được nguy cơ lây nhiễm HIV

Có thể thực hiện các mục tiêu trên cùng một lúc

Sự lựa chọn mục đích phải phụ thuộc vào

Mong muốn của đối tượng

Sự cần thiết (theo kết luận đánh giá của nhân viên xã hội)

Cơ sở khả năng có thể

Phạm vi chức năng của tổ chức  xã hội đó

Việc lựa chọn phương thức trị liệu cần xem xét các yếu tố

Tính chất của vấn đề

Nguồn lực có được để giải quyết

Động vơ và năng lực của đối tượng, sự tự nhận thức của đối tượng

Trong giai đoạn này đối tượng cần nắm vai trò chủ động tham gia với sự hỗ trợ của nhân viên xã hội (phân tích, góp ý) và đây cũng là cơ hội để nhân viên xã hội tìm hiểu được nhiều hơn về đối tượng, ví dụ qua cách thức lựa chọn phương pháp cho sự giải quyết vấn đề của chính họ?

+ Triển khai kế hoạch

Đây là quá trình tiền hành các hoạt động, dịch vụ nhằm hỗ trợ cá nhân giải quyết vấn đề dựa trên kế hoạch trị liệu đã được đưa ra

Để thực hiện được mục tiê đề ra nhân viên xã hội có thể triển khai các hoạt động su:

– Cung cấp một số dịch vụ cụ thể

– Tham vấn đối tượng

Trong giai đoạn này đối tượng càng phải nỗ lực tham gia vào giải quyết vấn đề của chính mình, họ vừa là người chèo chống, vừa là người định hướng mục tiêu của chính mình.

– Vai trò của nhân viên xã hội là người định hướng, hỗ trợ, là người đánh giá, phản ánh lại với đối tượng những cái mà đối tượng đã đạt được, là chỗ dựa tinh thần động viên họ, khuyến khích họ thực hiện các hoạt động, đặc biệt lúc họ gặp khó khăn, nhân viên xã hội không làm thay cho đối tượng.

-  Những cản trở khó khăn thực sự nổi lên trong giai đoạn này, do vậy đòi hỏi nhân viên xã hội phải sử dụng phát huy kỹ năng chuyên môn của mình để hỗ trợ thân chủ tiếp tục hay tìm một hướng đi khác. Tiến độ của quá trình trị liệu phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khả năng của đối tượng, tâm lý, thể trạng, sự nhìn nhận của bản thân họ cũng như các tài nguyên và cơ hội mà đối tượng đang có.

+ Lượng giá

– Là động tác đo lường và thẩm định các thay đổi tiến bộ của đối tượng, kết quả của sự can thiệp, sự đối chiếu những cái đã đạt được với mục tiêu đề ra, xem đã đạt được đến mức nào để kịp thời bổ sung điều chỉnh.

– Nếu kết quả lượng giá cho thấy hướng đi là tích cực, thể hiện sự tiến bộ của đối tượng thì vai trò của nhân viên xã hội cần được giới hạn để tạo điều kiện cho sự chủ động độc lập của đối tượng trong giải quyết vấn đề, giúp đối tượng có sự tiến bộ hơn.

– Nếu kết quả cho thấy có chiều hướng xấu đi thì cần thẩm định rõ mức độ đến đâu và từ đó có hướng tác động phù hợp, có thể nhờ sự hỗ trợ của các đồng nghiệp khác, các chuyên gia hay cơ quan chức năng khác.

– Lượng giá được tiến hành trong suốt quá trình giúp đỡ.

– Chỉ có thể lượng giá tốt khi:

+ Các mục tiêu được xác định rõ ràng và có thể đo đạc trên cơ sở thông tin đầy đủ.

+ Tham gia vào lượng giá phải có cả nhân viên xã hội, đối tượng và những người khác.

+ Có hồ sơ ghi chép tiến trình giải quyết vấn đề.

+ Kết thúc

– Là sự chấm dứt (khép lại hồ sơ) hay chuyển ca giúp đỡ sang một cơ quan hoặc nhân viên xã hội khác giải quyết. Hoạt động này tùy thuộc vào những tình huống sau:

+ Dịch vụ giúp đỡ đã được hoàn tất

+ Mục đích đã đạt được hay chưa

+ Đã chấm dứt hay muốn chuyển giao/

– Việc chấm dứt hay chuyển giao qua nhân viên xã hội khác phải dựa trên:

+ Nhu cầu và quyền lợi của đối tượng

+ Không kéo dài chỉ vì ý tưởng chủ quan của nhân viên xã hội

+ Không chấm dứt chỉ vì sự duy ý chí của nhân viên xã hội

II. Lí luận về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động

1. Trẻ em khuyết tật vận động

1.1. Khái niệm trẻ em khuyết tật vận động

Khuyết tật là mất mát hay bất bình thường một bộ phận của cơ thể hay chức năng tâm lý do bệnh tật, tai nạn, di truyền hoặc do môi trường xảy ra.

Trẻ em bị khuyết tật là những trẻ em từ 0-18 tuổi, không kể những nguyên nhân của khuyết tật, thiếu một hoặc hơn các bộ phận hoặc chức năng cơ thể khiến giảm khả năng hành động và gây khó khăn trong công việc, cuộc sống và học tập. Sự thiếu hụt về cấu trúc và hạn chế về chức năng ở TKT biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau. Các nhóm TKT gồm trẻ khiếm thính, khiếm thị, trẻ khó khăn về ngôn ngữ, trẻ đa tật và trẻ có các dạng khuyết tật khác.

Nhìn cung Bộ LĐTBXH và Bộ Y tế đã sử dụng những thuật ngữ như tàn tật, khuyết tật, tật nguyền như Tổ chức Y tế thế giới đã định nghĩa (CDS, 1998, trang 18).

Khuyết tật (mức độ cá nhân): Khả năng bị giảm hoặc mất khả năng thực hiện do hậu quả của tàn tật. Khuyết tật đề cập đến việc giảm hoặc thiếu một số khả năng ngăn cản các hoạt động trong những điều kiện bình thường.

Tàn tật (ở mức độ cơ quan): Mất hoặc dị thường về cấu trúc cơ thể hoặc chức năng về tâm lý và thể chất, giống như mất tay, chân hoặc mất thị giác. Điều này có thể gây ra do bệnh tật, tai nạn, bẩm sinh hoặc chất độc từ môi trường. Tàn tật đề cập đến sự tổn hại, yếu hoặc rối loạn khả năng chức năng tâm lý/sinh lý.

