Khái Niệm Chính Trị Tư Tưởng / 2023 / Top 20 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | 2atlantic.edu.vn

Xác Định Khái Niệm Giáo Dục Chính Trị Tư Tưởng / 2023

TRANSCRIPT

Tap ch Khoa hoc Trng ai hoc Cn Th Phn D: Khoa hc Chnh tr, Kinh t v Php lut: 46 (2016): 130-134

130

DOI:10.22144/ctu.jvn.2016.578

XC NH KHI NIM GIO DC CHNH TR T TNG

Phan Th Phng Anh v Trn Th Nh Tuyn

Khoa Khoa hc Chnh tr, Trng i hc Cn Th

Thng tin chung: Ngy nhn: 30/11/2015 Ngy chp nhn: 28/10/2016 Title: Defining the concept of political and ideological education

T kha: Khi nim, gio dc, chnh tr t tng

Keywords: Concept, education, political and ideological

ABSTRACT

In Viet Nam, the term Political and ideological education has been widely used in the documents of the Communist Party of Viet Nam and in the documents, books in various fields. However, up to now, the concept of political and ideological education in Viet Nam has not been well defined. The article initially clarified the term Political and ideological education in order to create preconditions for further studies related to the work of political and ideological education.

TM TT

Vit Nam thut ng gio dc chnh tr t tng c s dng rt ph bin trong cc vn kin ca ng Cng sn Vit Nam v nhng ti liu sch bo nhiu lnh vc, Tuy nhin cho n nay, khi nim v gio dc chnh tr t tng Vit Nam vn cha c xc nh r. Bi vit bc u tip cn khi nim v gp phn xc nh r khi nim gio dc chnh tr t tng, nhm to tin cho nhng nghin cu tip theo c lin quan n gio dc chnh tr t tng.

Trch dn: Phan Th Phng Anh v Trn Th Nh Tuyn, 2016. Xc nh khi nim gio dc chnh tr t tng. Tp ch Khoa hc Trng i hc Cn Th. 46d: 130-134.

1 GII THIU Lch s x hi loi ngi t khi phn chia giai

cp n nay l lch s u tranh giai cp. Trong cuc u tranh , cc giai cp u tin hnh gio dc chnh tr t tng, coi l v kh sc bn, mt phng thc hu hiu nhm gio dc, truyn b h t tng ca mnh, lm cho n tr thnh h t tng thng tr trong ton x hi bo v li ch v duy tr s thng tr ca ch th h t tng. Vit Nam, thut ng gio dc chnh tr t tng c s dng rt ph bin trong cc vn kin ca ng Cng sn Vit Nam, nhng ti liu sch bo nhiu lnh vc, Tuy nhin cho n nay, khi nim v gio dc chnh tr t tng Vit Nam vn cha c xc nh r.

Vit Nam tip cn vn gio dc chnh tr t tng nh mt cng c, mt phng thc a yu t t gic vo phong tro cch mng ca giai

cp cng nhn v nhn dn lao ng thng qua hot ng ca i tin phong ca giai cp l ng Cng sn. Vi hng tip cn cho thy, gio dc chnh tr t tng lun gn lin vi cuc u tranh giai cp v u tranh dn tc.

2 NI DUNG hiu r khi nim gio dc chnh tr t

tng, cng nh cu trc ca khi nim gio dc chnh tr t tng, ta cn lm r mt s khi nim nh: Chnh tr, t tng v mt s vn c lin quan n cng tc t tng.

Khi nim gio dc: Theo t in Gio dc hc th gio dc c nh ngha nh sau: Gio dc l hot ng hng ti con ngi thng qua mt h thng cc bin php tc ng nhm truyn th bng tri thc v khi nim, rn luyn k nng v li sng bi dng t tng v o c cn thit cho i tng gip hnh thnh v pht trin nng lc, phm

Tap ch Khoa hoc Trng ai hoc Cn Th Phn D: Khoa hc Chnh tr, Kinh t v Php lut: 46 (2016): 130-134

131

cht, nhn cch ph hp vi mc ch, mc tiu chun b cho i tng tham gia hot ng sn xut v i sng x hi (Bi Hin , 2002).

Theo TS. Phm nh Nghip: Gio dc l hnh thi x hi, l qu trnh tc ng c mc ch, c k hoch, nh hng t gic ch ng n con ngi a n s hnh thnh v pht trin tm l, thc nhn cch(Phm nh Nghip, 2004).

