Xu Hướng 2/2023 # Thực Hiện Khối Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh # Top 5 View | 2atlantic.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Thực Hiện Khối Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Thực Hiện Khối Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh được cập nhật mới nhất trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Theo Hồ Chí Minh, “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”. Đoàn kết là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Đoàn kết được hiểu là đại đoàn kết toàn dân tộc, nghĩa là tất cả các giai cấp, tầng lớp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài, những người yêu nước, kể cả những người đã “lầm đường, lạc lối” nhưng biết hối cải…Như vậy, lực lượng đại đoàn kết toàn dân tộc gồm “bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”. Để tập hợp lực lượng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không được bỏ sót bất cứ thành phần giai cấp, xã hội nào, miễn là họ có lòng yêu nước, sẵn sàng cống hiến, phục vụ quốc gia, dân tộc. “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”. Hình thức tổ chức đại đoàn kết toàn dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công – nông – trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để thực hiện đại đoàn kết dân tộc, trước hết phải tin vào dân, dựa vào dân, vì lợi ích của nhân dân để phát động các phong trào thi đua yêu nước theo yêu cầu cách mạng trong từng thời kỳ khác nhau, thời kỳ kháng chiến, hòa bình, trong sản xuất, chiến đấu, xây dựng đất nước. Sức mạnh của đại đoàn kết là ở nhân dân. Vì vậy, cần thực hiện đoàn kết lâu dài, rộng rãi, chặt chẽ, tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo. Cần phải vận động nhân dân, giác ngộ để dân tự nguyện tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hồ Chí Minh cho rằng: “đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà”.Người đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.

Đoàn kết cần trên cơ sở hiệp thương dân chủ, chân thành, thẳng thắn, nhân ái, gắn với đấu tranh, tự phê bình và phê bình, có sự nhất trí về mục đích và lập trường rõ ràng. Đoàn kết phải trên cơ sở kế thừa truyền thống yêu nước – nhân nghĩa của dân tộc. Muốn đoàn kết phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người, quy tụ mọi lực lượng. Bác Hồ cũng nhiều lần khẳng định trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng đều là đồng bào ta, ít nhiều họ đều có lòng yêu nước. Vì thế nên quy tụ mọi người bằng lòng chân thành, thương dân. Ngay cả “với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết…”

Về phương pháp phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, trước hết cần làm tốt việc tuyên truyền, vận động nhân dân về sự cần thiết phải đoàn kết để tạo nên sức mạnh. Nội dung tuyên truyền cần ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và yêu cầu của thực tiễn cách mạng. Đồng thời với việc tuyên truyền, phải chăm lo xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Hồ Chí Minh coi đoàn kết là lẽ sống, là đạo lý của Đảng. Trong Di chúc, khi nói về Đảng, Người viết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Việc giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng đã tạo nên sức mạnh to lớn, quyết định sự thành công của cách mạng. Nhờ đoàn kết chặt chẽ, vì mục tiêu chung là “phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc” nên Đảng đã lãnh đạo nhân dân làm cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cũng do đoàn kết, chúng ta đã đánh thắng thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, giành độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới thành công.

Với mỗi đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần căn dặn: đoàn kết là đức tính cơ bản của người cách mạng. Ai không có khả năng đoàn kết, tập hợp quần chúng thì không thể làm cán bộ. Năm 2020, với chuyên đề “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, một lần nữa tầm quan trọng của đại đoàn kết được khắc sâu và ghi nhớ. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức sâu sắc về đại đoàn kết, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc như chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay.

                                                                                        Tuyết Nhung – Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhân Dân Và Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc

Đối với Hồ Chí Minh, nhân dân là phạm trù cao quý nhất, một phạm trù chính trị chủ đạo trong học thuyết cách mạng của Người. “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Đó là một minh chứng điển hình về niềm tin vào sức mạnh của nhân dân. Người khẳng định, dân khí mạnh thì binh lính nào, súng ống nào cũng không địch nổi.

Người từng nói với cán bộ: “Nếu lãnh đạo khéo thì việc gì khó khăn mấy và to lớn mấy, nhân dân cũng làm được”. Đó là sự tổng kết thực tiễn cách mạng rất sâu sắc: phải không ngừng học dân. “Nhân dân ta rất cần cù, thông minh và khéo léo. Trong sản xuất và sinh hoạt, họ có rất nhiều kinh nghiệm quý báu”, do vậy cán bộ ta “cần tham gia tổng kết những kinh nghiệm quý báu ấy”.

Ngày 10-1-1946, tại cuộc họp đầu tiên của ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh đã nói: “Chúng ta đã hy sinh phấn đấu để giành độc lập. Chúng ta đã tranh được rồi… Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”.