Tật nguyền (ở cấp độ xã hội): Trải qua khó khăn bởi một người do hậu quả của khuyết tật khiến cho người đó không thể tham gia vào cuộc sống cộng đồng một cách bình đẳng và hoàn thành vai trò bình thường (phụ thuộc vào tuổi, giới tính, những yếu tố xã hội và văn hoá).       

1.2. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em bị khuyết tật vận động

Tâm lý khá đông TKT là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người bình thường khác. Ở những người khuyết tật nhìn thấy được – chẳng hạn như tứ chi – họ có những biểu hiện tâm lí giống như mặc cảm ngoại hình (Body Dysmorphic Disorder) họ chú trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể đến nỗi gây khổ đau lớn – mặc dù vậy trong tâm lý học, mặc cảm ngoại hình không được chuẩn đoán cho người có khiếm khuyết cơ thể đến nỗi gây đau khổ lớn – rối loạn tâm lý này chỉ hướng tới những người có khiếm khuyết nhỏ nhưng lại cứ cường điệu chúng lên, có tâm lý ám ảnh sợ xã hội, một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu gặp gỡ ở chỗ đông người, khi có các đoàn thể đơn vị đến giao lưu với các em tại Trung tâm. Tuy nhiên rất nhiều TKT vẫn luôn nỗ lực tồn tại và phát triển cùng xã hội.

Người khuyết tật nói chung và TKT nói riêng có cơ chế bù trừ chức năng của các cơ quan cảm giác ở người khuyết tật được thể hiện rõ nét: Khi họ mất khả năng hoạt động của cơ quan cảm giác nào đó thì ở họ khả năng hoạt động của các cơ quan còn lại rất phát triển và sự nhận biết về thế giới xung quanh thực hiện chủ yếu thông qua giác quan còn lại này, trừ khuyết tật nặng và rất nặng (người khiếm thị thường rất nhạy cảm với các kích thích da, đôi tay; người khiếm thính nhạy cảm với kích thích rung động, biểu cảm phong phú).

Tuy nhiên có một số người có ý chí và nghị lực cao, đặc biệt những người khuyết tật về vận động nhưng trí tuệ phát triển bình thường hoặc thậm chí rất tốt. Họ thường cố gắn học tập, tìm kiếm việc làm để không phụ thuộc vào người khác.

Do những khiếm khuyết về chức năng và về cơ thể, TKT thường có tâm lí mặc cảm tự ti. Luôn cho rằng số phận mình không được may mắn, là gánh nặng cho người thân, gia đình. Do đó họ thường sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi người.

Trong quá trình tương tác với người khác trong gia đình, cộng đồng, họ thường có cảm xúc buồn, thất vọng hay tự ái. Nếu sống trong những gia đình khó khăn thường người khuyết tật có cảm giác bị bỏ rơi.

Sự thiếu hụt về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của người khuyết tật có thể bị giảm chức năng (chức năng nhận thức, vận động, giao tiếp…). Vì vậy gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, lao động, học tập, sinh hoạt hàng ngày.

1.3. Cơ sở pháp lý hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động

Quyền lợi chung của TKT được nêu lên trong Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật vào ngày 13/12/2006 được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua “Về quyền của TKT”.

Cụ thể: trong Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật có những điều quy định riêng đối với TEKT như sau:

– Tại Điều 3, Khoản h: tôn trọng khả năng phát triển của TEKT và tôn trọng quyền của TEKT trong việc bảo tồn bản sắc của trẻ em.

– Điều 7. TEKT.

1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện những biện pháp cần thiết để đảm bảo TEKT được thụ hưởng đầy đủ quyền con người và các quyền tự do cơ bản như những trẻ em khác.

– Điều 8, Khoản 2, Mục b quy định: “Khuyến khích thái độ tôn trọng quyền của người khuyết tật ở tất cả các cấp trong hệ thống giáo dục, bao gồm cả trẻ em ở mọi lứa tuổi”.

– Điều 18, Khoản 2: “TEKT phải được đăng ký khai sinh ngay sau khi sinh ra và có quyền được đặt tên từ khi sinh ra, có quyền nhập quốc tịch, và trong khả năng tối đa có quyền được biết cha mẹ mình là ai và được cha mẹ chăm sóc”.

– Tại Điều 24 Khoản 2 Mục … quy định: “Người khuyết tật không bị loại khỏi hệ thống giáo dục chung vì lý do bị khuyết tật vì rằng TEKT không bị loại trừ khỏi chương trình giáo dục tiểu học miễn phí và bắt buộc hoặc chương trình giáo dục Trung học cơ sở vì lý do bị khuyết tật”.

– Điều 30, Khoản 5, Mục d quy định “Đảm bảo rằng TEKT được tiếp cận bình đẳng như những đứa trẻ khác vào các hoạt động thể thao, vui chơi, giải trí, kể cả các hoạt động thể thao, vui chơi giải trí trong hệ thống giáo dục”.

* Pháp luật Việt Nam cũng có 1 số điều quy định riêng đối với TEKT.

– Cụ thể, Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2011 tại Điều 59 có quy định: “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho TEKT, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn hoá và học nghề phù hợp”.

– Luật Người Khuyết tật: Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010. Luật bao gồm có 10 chương, 53 điều. Trong đó:

+ Tại Điều 5, Khoản 3 quy định: “Ưu tiên thực hiện chính sách bảo trợ xã hội và hỗ trợ người khuyết tật là trẻ em”.

+ Tại Điều 23, Khoản 2 quy định: “Ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh cho người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, TEKT”.

+ Tại Điều 23 khoản 3: “Tư vấn biện pháp phòng ngừa và phát hiện sớm khuyết tật bẩm sinh đối với trẻ em sơ sinh để kịp thời có biện pháp điều trị và chỉnh hình, phục hồi chức năng phù hợp”.

+ Tại Điều 44 Khoản 2 quy định: Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng.

* Luật bảo vệ, chăm sóc & giáo dục trẻ em năm 2004:

Điều 52 quy định: “TEKT, tàn tật, trẻ em là nạn nhân chất độc hoá học được gia đình, nhà nước và xã hội giúp đỡ, chăm sóc, tạo điều kiện để sớm phát hiện bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, được nhận vào các lớp học hoà nhập, lớp học dành riêng cho TKT, tàn tật. Được giúp đỡ học văn hoá, học nghề và tham gia hoạt động xã hội”.

* Góc độ bảo vệ trẻ khuyết tật về mặt y tế, xã hội

Hướng trợ giúp TKT về mặt y tế xã hội có một vị trí đáng kể trong tổng thể các biện pháp quan tâm xã hội về giáo dục chăm sóc sức khỏe dinh dưỡng, sinh hoạt đời sống cho những TKT.