Cn theo quan im trit hc ca TS. Trn S Phn: Gio dc l mt qu trnh hai mt, mt mt l s tc ng t bn ngoi vo i tng gio dc (s tc ng ca gio dc tri thc, vn ha nhn loi thng qua nh s phm n i sng ca hc sinh, sinh vin); mt khc (v ch yu hn l) thng qua s tc ng ny m lm cho i tng t bin i bn thn mnh, t hon thin, t nng mnh ln qua gio dc (Trn S Phn, 1999).

Qua cc nh ngha, khi nim, quan im ca cc nh khoa hc ta thy c, gio dc l mt hot ng ca x hi loi ngi v n mang tnh tt yu, bi thng qua hot ng ny loi ngi mi c th tip tc tn ti, ci ho th gii v pht trin, hon thin mnh trong i sng x hi. Gio dc c ni hm rt rng, nn c hiu theo nhiu ngha khc nhau. Theo ngha rng, gio dc c hiu l qu trnh trao i v chuyn giao tri thc ca con ngi theo mt quy c c nh sn. Hiu theo ngha hp, gio dc l mt qu trnh hnh thnh nn nhn cch ca con ngi di nh hng ca hot ng c mc ch ca nh gio dc.

V bn cht: Gio dc l qu trnh t chc cuc sng hot ng v giao lu cho i tng gio dc, nhm gip h nhn thc ng to lp tnh cm v thi ng, hnh thnh nhng thi quen hnh vi vn minh trong cuc sng, ph hp vi chun mc x hi (Phm Vit Vng, 1996).

T ni hm v bn cht ca gio dc, ta thy c, hnh thnh nn nhn cch ca mt con ngi theo ng nh chun mc x hi, nh gio dc phi c c mt h thng cc phng din gio dc, chnh v vy, gio dc c rt nhiu phng din hp thnh: Gio dc chnh tr, t tng, gio dc o c, gio dc php lut, gio dc kinh t, gio dc thm m, gio dc thng thc, gio dc sinh thi, gio dc v gii Nh vy, c th thy, gio dc chnh tr t tng l mt phng din hp thnh khng th thiu khi o to gio dc mt con ngi.

Khi nim chnh tr: T in Trit hc Lin X nm 1975 nh ngha: Chnh tr l s tham gia vo cc cng vic ca Nh nc, vic quy nh nhng hnh thc, nhim v, ni dung hot ng ca Nh nc lnh vc bao hm cc vn v ch nh

nc, qun l t nc, lnh o cc giai cp, vn u tranh ng phi, nhng li ch cn bn ca cc giai cp v nhng quan h qua li ca cc giai cp biu hin ra trong chnh tr. Chnh tr cng biu hin nhng quan h gia cc dn tc v gia cc quc gia.

T in Bch khoa Vit Nam xem Chnh tr l ton b nhng hot ng c lin quan n cc mi quan h gia cc giai cp, gia cc dn tc, cc tng lp x hi, m ct li ca n l vn ng ginh chnh quyn, duy tr v s dng quyn lc Nh nc, s tham gia vo cng vic Nh nc, s xc nh hnh thc t chc, nhim v v ni dung hot ng ca Nh nc(T in Bch khoa Vit Nam, 1995) .

C th thy, cc nh ngha trn tip cn chnh tr nhng mt khc nhau, nhng nhn chung, cc nh ngha nu ln c bn cht ca chnh tr l tnh giai cp, mi quan h v mc tiu ca cc giai cp, cc lc lng chnh tr trong vic ginh chnh quyn, iu khin Nh nc.

Theo quan im ca ch ngha Mc Lnin, bn cht ca chnh tr suy cho cng l s biu hin tp trung ca kinh t. Lnin ch r: Chnh tr l s biu hin tp trung ca kinh t chnh tr khng th khng chim a v hng u so vi kinh t (Lnin, 1977). So vi kinh t, chnh tr khng th khng chim v tr hng u, v khi gii quyt vn kinh t, giai cp cm quyn phi nh hng vo vic bo v v pht huy quyn lc chnh tr ca giai cp . Xt v tng quan, kinh t phi c coi l tnh th nht, chnh tr l tnh th hai. Chnh tr tuy l tnh th hai, nhng n phi c v tr u tin so vi kinh t, v quyn lc chnh tr l tin xut pht i ti ginh quyn lc kinh t v quan im chnh tr v kinh t v hot ng kinh t suy cho cng phi nhm m bo v bo v nh hng chnh tr, khi gii quyt cc vn kinh t phi lun lun xut pht t cc quan im chnh tr. Tuy nhin, khng v th m chnh tr c u tin ho v mi vn u c tnh hai mt ca n.