Những người làm công tác chăm sóc và bảo vệ TKT phải luôn sẵn sàng giúp đỡ trẻ giải quyết hàng loạt vấn đề có tính chất pháp lí tâm lí học, sư phạm học, có tính chất y tế, xã hội.

Các cán bộ quản lí cần phải nắm được các chính sách cũng như quyền lợi của TKT để để đảm bảo trong công tác chăm sóc và bảo vệ TKT, cũng như các thủ tục gửi họ đi giám định y tế xã hội, xác định nguyên nhân và nhóm khuyết tật mức độ mất khả năng lao động, xác định các hình thức khối lượng và thời hạn phục hồi chức năng cho họ cũng như các biện pháp về mặt xã hội, nêu lên những kiến nghị để chăm sóc và bảo vệ trẻ một cách tốt nhất.

Sự trợ giúp về mặt y tế, xã hội sẽ làm dịu nỗi đau của TKT, thức đẩy quá trình phục hồi tâm lí cho trẻ. TKT cần được chăm sóc, theo dõi thường xuyên đảm bảo đầy đủ các nhu cầu về đời sống cho trẻ.

* Góc độ quản lý các hoạt động quan tâm đến trẻ khuyết tật

Sự quan tâm đến TEKT không thể thiếu các cán bộ cơ quan quản lí tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa. Hệ thống quản lý các công việc về TKT nhiều cấp nhiều góc độ này đảm bảo đáp ứng được các nhu cầu của đối tượng đặc thù này. Song một vấn đề chính còn tồn tại là khâu tổ chức phải làm thủ tục đầy đủ chứng nhận mức độ khuyết tật.

Đối với người khuyết tật phải có tấm lòng bao dung, từ tâm. Tham gia vào việc đảm bảo cho TKT có những điều kiện cần thiết cho một cuộc sống theo đúng nghĩa của nó. Chính sách của Đảng và Nhà nước đối với TEKT tại Trung tâm được thực hiện thông qua các cơ cấu tổ chức của nhà nước, tổ chức phi chính phủ và các hiệp hội. Hiện nay nhiều tổ chức xã hội, ở nhiều quốc gia đã có nhiều chương trình hành động tích cực đưa TKT hòa nhập vào cộng đồng (các kì PARAGAMES). Việc tiến hành được các hoạt động này là cả một quá trình mà các nhà quản lý đã bỏ nhiều công sức. Hiện nay Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa đã và đang cố gắn tìm được những người hảo tâm, tổ chức, các nhà bảo trợ hướng tới việc chăm sóc giúp đỡ và bảo vệ TKT.

Sự bảo trợ xã hội và công tác chăm sóc, bảo vệ TEKT phải đảm bảo cho họ có được những khả năng, những điều kiện ngang bằng nhau trong việc thực hiện các quyền của họ, loại bỏ những hạn chế trong sinh hoạt, tạo mọi điều kiện cho họ được tham gia tích cực vào tất cả các mặt của đời sống xã hội. Họ cần được giúp đỡ để thích nghi với cuộc sống.

– Các Thông tư, Nghị định:

Thông tư số: 37/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT- Thông tư liên tịch quy định về việc xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện.

Thông tư liên tịch số 24/2010/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 18 tháng 8 năm 2010 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội hết hiệu lực thi hành từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lựcQuy định về giáo dục hòa nhập dành cho người tàn tật, khuyết tật theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BGDĐT ngày 23/5/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

2. Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động

2.1. Khái niệm công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động

Công tác xã hội cá nhânvới người khuyết tật là nhân viên Công tác xã hội sử dụng những kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của mình để giúp đỡ những trẻ em khuyết tật vận động tăng năng lực, sự tự tin cho người khuyết tật, khai thác những nhu cầu và đáp ứng những nhu cầu đó thông qua mối quan hệ một – một.

Ngoài ra, khi làm việc với trẻ khuyết tật nhân viên công tác xã hội sử dụng những chính sách an sinh xã hội, phối hợp với các cơ quan liên ngành tạo điều kiện và cơ hội cho trẻ khuyết tật được tham gia hòa nhập xã hội, hòa nhập cộng đồng phát triển tiềm năng của bản thân trẻ khuyết tật. Kết hợp các chính sách của Đảng và Nhà nước mở rộng mô hình chăm sóc sức khỏe và giáo dục hòa nhập cộng đồng

2.2. Nội dung của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động

Cũng như  nội dung của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật, nội dung của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động bao gồm: Mục đích, nhiệm vụ của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ  em khuyết tật vận động; kế hoạch hỗ trợ công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động. Cụ thể:

Về mục đích, nhiệm vụ: Tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, nhu cầu, mong muốn của trẻ em khuyết tật vận động.

Về kế hoạch hỗ trợ công tác xã hội cá nhân: Kế hoạch bao gồm các nội dung sau: Mức độ chức năng hiện tại của thân chủ, các mục tiêu đặt ra; nguyên tắc xây dựng kế hoạch, các yêu cầu đối với người hỗ trợ cá nhân, đặc biệt phải có các giai đoạn thực hiện cụ thể của kế hoạch, giai đoạn tuân thủ theo các bước sau:

Bước 1: Tiếp nhận, xác định vấn đề ban đầu của thân chủ

Bước 2: Đặt mục tiêu

Bước 3: Lên kế hoạch thực hiện

Bước 4: Triển khai kế hoạch

III. Thực trạng CTXH cá nhân với trẻ em khuyết tật vận động tại TT Bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa

1. Khách thể và địa bàn nghiên cứu

1.1 Khách thể nghiên cứu

Tổng số khách thể nghiên cứu của đề tài là 50 bao gồm: Nhân viên công tác xã hội; Trẻ em bị khuyết tật vận động; cán bộ quản lý tại Trung tâm Bảo trợ xã hội; giáo viên, những người trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ em bị khuyết tật vận động tại Trung tâm Bảo trợ tỉnh Khánh Hòa

1.2. Địa bàn nghiên cứu

– Lịch sử Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa

+ Thông tin về cơ sở

Tên cơ sở: Trung tâm bảo trợ tỉnh Khánh Hò

Địa chỉ: 96A Đường 2/4 – Phường Vĩnh Hải – TP Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa.

Loại hình: Công lập

+  Lịch sử thành lập cơ sở

Trung tâm Bảo trợ tỉnh Khánh Hòa là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Lao Động Thương Binh và Xã Hội Khánh Hòa, thực hiện chức năng tiếp nhận, quản lí, chăm sóc nuôi dưỡng các đối tượng xã hội theo quy định của pháp luật.