Trong lnh vc chnh tr, ci thc y hot ng chnh tr lm tng tnh tch cc chnh tr, chi phi cc quan h chnh tr, ni ln thc cht ca cc quan h l li ch chnh tr. Nu nhu cu l nhng i hi ca con ngi mun c nhng iu kin nht nh tn ti v pht trin th li ch l ci tha mn nhu cu, p ng li nhu cu. Li ch l nhn t ca qu trnh hot ng thc tin x hi ca con ngi hng ti mt ci g c ngha i vi h. V phm vi cp ch th, th c li ch c nhn, li ch tp th, li ch tp on, li ch quc gia, Cn c vo lnh vc m li ch hng ti th c: li ch kinh t, li ch tinh thn,

Tap ch Khoa hoc Trng ai hoc Cn Th Phn D: Khoa hc Chnh tr, Kinh t v Php lut: 46 (2016): 130-134

132

Nh vy, c th thy, nhu cu chnh tr l nhng i hi ca ch th mun c mi trng, iu kin chnh tr p ng s pht trin nhiu mt ca mnh. i tng ca nhu cu chnh tr l quyn lc chnh tr v nhng nhn t ca quyn lc . Do vy, li ch chnh tr l nhng nhn t, nhng hnh thc, nhng iu kin chnh tr tha mn c nhu cu chnh tr ca ch th. Xt su xa, mi li ch chnh tr u nhm t n li ch kinh t. Bi cc nhu cu v li ch kinh t lun i hi mt cch khch quan vic thc hin chng thng qua nhng iu kin hnh thc v phng php ca chnh tr. V nh vy, cc nhu cu v li ch kinh t phn nh bng nhu cu v li ch chnh tr. iu ny cho thy hiu c li ch chnh tr ch th phi c mt trnh nhn thc chnh tr. nhn thc c v tin ti hin thc ha li ch chnh tr, cc cp ch th trc ht phi xc nh c mc tiu l tng chnh tr vi t cch l s th hin li ch chnh tr.

Trong h thng chnh tr cc nhn t c vai tr tiu biu trong vic thc hin li ch chnh tr l Nh nc v ng chnh tr. Cc t chc chnh tr x hi hot ng vi t cch l hnh thc v phng tin thc hin li ch chnh tr ca ch th v l i din li ch chnh tr ca h.

Tuy nhin, chnh tr l mt lnh vc c c im phc tp v tinh vi khng phi ai c nhu cu v li ch lnh vc kinh t hoc cc lnh vc khc l c th tr thnh nhu cu li ch chnh tr tng ng hoc ging nhau gia cc ch th. t c mc ch i hi cc giai cp phi tin hnh cng tc gio dc chnh tr nhm nng cao gic ng chnh tr cho qun chng lm cho qun chng nhn thc y v mc ch, ng li, nhim v ca cch mng, t , t chc qun chng thc hin ng li v nhng nhim v nht nh theo yu cu nhim v ca mi giai on cch mng. iu c ngha l, lm cho h t tng chnh tr ca giai cp thng tr gi vai tr ch o trong i sng tinh thn ca x hi, nhm duy tr v bo v ch kinh t hin ang tn ti. Hoc ngc li, n hng dn cuc u tranh xa b ci trt t thng tr x hi ang c nhng li thi, km hm s pht trin ca lch s v cng vi n l xa b tnh trng kinh t tng ng nhm gii phng x hi, gii phng giai cp.

Bi vy, i vi qun chng nhn dn phi c mt qu trnh gio dc mang tnh t gic v nhn thc nhu cu v li ch chnh tr. ng thi, tin n lm cho h xc nh c v tr ca mnh bn cnh cc ch th chnh tr khc, nng cao tnh tch cc trong hot ng thc tin chnh tr. iu s gp phn hnh thnh nhng yu t c bn ca t tng chnh tr hay ni rng hn l ca vn ha

chnh tr trong nhn cch vn ha ca mi con ngi.

Nh vy, cng tc chnh tr l hot ng ca ch th chnh tr v thc hin mc ch, cng lnh, nhim v ca mnh m tin hnh hot ng thc tin tc ng n nhn dn nhm nng cao gic ng, nhn thc chnh tr cho nhn dn.

Khi nim t tng: Trit hc gin yu nm 1987 nh ngha: T tng l hnh thc phn nh th gii bn ngoi trong bao hm s thc v mc ch v trin vng ca vic tip tc nhn thc v ci to th gii bn ngoi mi t tng u c rt ra t khi nim. Chng l s phn nh ng n hay xuyn tc hin thc

T in Ting Vit xut bn nm 1994 cho rng: T tng l quan im v ngha chung ca con ngi i vi hin thc khch quan, i vi x hi (ni tng qut), do , c t tng tin b, t tng lc hu.

T nhng quan im trn cho thy, ci chung nht ca t tng l s phn nh khi qut hin thc khch quan trong thc biu hin nhng li ch ca con ngi, ca giai c

Khái Niệm Tư Tưởng Là Gì? Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Gì? Ý Nghĩa Tư Tưởng / 2023

Tư tưởng là ý thức của một cá nhân, một cộng đồng. Nó chứa một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học. Các khái niệm mang tính nhất quán, những quan điểm đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cá nhân, giai cấp, một dân tộc được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

Quan điểm về tư tưởng xuất phát từ những ý tưởng của những nhà tư tưởng có tầm nhìn cao. Không phải ai có ý tưởng đều được coi là nhà tư tưởng, bởi lẽ theo nhà bác học Lênin cho rằng người đó phải biết cách giải quyết được những vấn đề chính trị, sách lược, tổ chức.

Tư tưởng không phải những cái có sẵn hay đã được đóng khung từ trước. Nó có thể được sinh ra và phát sinh trong quá trình trao đổi, suy nghĩ của con người. Tư tưởng được mọi người tiếp thu có chọn lọc dưới dạng lĩnh hội lẫn phê phán.

Theo đó tư tưởng là gì? Đó là cái gì đó không giới hạn, nó luôn được hình thành trong quá trình tiếp thu của con người .Tư tưởng có thể có dạng tiêu cực và tích cực.

Tư tưởng chính trị của dân chủ

Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng, chính trị… Hệ thống tư tưởng này bao gồm những quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Người đã vận dụng và phát triển thêm những ý tưởng của các nhà bác học. Phát huy những cái tiên tiến và sử đổi những cái chưa tốt.

Các giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh đã ghi chép, nhận định những vấn đề cũng như hoạt động của người. Các nội dung này được hình thành và phát triển từ các thời kỳ hoạt động của Hồ Chí Minh trong phong trào cách mạng Việt Nam và quốc tế. Các tư tưởng của người được ứng dụng vào trong các cuộc đấu tranh cũng như thực tế lúc bấy giờ.

Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh nhận định Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh của văn hóa dân tộc Việt Nam.Tiếp thu các tư tưởng những người đi trước và các tư tưởng tiên tiến. Các tư tưởng được áp dụng như tư tưởng cộng sản Mác- Lênin, tư tưởng cách mạng pháp, tư tưởng văn hóa phương Đông, văn hóa phương Tây.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chính thống của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Những tư tưởng của người được đánh giá rất cao. Là những tư tưởng có tính triết lý cao, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin. Dân tộc Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh luôn coi tư tưởng của Người là khối tài sản lớn, là kim chỉ nam cho mọi hành động.

Tư tưởng chính trị nằm ở trong tư tưởng. Là những tư tưởng để xây dựng một đất nước yên bình. Nó nằm trong các tư tưởng của những người đi trước. Tư tưởng chính trị nó là sách lược để đất nước ta chống lại quân giặc. Tư tưởng chính trị bị đốt, bị chôn nhưng vẫn sống trong lòng người dân.

Dân tộc Việt Nam sử dụng chủ nghĩa Mác – Lênin là vũ khí lý luận, là nền tảng tư tưởng chính trị. Các lý luận là kim chỉ nam, chỉ ra phương hướng cho chúng ta trong thực tế. Mỗi cán bộ đều phải học tập để áp dụng vào thực tế.

Tử tưởng chính trị cũng chính là cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Học tập và làm theo tư tưởng này giúp xây dựng Đảng về chính trị vững mạnh.

Tư tưởng có ý nghĩa đặc biệt cho nhân dân Việt Nam. Đặc biệt là những tư tưởng tiên tiến, tiến bộ của những người đi trước đã để lại cho nhân dân khối tài sản quý báu. Đặc biệt là tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động của dân tộc ta.

Tư tưởng là tất cả những suy nghĩ, định hướng, phân tích, đánh giá hay kết luận… thành ý trong đầu của chúng ta. Ví dụ: khi nhìn thấy con gà, chúng ta thốt lên “Con gà trống đẹp quá!” cũng là chúng ta đang tư tưởng và tư tưởng được bộc lộ ra ngoài bằng lời nói.

Sự khác nhau giữa tư tưởng và lý luận là gì?