Trung tâm Bảo trợ xã hội hiện nay là Cơ sở từ thiện nuôi dưỡng người cao tuổi, trẻ em được thành lập từ trước năm 1975. Sau ngày giải phóng miền nam, thống nhất tổ quốc, Nhà nước tiếp thu cơ sở từ thiện và tiếp tục tiếp nhận, chăn sóc, nuôi dưỡng các đối tượng có hoàn cảnh đăc biệt khó khăn. Quá trình hình thành và phát triển của đơn vị từ năm 1975 cho đến nay, đơn vị đã nhiều lần thay đổi tên gọi cho phù hợp với chức năng nhiệm vụ theo từng giai đoạn cụ thể như sau:

Từ năm 1975 đến năm 1992: Đơn vị có tên gọi là Trại xã hội Nha Trang.

Từ năm 1993 đến năm 1997: Đơn vị đổi tên gọi thành Cơ sở từ thiện xã hội

Từ năm 1998 đến năm  2002: Cơ sở từ thiện được chỉ đạo tách ra thành 2 đơn vị:

– Trung tâm Từ thiện, nuôi dưỡng người già cô đơn, lang thang – người tàn tật.

– Trung tâm nuôi dưỡng trẻ em mồ côi

Ngày 01/01/2003, Trung tâm Từ thiện, nuôi dưỡng người già cô đơn, lang thang – tàn tật và Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi sáp nhập lại thành Trung tâm bảo trợ Khánh Hòa theo Quyết định số 126/2002/QĐ-UB ngày 18/11/2002 của Uỷ ban nhân dân Tỉnh Khánh Hòa.

Về cơ cấu tổ chức bộ máy của Trung tâm Bảo trợ xã hội bao gồm có Giám đốc, Phó Giám đốc và các phòng ban:

Phòng Tổ chức – Hành chính – Kế toán

Phòng Y tế

Phòng nuôi dưỡng Người cao tuổi – Khuyết tật

Phòng Nuôi – Dạy trẻ em

Phòng Công tác xã hội

Cơ sở hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật

Có thể hình dung bằng sơ đồ sau:

Tổ chức bộ máy của Trung tâm

Cấu trúc tổ chức

Hình 1. Sơ đồ thể hiện cấu trúc bộ máy của Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa

Bộ máy hoạt động

Giám đốc: Giám đốc Trung tâm do Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Khánh Hòa bổ nhiệm và miễn nhiệm theo quy định của Pháp luật, chịu trách nhiệm trước Lãnh đạo Sở, trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Trung tâm.

Phó Giám đốc: Phó Giám đốc do Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Khánh Hòa bổ nhiệm và miễn nhiệm theo đề nghị của Giám đốc Trung tâm, Phó Giám đốc Trung tâm giúp việc cho Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Giám đốc và pháp luật về các nhiệm vụ cụ thể do Giám đốc phân.

Trưởng, phó các phòng chuyên môn

– Do Giám đốc Trung tâm bổ nhiệm và miễn nhiệm theo sự phân cấp quản lý sau khi có ý kiến của Giám đốc Sở.

– Trưởng, phó các phòng chuyên môn tổ chức triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ của phòng theo chương trình kế hoạch được duyệt và theo sự chỉ đạo của Lãnh đạo Trung tâm và chịu trách nhiệm trước Lãnh đạo Trung tâm về kết quả thực hiện nhiệm vụ của phòng.

Cán bộ, viên chức, nhân viên:

– Viên chức và người lao động của Trung  tâm  có  trách  nhiệm chủ  động, nghiên cứu, tham mưu, thực hiện công việc trong phạm vi phân công, chịu trách nhiệm cá nhân trước Lãnh đạo Trung tâm về tiến độ, chất lượng, hiệu quả công việc được giao, chấp hành sự phân công nhiệm vụ của Lãnh đạo Trung tâm, có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức và quy định của pháp luật lao động.

Mục tiêu và chức năng hoạt động của cơ sở

 Mục tiêu

– Nhằm giảm những đối tượng sống lang thang cơ nhỡ, nhữngđơi tượng trẻ em, người già không có nơi nương tựa cho họ một mái ấm tình thương, một nơi ăn ở để họ có một cuộc sống tốt hơn, giảm thiểu những vấn đề xã hội xảy ra với đối tượng này.

– Bảo đảm an toàn an ninh xã hội tạo điều kiện cho những đối tượng yếu thế nhận được những nguồn trợ giúp từ xã hội.

– Chăm sóc, bảo vệ, phục hồi chức năng cho TKT, giúp đỡ trẻ em chất độc màu da cam.

– Hỗ trợ xây dựng các điểm vui chơi, giải trí cho các em vùng khó khăn, trung tâm nuôi trẻ mồ côi, khuyết tật.

 Chức năng hoạt động

– Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa là đơn vị sự nghiệp trực thuộc sở lao động thương binh và xã hội tỉnh Khánh Hòa thực hiện chức năng tiếp nhận, quản lí nuôi dưỡng giáo dục các đối tượng xã hội theo nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính Phủ ban hành quy chế thành lập và hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội.

– Thực hiện quyết định số 3021/QD-UBND ngày 9/12/2008 của ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

– Tổ chức tiếp nhận, hỗ trợ, chăm sóc ban đầu, quản lí giáo dục và tổ chức lao động cho đối tượng lang thang, ăn xin tạo điều kiện cho họ có cuộc sống ổn định tái hòa nhập cộng đồng góp phần xóa bỏ lang thang, ăn xin ảnh hưởng đến đời sống an ninh trật tự xã hội của tỉnh.

– Tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, lao động sản xuất, trợ giúp các đối tượng trong các hoạt động tự quản, văn hóa thể thao và các hoạt động khác phù hợp với lứa tuổi và sức khỏe của từng nhóm đối tượng.

 Nhiệm vụ, quyền hạn:

1. Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn theo quy định hiện hành

2. Tiếp nhận và nuôi dưỡng các đối tượng cần sự bảo về khẩn cấp trong thời gian không quá 03 tháng

4. Tiếp nhận, nuôi dưỡng các đối tượng tự nguyện đóng góp kinh phí hoặc có người nhận bảo trợ đóng góp kinh phí.

5. Tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, lao động sản xuất; trợ giúp các đối tượng trong hoạt động tự quản, văn hóa, thể thao và các hoạt động khác phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe của từng nhóm đối tượng.

 6. Chủ trì, phối hợp các đơn vị để tổ chức dạy văn hóa, dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp nhằm giúp đối tượng phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, nhân cách.

7. Chủ trì, phối hợp với chính quyền địa phương chuyển đối tượng đủ điều kiện hoặc tự nguyện xin ra khỏi Trung tâm trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng, hỗ trợ, tạo điều kiện cho đối tượng ổn định cuộc sống.