Tác giả: Việt Phương

Suy Thoái Tư Tưởng Chính Trị, Đạo Đức, Lối Sống / 2023

o tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, trong đó có mặt trái, mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, dẫn đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn biến phức tạp. Ngay từ Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994), Đảng đã chỉ ra những biểu hiện của tình trạng này và coi đó là một trong bốn nguy cơ cần quan tâm đấu tranh phòng, chống. Các kỳ Đại hội Đảng và nhiều hội nghị Trung ương các khóa tiếp tục đánh giá thực trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; xác định việc ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ vừa cơ bản lâu dài, vừa có ý nghĩa cấp bách trong công tác xây dựng Đảng.

Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta nhấn mạnh: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.

Vấn đề đặt ra là: căn nguyên do đâu mà tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tiếp tục diễn biến nghiêm trọng và chưa được ngăn chặn, đẩy lùi? Phải chăng chúng ta chưa đánh giá chính xác mức độ, tính chất của tình hình, chưa xác định rõ căn nguyên sâu xa, để đề ra được hệ thống giải pháp đồng bộ và đủ mạnh nhằm khắc phục tình trạng suy thoái này.

Từ thực tiễn tổ chức tiến hành các hoạt động của công tác xây dựng Đảng ở cơ sở, có thể chỉ ra một số căn nguyên sâu xa như sau:

những sai lầm, khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém trong ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên đều bắt nguồn từ những sai lầm, khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ, từ việc quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng đến chính sách đãi ngộ … Trong thực tế, do chưa có cơ chế phù hợp trong việc phát hiện, tạo nguồn, tuyển dụng, đánh giá, sử dụng, đãi ngộ…; do sơ hở, thiếu trách nhiệm, chuyên quyền, lũng đoạn, lợi ích nhóm, “gia đình trị”… trong công tác cán bộ nên mới có chuyện chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy tội, chạy tuổi… diễn ra không chỉ ở cơ sở mà còn cả ở cơ quan cấp cao của Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy mới có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên kém đức, kém tài, không đáp ứng đủ những điều kiện, tiêu chuẩn của người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý… nhưng vẫn được quy hoạch vào những vị trí quan trọng, vẫn được gửi đi đào tạo ở các trường uy tín, ở trong và ngoài nước nhằm hợp thức hóa sự thăng tiến. Có nơi, cán bộ vi phạm pháp luật Nhà nước và kỷ luật của Đảng lại được bao che, không bị xử lý, thậm chí còn được trọng dụng, bất chấp dư luận xã hội. Vì thế, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác cán bộ là khâu then chốt có ý nghĩa quyết định đến việc đấu tranh, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Và “then chốt của then chốt” để ngăn chặn, khắc phục tình trạng đó phải bắt đầu từ những cán bộ, đảng viên được giao trọng trách làm công tác cán bộ.

công tác giáo dục nâng cao nhận thức đối với cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò, tính cấp bách, sự hệ trọng của nhiệm vụ ngăn chặn, đẩy lùi ở một số tổ chức đảng còn hạn chế.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lý luận nói chung và giáo dục nâng cao ý thức thực hiện nhiệm vụ ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đối với cán bộ, đảng viên ở một số tổ chức đảng chưa được coi trọng đúng mức; nội dung, hình thức giáo dục lạc hậu, chồng chéo, xa thực tế; năng lực, phẩm chất của một bộ phận đội ngũ giảng viên, báo cáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Vì thế, nhiều người có biểu hiện nhận thức sai lệch trong học tập lý luận chính trị. Kết quả dẫn đến là ai cũng được “học”, nhưng cái cần đạt được trong nhận thức lý luận chính trị để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ lại rất thấp.

Trong những năm qua, tình hình thế giới, trong nước diễn biễn phức tạp, thường xuyên tác động mạnh mẽ tới tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; các thế lực thù địch ra sức đẩy mạnh thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và ngày càng thâm độc, tập trung thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ tổ chức, cán bộ ta. Song, nhiều tổ chức chưa nhận thức rõ được âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; chưa có biện pháp thiết thực tổ chức đấu tranh một cách mạnh mẽ, khoa học để phản bác một cách hiệu quả, dẫn đến một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động về tư tưởng, đánh mất niềm tin, chao đảo về bản lĩnh, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, việc quán triệt và thực hiện nghị quyết của Đảng không nghiêm.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ cho Đảng, cho cách mạng, Người chỉ rõ: Cán bộ là gốc của mọi công việc, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Cán bộ tốt sẽ luôn đặt nhiệm vụ và lợi ích của tập thể, của cách mạng lên trên lợi ích cá nhân. Hoạt động của họ luôn được thúc đẩy, dẫn đường bằng những lý tưởng chính trị tốt đẹp, đạo đức trong sáng, bằng khát vọng là để phục vụ, cống hiến và đem lại lợi ích cho Tổ quốc, cho nhân dân… Trong Di chúc, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Để có được những phẩm chất tốt đẹp đó, mỗi cán bộ đảng viên phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng đạo đức như việc rửa mặt hàng ngày. Vì: “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống mà do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày có được. Cũng giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Nhưng trên thực tế, một số cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng mà sa vào chủ nghĩa cá nhân, lợi dụng chức vụ để “thăng quan phát tài”, địa vị của họ trở thành công cụ trục lợi. Những người đó, không có nhiều tri thức, kỹ năng chuyên môn, nhưng lại có thừa những thủ đoạn, mưu mô nhằm củng cố địa vị và tăng cường lợi ích cho bản thân. Miệng họ luôn giao giảng lý tưởng, đạo đức cách mạng nhưng bên trong lòng họ luôn tìm cách luồn lách tham ô, tham nhũng,… tìm mọi cách che đậy khuyết điểm, nịnh trên, nạt dưới, mua chuộc lòng người, kéo bè, kết phái, tranh công, đổ lỗi… Họ không thấy hoặc cố tình không chập nhận sự thật rằng mình đã và đang suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tìm mọi cách che dấu khuyết điểm, dẫn đến ngày càng trượt dài trên con đường suy thoái. Do lo sợ bị phát hiện, xử lý mà mất quyền, mất chức, mất bổng lộc, uy tín; sợ phải chịu hình phạt của Nhà nước, Đảng, tổ chức… mà không còn đủ dũng khí để nhận trách nhiệm, thừa nhận những khuyết điểm, hạn chế của bản thân mình và tổ chức mình; thờ ơ, bàng quan.

tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng chưa kiên quyết, triệt để, còn nể nang, né tránh, “dĩ hòa vi quý”

Thực trạng đó do bệnh cá nhân chủ nghĩa, “mũ ni che tai”, ngại va chạm nên né tránh trách nhiệm, trước hết là người đứng đầu làm ngơ, bỏ qua hoặc sợ trách nhiệm, sợ mất thành tích, mất cán bộ nên đã xuê xoa, không kiên quyết, triệt để. Chính vì tự phê bình và phê bình không nghiêm dẫn đến những khuyết điểm không được khắc phục, sửa chữa, rồi lại bị dụ dỗ, lôi kéo vào những việc làm trái với quy định, lâu ngày dần dần sa vào chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Người đứng đầu có thẩm quyền và trách nhiệm cao nhất trong mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị, nên có vai trò quyết định đối với việc phòng, chống, ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên ở cơ quan đơn, vị mình. Nhưng cũng phải thẳng thắn thấy rằng, việc quy định trách nhiệm của người đứng đầu đối với vấn đề này nhìn chung chưa thật rõ, nhất là trách nhiệm khi để xảy ra các vụ việc tiêu cực, khuyết điểm trong cơ quan, đơn vị. Có những cơ quan, đơn vị khi cán bộ, đảng viên lợi dụng chức quyền để tham nhũng, làm ăn phi pháp, làm giàu bất chính, nhưng không được cấp ủy đảng, người đứng đầu kiểm tra, làm rõ và xử lý kịp thời. Bên cạnh đó, “người đứng đầu các cấp chưa có quyết tâm chính trị cao; việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, trông chờ, ỷ lại cấp trên…”.

những tồn tại, bất cập trong đời sống xã hội. Đây là nguyên nhân, vừa là hệ quả khiến nhiệm vụ đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên của Đảng gặp nhiều khó khăn, hạn chế.

Những bất cập, yếu kém trong công tác quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội; tình trạng pháp luật thiếu đồng bộ, cơ chế giám sát quyền lực chưa rõ ràng, hiệu quả; sự phân hóa xã hội trên nhiều lĩnh vực ngày càng gia tăng; những tiêu cực xã hội khiến khoảng cách lớn giữa người làm ăn chân chính, lương thiện với những người suy thoái đạo đức, làm ăn bất chính để có được của cải bất chính ngày càng gia tăng… Hiện thực đó tác động tiêu cực tới tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, kéo theo “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong những cán bộ, đảng viên thiếu lập trường, thiếu bản lĩnh và thiếu niềm tin.