8. Cung cấp dịch vụ về công tác xã hội đối với đối tượng đang nuôi dưỡng tại Trung tâm và phối hợp với Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Khánh Hòa để tư vấn về công tác xã hội cho đối tượng tại Trung tâm.

9. Thực hiện quản lý tài chính, tài sản, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật.

10. Tổ chức vận động các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hỗ trợ vật chất và tinh thần cho đối tượng tại Trung tâm theo quy định của pháp luật

11. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa.

Trong đó Phòng Nuôi – Dạy trẻ em có nhiệm vụ là phối hợp với Phòng Y tế thực hiện các phương pháp phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật, theo dõi tiến độ phục hồi của trẻ và phối hợp đề xuất thực hiện các phương pháp tập luyện có hiệu quả nhất để phục hồi chức năng nhanh nhất đối với từng trường hợp. Ngoài ra phòng đảm nhận dạy trẻ khuyết tật có nhiệm vụ tham mưu kế hoạch dạy văn hóa cho trẻ khuyết tật, theo dõi, nhận xét, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện đạo đức nhân cách của từng em.

2. Thực trạng trẻ em khuyết tật vận động tại trung tâm bảo trợ tỉnh Khánh Hòa

Bảng 1. Thực trạng trẻ em khuyết tật theo giới tính

Giới tính

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Nam

22

52

Nữ

20

48

Tổng cộng

42

100

(Nguồn số liệu khảo sát tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa, năm 2015)

Biểu đồ 1. Thực trạng trẻ em khuyết tật theo giới tính

Qua biểu đồ ta có thể thấy trong 42 trẻ khuyết tật vận động tại địa bàn  nghiên cứu được khảo sát thì có sự chênh lệnh về giới tính. Cụ thể số lượng trẻ khuyết tật là nam giới chiếm 52%, còn nữ giới là 48%.

Bảng 2. Mức độ khuyết tật vận động của trẻ em tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa

Tình hình sức khỏe

Số lượng

Tỷ lệ (%)

TE Khuyết tật nhẹ

12

29

TE Khuyết tật nặng

21

50

Trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng

9

21

Tổng cộng

42

100

Từ bảng số liệu có biểu đồ sau:

Biểu đồ 2. Thể hiện mức độ khuyết tật của trẻ tại địa bàn nghiên cứu

Qua biểu đồ ta thấy tỷ lệ trẻ em khuyết tật ở mức độ nặng chiếm tỷ lệ cao nhất (50%), tiếp đến là trẻ em khuyết tật mức độ nhẹ (29%) và tỷ lệ trẻ em ở mức độ đặc biệt nặng cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ (21%). Qua đây ta thấy cần có những biện pháp tích cực và kịp thời để giúp trẻ có thể phần nào vượt qua những mất mát, những mặc cảm, những thiệt thòi mà cơ thể các em đang phải gánh chịu.

2.3. Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn trung tâm bảo trợ tỉnh Khánh Hòa

2.3.1. Nhận thức về công tác tham vấn, tư vấn công tác xã hội cá nhân với trẻ em bị khuyết tật vận động tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa.

Qua điều tra, quan sát, tìm hiểu và lập bảng hỏi thu thập thông tin về thực trạng công tác tham vấn, tư vấn công tác xã hội cá nhân với trẻ em bị khuyết tật vận động tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa, cho thấy:

Từ trước tới nay, tại Trung tâm, với tất cả các đối tượng từ người già neo đơn, người già khuyết tật, trẻ em mồ côi, trẻ em khuyết tật …chủ yếu được quan tâm, chăm sóc về mặt thể chất, sức khỏe hơn là về tâm lý, tinh thần hay tìm hiểu nhu cầu của đối tượng. Công việc hằng ngày của họ là nấu ăn, cho ăn, tắm giặt, thay đồ… hầu như họ làm thay tất cả mọi việc cho đối tượng như một nhiệm vụ không thể thiếu trong ngày, hết ngày này qua ngày khác, cứ thế các công việc cứ diễn ra và lặp đi lặp lại như thế.

Bản thân những người được chúng tôi điều tra, chỉ một số ít họ hiều đúng bản chất của công tác xã hội cá nhân với trẻ em khuyết tật vận động là phải làm những gì, tầm quan trọng của công việc này là gì, ý nghĩa, tác dụng mang lại ra sao. Còn phần lớn họ không hiểu, hiểu chưa đúng, đánh giá không cao vai trò, tầm quan trọng của công tác xã hội cá nhân đối trẻ em bị khuyết tật vận động.

​Bảng 3. Số liệu thể hiện nhận thức, đánh giá đúng tầm quan trọng của CTXH cá nhân dành cho TEKTVĐ tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa

Vị trí người được chưng cầu ý kiến

Số người được chưng cầu ý kiến

Số người hiểu đúng, cho là quan trọng

Số người hiểu sai, cho là không cần

Số người không biết

Số lượng

%

Số lượng

%

Số lượng

%

Số lượng

%

Cán bộ quản lý

7

100

4

57,2

2

28,5

1

14,3

Người trực tiếp chăm sóc

10

100

3

30

5

50

2

20

Người trực tiếp giáo dục

10

100

5

50

3

30

2

20

Qua bảng số liệu thể hiện nhận thức, đánh giá đúng tầm quan trọng của việc thực hiện CTXH cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa ta thấy:

Số người là cán bộ quản lý: hiểu đúng và đánh giá cao tầm quan trọng của CTXH cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động tại Trung tâm là 4/7 người được chưng cầu ý kiến (chiếm 57,2%); Hiểu sai và cho là không cần thiết phải thực hiện CTXH cá nhân cho TEKTVĐ là 2/7 người được chưng cầu ý kiến (chiếm 28,5%); Không biết CTXH cá nhân là gì là 1/7 người được chưng cầu ý kiến (chiếm 14,3 %).

Số người là người trực tiếp chăm sóc TEKT: Hiểu đúng và cho là quan trọng là 3/10 người được chưng cầu ý kiến (chiếm 30%); hiểu sai và cho là không cần thiết là 5/10 người được chưng cầu ý kiến (chiếm 50%); số người không biết là 2/10 người được chưng cầu ý kiến (chiếm 20%)

Số người trực tiếp giáo dục TEKTVĐ: hiểu đúng và cho là quan trọng có 5/10 người được chưng cầu ý kiến (chiếm 50%); hiểu sai và cho là không quan trọng có 3/10 người được chưng cầu ý kiến (chiếm 30%); không biết đến có 2/10 người được chưng cầu ý kiến (chiếm 20%).

Như vậy, chúng ta thấy rằng bản thân những người là cán bộ quản lý Trung tâm nhưng vẫn còn 28,8% số người được chưng cầu ý kiến hiểu sai và cho là không quan trọng và 14,3% số người được chưng cầu ý kiến chưa biết đến CTXH cá nhân. Đặc biệt những người trực tiếp chăm sóc các em lại có tới 50% số người được chưng cầu ý kiến hiểu sai và cho là không quan trọng, 20% trong số họ chưa biết đến CTXH cá nhân. Rồi những người trực tiếp giáo dục các em vẫn còn 30% số người được chưng cầu hiểu sai và cho là không quan trọng của CTXH cá nhân.

Đây là những con số không nhỏ thể hiện trình độ hiểu biết, sự nhận thức về một phương pháp trong công tác xã hội mà hơn ai hết những trẻ em khuyết tật cần phải được áp dụng thường xuyên, bởi các em là những người không được may mắn về thể xác, phần lớn lại là những đứa trẻ không được trực tiếp chăm sóc của cha mẹ đẻ, các em sẽ rất mặc cảm, tự ti, đồng thời các em cũng có những mong muốn và những nhu cầu chính đáng như những đứa trẻ bình thường khác. Nhưng, nếu không đi sâu vào tìm hiểu, không trò chuyện, không thực hiện vấn đàm thường xuyên với các em thì sẽ không bao giờ chúng ta biết được các em đang nghĩ gì, đang muốn và cần gì. Qua đây ta thấy cần có những lớp tập huấn, những lớp học ngắn và dài hạn về những kiến thức công tác xã hội cá nhân trước hết cho những cán bộ quản lý, những người trực tiếp giáo dục và trực tiếp chăm sóc các em.

IV. Vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với trẻ em bị khuyết tật vận động tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa.

Trong quá trình chăm sóc và trợ giúp người khuyết tật nói chung và khuyết tật vận động nói riêng, các nhân viên công tác xã hội cần thực hiện tốt vai trò sau đây:

Nhân viên công tác xã hội (NVXH) đóng vai trò cung cấp cho người khuyết tật và gia đình họ nhiều loại dịch vụ hỗ trợ, từ hỗ trợ tâm lý, đến việc phát triển các mạng lưới liên kết để có thể giúp người khuyết tật tiếp cận được các dịch vụ y tế, xã hội hoặc tiếp cận các tổ chức có khả năng trợ giúp người khuyết tật. Các NVXH là người phải hiểu được cảm xúc và phản ứng của thân chủ đối với sự khuyết tật, ảnh hưởng của sự khuyết tật tới cơ hội và khả năng phát triển của họ cũng như của gia đình họ, tác động của khuyết tật tới vai trò và mối quan hệ của các thành viên trong gia đình và cả những vấn đề tâm lý cá nhân cũng như vẫn đề xã hội của gia đình và cộng đồng dân cư. Các NVXH là người cung cấp các thông tin tâm lý xã hội của người khuyết tật nhằm giúp các nhân viên y tế, phục hồi chức năng, người chăm sóc…có sự hỗ trợ đúng đắn và hiệu quả. NVXH cũng sẽ tham vấn cho người khuyết tật và gia đình, giúp họ lập kế hoạch cá nhân và sử dụng tối đa những nội lực và ngoại lực sẵn có trong cộng đồng.

NVXH đóng vai trò nhà giáo dục, giúp người khuyết tật phát triển những kỹ năng xã hội cần thiết như giao tiếp, hợp tác, xác định giá trị…để họ có thể tự tin hơn khi tham gia vào mọi hoạt động xã hội có ích cho cuộc sống tự lập

NVXH là người giúp các thành viên khác trong xã hội hiểu rõ và đúng hơn về người khuyết tật và bản chất của sự khuyết tật để xã hội có cái nhìn khách quan và khoa học về người khuyết tật, những khó khăn và rào cản từ phía xã hội dẫn đến hạn chế cơ hội tiếp cận của người khuyết tật để họ vươn lên sống độc lập.

Mặt khác, với từng loại hình dịch vụ chăm sóc, trợ giúp cho người khuyết tật thì NVXH lại thể hiện những vai trò khác nhau, cụ thể:

Đối với dịch vụ can thiếp sớm cho trẻ khuyết tật: tức là việc nhận biết, phát hiện, chẩn đoán loại khuyết tật của trẻ và xây dựng chương trình can thiệp cho cha mẹ trẻ, cho nhà trường và giáo viên để giáo dục và điều trị y tế cho trẻ – những công việc này cần được thực hiện càng sớm càng tốt.

Vai trò chính của nhân viên công tác xã hội đối với dịch vụ can thiệp sớm này là: Khi làm việc với người khuyết tật và gia đình người khuyết tật là hỗ trợ gia đình triển khai việc chăm sóc người khuyết tật một cách phù hợp và giúp gia đình xác định được những dịch vụ cần thiết. Vai trò chính của chuyên gia là cố gắng tìm hiểu xem quan điểm của gia đình về con cái như thế nào và họ muốn nhận được dịch vụ gì từ các chương trình can thiệp sớm.

 Từ đó có thể nhận thấy để trợ giúp trẻ khuyết tật và gia đình trẻ trong quá trình can thiệp sớm thì nhân viên công tác xã hội cần thể hiện những vai trò, nhiệm vụ cụ thể sau:

-  Nắm rõ về tình trạng phát triển hiện tại của trẻ, khả năng phát triển nhận thức, phát triển giao tiếp xã hội và cảm xúc, khả năng vận động của trẻ để sẵn sàng chia sẻ, cung cấp thông tin cho gia đình trẻ trong những điều kiện cần thiết.

– Dự đoán được những kết quả chính mà trẻ, gia đình có thể đạt được cũng như những tiêu chí, quy trình và thời gian để xác định tiến bộ và xác định việc cần điều chỉnh hoặc đánh giá với kết quả và dịch vụ cần thiết.

-  Biết được các dịch vụ can thiệp sớm cần thiết để đáp ứng nhu cầu của trẻ khuyết tật và gia đình.

– Cùng với chuyên gia can thiệp sớm lên kế hoạch can thiệp cá nhân trẻ khuyết tật  một cách hợp lý và hiệu quả nhất.

– Thông tin và hỗ trợ cha mẹ trẻ trong việc tham gia xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ, bao gồm:

+ Giúp cha mẹ trẻ khuyết tật tham gia hiệu quả vào quá trình xây dựng kế hoạch trước khi họ thực sự tham gia bằng cách làm rõ vai trò trách nhiệm của họ.

+ Tạo ra bầu không khí thân mật ngay từ ban đầu, giúp cha mẹ hoặc những người thân trong gia đình hiểu rõ vai trò và trách nhiệm của mình trong buổi họp.