Trong khi đó, “việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm còn nương nhẹ, nể nang, thiếu cương quyết. Chưa có cơ chế khen thưởng những tập thể, cá nhân tổ chức thực hiện nghị quyết sáng tạo, có hiệu quả và xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc… Chậm ban hành quy định xử lý tổ chức, cá nhân có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong một số trường hợp cụ thể còn biểu hiện bao che, dung túng, tiếp tay cho vi phạm.

Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay là nhiệm vụ chính trị cấp bách, hệ trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân phải được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và sự tham gia tích cực của toàn thể nhân dân. Trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người đứng đầu các cơ quan đơn vị phải thực sự tiền phong, gương mẫu thể hiện bản lĩnh, quyết tâm, ý thức chính trị cao để công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào chiều sâu, đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Bài đăng trên Tạp chí Tuyên giáo số 4/2018

Thượng tá, Ths. Nguyễn Văn Giới

Giáo Dục Chính Trị Tư Tưởng Cho Cán Bộ, Đảng Viên / 2023

Cùng với việc ban hành Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều văn bản quan trọng về giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên đã được Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành, như Quy định về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng; Nghị quyết về Công tác tư tưởng và lý luận trong tình hình mới; Công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030; về bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; các nghị quyết về xây dựng Đảng; Quy định về chế độ cập nhật kiến thức đối với cán bộ, đảng viên; Hướng dẫn trao đổi, đối thoại với các cá nhân có quan điểm khác với chủ trương, đường lối của Đảng; Kết luận về đổi mới và nâng cao chất lượng dạy và học các môn lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân…

Công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân được quan tâm thường xuyên, nhất là trong các cơ quan truyền thông đại chúng, trong hệ thống các trường đào tạo, các cơ quan lý luận của Đảng, Nhà nước, hệ thống giáo dục quốc dân, các đoàn thể chính trị, xã hội…

Chất lượng, hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng không ngừng được nâng lên, ý thức rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên được đặc biệt coi trọng. Việc học tập các môn lý luận chính trị về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được đưa vào giảng dạy ở tất cả các cấp học, bậc học trong hệ thống giáo dục của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị – xã hội. Các chương trình được biên soạn phù hợp với từng đối tượng, như chương trình bồi dưỡng cán bộ, đảng viên ở cơ sở thực hiện tại hơn 600 trung tâm bồi dưỡng cấp quận, huyện trong cả nước, chương trình bồi dưỡng dành cho 6 đoàn thể chính trị, xã hội. Chương trình cập nhật kiến thức cho cán bộ trung, cao cấp… Trong hệ thống giáo dục quốc dân, đây là môn thi bắt buộc trước khi kết thúc cấp học, bậc học. Đối với cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị, đây là yêu cầu cơ bản để đánh giá nhận thức khi tuyển dụng, thi nâng ngạch bậc cán bộ, công chức. Cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý đều phải thực hiện chương trình cập nhật kiến thức, cán bộ thuộc diện quy hoạch sẽ học các lớp dự nguồn ở Trung ương hoặc do địa phương tổ chức. Tất cả cán bộ, đảng viên đang công tác trong hệ thống chính trị đều phải học tập, quán triệt là yêu cầu và là một tiêu chí quan trọng để đánh giá phẩm chất, năng lực cán bộ.

Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Phuông trao giải tại Hội thi Giảng viên Lý luận chính trị giỏi toàn quốc năm 2018.

Một là, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng cũng phải kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát hợp với thực tiễn đất nước; không ngừng bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin, kiên quyết đấu tranh, phê phán giáo điều, cơ hội, xét lại; phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch.

Hai là, thực hiện nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, coi trọng xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; quan tâm đúng mức công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; nắm vững tình hình tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên, kịp thời định hướng tư tưởng, cung cấp thông tin.

Ba là, đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng, lý luận; trực tiếp là công tác giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp đối tượng. Đa dạng hóa các hình thức học tập đi đôi với tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại, đầu tư cơ sở vật chất thích hợp.

Bốn là, coi trọng ý thức tự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng đi đôi với hoàn thiện văn bản pháp luật, quy định về quản lý cán bộ, đảng viên.

Năm là, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên phải làm thường xuyên, liên tục; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của cấp ủy đảng, người đứng đầu cơ quan đơn vị và ý thức tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên.

Việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cũng là một biện pháp quan trọng trong giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên. Từ học tập chuyển sang làm theo, từ cuộc vận động chuyển sang làm thường xuyên, đi vào chiều sâu, đề cao sự nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là những người đứng đầu. Qua đó, kết hợp công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với việc đề cao tự rèn luyện, nói đi đôi với làm, “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, lấy việc giáo dục truyền thống, học tập và làm theo Bác để góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong điều kiện mới…

2. Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, sức mạnh tổng hợp, thế và lực của nước ta tăng lên rõ rệt, vị thế, uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao; uy tín của nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố. Tuy nhiên, tình hình trong nước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, những yếu kém trong quản lý kinh tế, sự phân hóa giầu nghèo, tồn tại một số điểm nóng, bức xúc xã hội, khiếu kiện về đất đai, môi trường chậm được giải quyết, tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên còn diễn biến phức tạp; sự chống phá của các thế lực thù địch, nhất là sử dụng mạng xã hội, facebook, tác động của mặt trái kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, những diễn biến phức tạp về tình hình biển Đông… đòi hỏi công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên trong điều kiện mới phải được quan tâm hơn nữa, đổi mới cả về nội dung, phương thức thực hiện. Trong thời gian tới cần tập trung một số nhiệm vụ cơ bản như sau:

Thứ nhất, các cấp ủy đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương, nhất là người đứng đầu quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, thực hiện thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị, coi đó là một tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, đảng viên. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phải nêu gương về ý thức, thái độ học tập lý luận, coi đây là công việc thường xuyên, là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong từng nhiệm kỳ đại hội Đảng, cấp ủy đảng, chính quyền phải xây dựng kế hoạch hàng năm, căn cứ theo từng đối tượng cán bộ, đảng viên để xây dựng nội dung, chương trình, loại hình tổ chức học tập phù hợp. Đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân, phát huy vai trò của tổ chức, chi bộ đảng trong giám sát, tổ chức thực hiện.

Việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cũng là một biện pháp quan trọng trong giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên

Thứ hai, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng. Đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, phù hợp với bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm công tác cán bộ của Đảng ta. Bên cạnh các định hướng nghiên cứu lớn, quan trọng đã được nêu trong Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị, khóa XII về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030, xác định những vấn đề trọng điểm cần nghiên cứu, làm rõ những nội dung căn bản, giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin, chỉ rõ những vấn đề cần bổ sung, phát triển, nhất là dưới tác động của các yếu tố thời đại như toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng công nghiệp 4.0, những vấn đề đặt ra trong thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa… Tổng kết thực tiễn những mô hình hay, kinh nghiệm tốt trong và ngoài nước.

Thứ tư, quy hoạch lại hệ thống các trường đào tạo, cơ sở nghiên cứu vừa đảm bảo tập trung, thống nhất, tránh phân tán, trùng lắp vừa tạo ra những trung tâm mạnh về từng lĩnh vực lý luận chính trị, đề cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, coi trọng đào tạo, bồi dưỡng các chuyên gia đầu đàn, tích cực mở rộng hợp tác quốc tế.

Thứ năm, phát huy vai trò của hệ thống các cơ quan báo chí, truyền thông trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Coi trọng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị cho lãnh đạo, phóng viên các cơ quan báo chí. Thí điểm một số hình thức đấu thầu, giao nhiệm vụ các cơ quan báo chí, xuất bản về một số nội dung giáo dục tư tưởng, chính trị chuyên sâu, đặc thù, hiệu quả và phù hợp, nhất là khu vực vùng sâu, vùng xa.

Coi trọng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị cho lãnh đạo, phóng viên các cơ quan báo chí. Thí điểm một số hình thức đấu thầu, giao nhiệm vụ các cơ quan báo chí, xuất bản về một số nội dung giáo dục tư tưởng, chính trị chuyên sâu, đặc thù, hiệu quả và phù hợp, nhất là khu vực vùng sâu, vùng xa.

Thứ sáu, tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch. Nâng cao tính chủ động, phát hiện, dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt là trên mạng xã hội… chủ động cung cấp thông tin, kiện toàn lực lượng, đặc biệt là các bộ phận chuyên trách không gian mạng, đảm bảo nhanh nhạy, hiệu quả. Quán triệt quan điểm xây và chống trong phê phán quan điểm sai trái, thù địch với ngăn chặn đẩy lùi “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng, chính trị và đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; tập trung xử lý những điểm nóng, những bức xúc, nổi cộm./.

Bài đăng Tạp chí Tuyên giáo in số 4/2019