+ Khi làm việc phải thể hiện sự tôn trọng của mình đối với trẻ khuyết tật, nhạy cảm trước những diễn biến tình cảm của cha mẹ, thừa nhận quyền bảo mật thông tin cá nhân và sẵn sàng lắng nghe, tôn trọng ý kiến cá nhân của cha mẹ trẻ khuyết tật.

+ Thực hiện những hoạt động nhằm thu hút sự tham gia của cha mẹ (hoặc những người thân trong gia đình trẻ) vào quá trình xây dựng kế hoạch giáo dục như hướng dẫn họ cách đặt câu hỏi, trình bày quan điểm, khuyến khích bất kỳ sự phản hồi nào từ phía cha mẹ và chú ý tới câu hỏi của họ.

+ Trao đổi về những lo lắng đặc biệt của cha mẹ về trẻ khuyết tật và giúp nhóm tham gia xây dựng kế hoạch cá nhân cho trẻ khuyết tật hiểu được và cân nhắc đến những lo lắng của cha mẹ trẻ khuyết tật.

+ Cùng cha mẹ trẻ điểm lại kết quả đánh giá trong đó làm rõ những ưu điểm và hạn chế của trẻ, đồng thời minh họa những thông tin về các hoạt động của trẻ ở trường và ở nhà.

Đối với các dịch vụ giáo dục cho người khuyết tật:

– Với vai trò là người trợ giúp và cung cấp dịch vụ cho người khuyết tật, trước hết nhân viên công tác xã hội cần nắm được các mô hình, phương thức giáo dục cho người khuyết tật, bao gồm các mô hình: Giáo dục chuyên biệt; Giáo dục hội nhập; Giáo dục hòa nhập. Với những mô hình này thì trẻ khuyết tật có nhiều cơ hội tiếp cận các dịch vụ giáo dục hơn. Tuy vậy, khi tham gia học tập thì bản thân trẻ khuyết tập còn gặp rất nhiều khó khăn như: khó khăn trong việc nhận thức, tiếp thu kiến thức, diễn đạt, trình bày quan điểm, tham gia các hoạt động… nên nhân viên công tác xã hội phải thể hiện những nhiệm vụ và các vai trò của mình trước những khó khăn của các em, cụ thể:

+ Xác định những vấn đề mà trẻ khuyết tật đang gặp phải.

+ Tham gia cùng giáo viên đứng lớp, giáo viên giáo dục đặc biệt xây dựng các kế hoạch học tập, kế hoạch giúp đỡ trẻ.

+ Hỗ trợ trẻ tìm ra các biện pháp, cách thức vượt qua những khó khăn, khủng hoảng mà trẻ có thể gặp phải

+ Tham gia xây dựng nhóm bè bạn hỗ trợ trẻ khuyết tật

+ Tổ chức các hoạt động nhằm thay đổi nhận thức thái độ không đúng của giáo viên, học sinh về trẻ.

+ Tư vấn, tham vấn cho giáo viên, học sinh về trẻ khuyết tật.

+ Kiến nghị, vận động, tìm kiếm nguồn lực xây dựng môi trường học tập vui chơi phù hợp với trẻ.

Nếu đánh giá đúng vai trò nhiệm vụ thì công việc này thuộc về Phòng Công tác xã hội của Trung tâm. Thực tế phòng Công tác xã hội mới thành lập khoảng 05 năm trở lại đây, trước đây chưa có phòng này. Nhiệm vụ của các nhân viên trong phòng là:

+ Tổ chức sàng lọc và phân loại đối tượng;

+ Đánh giá tâm sin lý, tình trạng sức khỏe, nhân thân và các nhu cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội của đối tượng;

+ Xây dựng kế hoạch chăm sóc, hỗ trợ giáo dục, tâm sinh lý, tình cảm, sức khỏe, những căng thẳng phát sinh, phòng chống ngăn ngừa tệ nạn xã hội… cho đối tượng;

+ Trực tiếp cung cấp, thực hiện các dịch vụ công tác xã hội, phương pháp và kỹ năng như: tham vấn, trị liệu, tư vấn, giáo dục, đàm phán, hòa giải, tuyên truyền;

+ Giám sát, rà soát lại hoạt động can thiệp theo sự phân công và đề xuất điều chỉnh kế hoạch chăm sóc nếu cần thiết;

+ Xây dựng kế hoạch ngừng chăm sóc và hòa nhập cộng đồng đối với đối tượng;

+ Thu thập dữ liệu, tổng hợp, phân tích và dự báo sự tiến triển của đối tượng;

+ Đánh giá, rút kinh nghiệm về công tác xã hội trong phạm vi công việc;

+ Xây dựng kế hoạch rà soát, kiểm tra, đánh giá nhu cầu của người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa để hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm phù hợp cho người khuyết tật

Ngoài Phòng Công tác xã hội thì tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Khánh Hòa còn có Cơ sở hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật, nhiệm vụ của cơ sở là:

+ Tổ chức triển khai kế hoạch hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật;

+ Xây dựng kế hoạch, chương trình học nghề theo từng môn học, soạn giáo án phục vụ cho việc giảng dạy;

+ Theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên.

Qua đây ta thấy, về cơ bản nhân viên công tác xã hội đã nhận thức đúng vai trò của mình, đã thực hiện được một số nhiệm vụ, nhưng chủ yếu là phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe, ăn uống, giúp các em trong các công việc sinh hoạt hằng ngày. Khi làm việc trực tiếp với một số trẻ em khuyết tật vận động, sau trò chuyện, phỏng vấn, tôi nhận thấy hầu hết các em còn rất e ngại, rụt rè, mặc cảm bởi vì các đặc điểm trên cơ thể mình. Các em ngại tiếp xúc với mọi người, nhất là những người lạ. Khi được hỏi về những công việc hằng ngày của các em và mức độ hài lòng cũng như  mong muốn, nguyện vọng của các em chúng tôi thu được kết quả như sau: Hầu hết công việc hằng ngày của các em dành nhiều cho việc ăn, uống, nghỉ ngơi, sinh hoạt cá nhân và các công việc này đều có người trợ giúp các em.

C. KẾT LUẬN

Có thể thấy Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Bởi vậy, hơn ai hết, họ cần có sự quan tâm của gia đình, cộng đồng, của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội. Họ cần được chăm sóc chu đáo về thể chất, cần được quan tâm về mặt tinh thần và cần được tạo mọi điều kiện để có thể phát huy được những khả năng có thể có của bản thân. Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động nói riêng và đối với người khuyết tật nói chung là một trong những biện pháp công tác xã hội có hiệu quả nhất có thể giúp cho người khuyết tật. Thông qua đó có thể tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, hiểu được những suy nghĩ, những mong muốn của người khuyết tật, từ đó có thể đề xuất các giải pháp phù hợp để đáp ứng những mong muốn, nguyện vọng của họ, cũng như có thể phát huy được những khả năng tiềm ẩn trong mỗi con người họ.

Chúng ta cũng thấy rằng, từ khi công tác xã hội ra đời, các đối tượng yếu thế trong xã hội đã được quan tâm nhiều hơn, có nhiều cơ hội để thể hiện khả năng của mình hơn. Những người trực tiếp làm việc với họ ngoài cái tâm với nghề, họ cũng đã không ngừng học hỏi, học tập để tích lũy, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề của mình, để khi trực tiếp làm việc với người khuyết tật sẽ thu được những kết quả cao hơn. Song thực tế cũng cho thấy bản thân người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng mới được quan tâm, chăm sóc nhiều hơn về sức khỏe, thể chất, về ăn uống, ngủ nghỉ… còn những tâm tư nguyện vọng, những suy nghĩ của họ còn ít được quan tâm. Công tác xã hội cá nhân là một trong những phương pháp khá quan trọng và hữu ích, giúp chúng ta có cơ hội để hiểu về người khuyết tật hơn. Chỉ có khi trực tiếp làm việc với họ, khi đã thiết lập được mối quan hệ với họ, chúng ta mới hiểu hết được con người họ, cũng như những khả năng tiềm ẩn trong con người họ. Qua đây ta thấy việc đưa công tác xã hội cá nhân vào trong chương trình trợ giúp dành riêng cho người khuyết tật là một trong những việc làm cần thiết và hữu ích.

1. Lê Chí An (2006) Công tác xã hội nhập môn, Đại học Mở-bán công TP. HCM,

2. Bùi Thị Xuân Mai (2010), Giáo trình Nhập môn công tác xã hội, NXB Lao động – Xã hội.

3. Nguyễn Thị Kim Hoa; Nguyễn Hồi Loan (2015), Giáo trình Công tác xã hội đại cương, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

4. Nguyễn Sinh Phúc (2014), Giáo trình Đại cương Chăm sóc sức khỏe tâm thần, NXB Lao động – Xã hội

5. Nguyễn Thị Kim Hoa (2014), Giáo trình Công tác xã hội với Người khuyết tật NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

6. Huff KJ, Maarse A, Lancaster J. (2003). Situational analysis on children with disabilities in Vietnam. Hanoi.

7. Ife J. (2001). Human Rights and Social Work: Towards Rigths-based Practice. Cambridge University.

Th.S Lê Thị Phương

Công Tác Xã Hội Là Gì? / 2023

Nếu cho một ai đó CON CÁ thì chỉ giải quyết vấn đề mang tính chất nhất thời (giải quyết cái đói), cũng dễ tạo sự thụ động và ỷ lại.

Nếu cho một ai đó CẦN CÂU thì giúp họ tự giải quyết vấn đề (tìm cách để thoát khỏi đói), không dựa dẫm, lệ thuộc.

FEmail: khoactxh@kthcm.edu.vn

Công tác xã hội là gì?

Công tác xã hội (CTXH) là ngành khoa học và là một nghề nghiệp chuyên môn, đòi hỏi người làm nghề CTXH phải được đào tạo về kiến thức chuyên ngành và kỹ năng chuyên môn. Trong những năm gần đây, khái niệm về nghề CTXH ở Việt Nam còn khá lạ lẫm với rất nhiều người, đặc biệt là các em học sinh mới tốt nghiệp trung học phổ thông, mặc dù đây là một ngành nghề có lịch sử phát triển rất lâu đời ở các nước phát triển trên thế giới như Anh, Mỹ, Pháp,… Khoảng 10 năm trở lại đây, từ khi có Quyết định Số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 03 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt Đề án Phát triển Nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020, Công tác xã hội được nhắc đến như một nghề quan trọng tại Việt Nam. Vậy, Công tác xã hội là gì?

Công tác xã hội là một nghề có vai trò giúp đỡ, hỗ trợ và tạo điều kiện cho những người có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn và khó hòa nhập với cộng đồng, ví dụ, người khuyết tật, người già, người nghèo, người có bệnh nan y, những người không có khả năng tự chăm sóc,… Ngành Công tác xã hội ra đời với sứ mạng hàn gắn những rạn nứt của xã hội trong quá trình phát triển, giảm thiểu sự bất bình đẳng xã hội và hướng tới sự phát triển bền vững, nhân văn và nhân ái.

Nghề Công tác xã hội có vai trò cung cấp dịch vụ cho người dân, và người làm trong ngành Công tác xã hội là người phụng sự xã hội, phục vụ những người cần giúp đỡ, che chở và hỗ trợ,… Chính vì vậy, nhân viên ngành Công tác xã hội cần được đào tạo chuyên sâu về kiến thức xã hội, chuyên môn chăm sóc và đặc biệt là kỹ năng mềm. Kiến thức chuyên môn giúp nhân viên công tác xã hội thấu hiểu được cuộc sống, hoàn cảnh của người cần được chăm sóc, kiến thức chuyên môn giúp họ có thể đồng cảm, tiếp cận và hỗ trợ lâu dài cho người đó. Ví dụ, một cán bộ Công tác xã hội cần tiếp cận một người tổn thương tâm lý và có ý định tự vẫn.

Để hiểu Công tác xã hội là gì, chúng ta đơn giản hóa bằng một triết lý xoay quanh việc “giúp người cái cần câu hay con cá”

Nếu cho một ai đó CON CÁ thì chỉ giải quyết vấn đề mang tính chất nhất thời (giải quyết cái đói), cũng dễ tạo sự thụ động và ỷ lại.

Nếu cho một ai đó CẦN CÂU thì giúp họ tự giải quyết vấn đề (tìm cách để thoát khỏi đói), không dựa dẫm, lệ thuộc.

Chính vì vậy, có thể hiểu công tác xã hội như sau:

1 Công tác xã hội là một nghề dựa trên một tập hợp kiến thức của các ngành khoa học và nghệ thuật.

2. Công tác xã hội là một nghề nhằm mục đích hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng trong việc xử lý các vấn đề họ đang gặp phải.

3. Hoạt động của công tác xã hội vì hạnh phúc của con người và nâng cao phúc lợi xã hội.

4. Người làm công tác xã hội phải là người được đào tạo và phải được đánh giá về kiến thục và năng lực

Bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về Ngành học này, hãy đến:

FKhoa Công tác xã hội Trường Cao đẳng Kinh tế chúng tôi

FĐịa chỉ: 33 Vĩnh Viễn, P2, Q10, chúng tôi FSố điện thoại: 028 38 359 560 FEmail: khoactxh@kthcm.edu.vn