Là công bộc, là đày tớ của dân, thì Đảng, Chính phủ và mỗi cán bộ phải chăm lo cho đời sống của nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Người nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là:

“1. Làm cho dân có ăn.

2. Làm cho dân có mặc.

3. Làm cho dân có chỗ ở.

4. Làm cho dân có học hành”.

3. Về đại đoàn kết toàn dân tộc

Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khái quát luận điểm có tính chân lý về vai trò của khối đại đoàn kết, đó là: Đoàn kết làm ra sức mạnh; “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”; “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”…

Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài… Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

Trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân để giải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp – dân tộc. Để tập hợp lực lượng, không được phép bỏ sót một lực lượng nào, miễn là lực lượng đó có lòng trung thành và sẵn sàng phục vụ Tổ quốc, không là Việt gian, không phản bội lại quyền lợi của dân chúng là được.

Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải kế thừa truyền thống yêu nước – nhân nghĩa – đoàn kết của dân tộc.

Để thực hành đoàn kết rộng rãi, cần có niềm tin vào nhân dân, với đại đa số” là công nhân, nông dân. Trong bài Nói chuyện tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên – Việt toàn quốc, tháng 1-1955, Người chỉ rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số” nhân dân, mà đại đa số” nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”.

Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người, trân trọng “phần thiện”, dù nhỏ nhất ở mỗi con người để lôi kéo, tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng. Người viết: “Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”. “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”.

Nguồn: Sách Những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Chuyên Đề 4 Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Sức Mạnh Của Nhân Dân, Của Khối Đại Đoàn Kết Dân Tộc

I. Cơ sở của tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc.

1. Quan niệm của Hồ Chí minh về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc. – Nhân dân là nguồn gốc của mọi sức mạnh.

+ Hồ Chí Minh khẳng định: “…Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”.

+ Đầu thế kỷ XX, nước ta đang dưới chế độ tàn bạo của thực dân Pháp, “hơn hai mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa”, Hồ Chí Minh chỉ ra: cách mệnh thì sống, không cách mệnh thì chết…; “cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”.

– Tập hợp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là nguyên nhân chính của mọi thắng lợi của cách mạng.

+ Khi nói về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh nói: “Nhất là vì lực lượng của cuộc toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo lá cờ Việt Minh để tranh lại quyền độc lập cho Tổ quốc.

Lực lượng toàn dâ là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó”.

+ Khi nói về công việc “Kháng chiến kiến quốc”, Người hỏi: Ai thực hiện “Kháng chiến kiến quốc”? Và trả lời: “Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân”.

– Sức mạnh của dâ tộc được tập hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất.

+ Về nguyên nhân thắng lợi của kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh viết: “Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc”.

+ Năm 1955, Người viết: “…. với sự đoàn kết nhất trí của tất cả những người xứng đáng là con Lạc cháu Hồng – Mặt trận nhất định sẽ thành công trong việc đánh tan âm mưu của Mỹ và bè lũ tay sai của chúng và thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”.

– Trong thời đại mới, Hồ Chí Minh đặt sự đoàn kết toàn dân tộc trong mối quan hệ với đoàn kết quốc tế.

Người đã đưa ra câu nói nổi tiếng:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,

Thành công, thành công, đại thành công”

Ba từ “đoàn kết” đó là sự thể hiện: đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong dân, đoàn kết quốc tế.

2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc. – Truyền thống dân tộc.

+ Chủ nghĩa yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc của dân tộc Việt Nam đã được hình thành và củng cố qua hàng ngàn năm lịch sử…, tạo thành một truyền thống bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn mỗi con người Việt Nam.

+ Truyền thống đó đã trở thành tình cảm tự nhiên, là triết lý nhân sinh, phép ứng xử và tư duy chính trị, cấu trúc xã hội: nhà – làng – nước, thành phép đánh giặc giữ nước: “trên dưới đồng lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”, “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”.

– Từ tổng kết những kinh nghiệm của phong trào cách mạng Việt Nam. – Nghiên cứu thực tiễn và kinh nghiệm của cách mạng thế giới.

+ Hồ Chí Minh nghiên cứu cách mạng tư sản, đặc biệt cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp; do tính chất không triệt để của nó mà gười cho rằng đó là các cuộc cách mạng “không đến nơi”.

+ Nghiên cứu thực tiễn đấu tranh của các dân tộc thuộc địa cho tới lúc đó, Người thấy rõ sức mạnh tiềm ẩn to lớn ở họ, và cả những hạn chế ở họ: chưa có sự lãnh đạo đúng đắn, chưa biết đoàn kết, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức.

+ Nghiên cứu Cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh rút ra nhiều bài học, đặc biệt là bài học về huy động, tập hợp lực lượng công nông giành và giữ chính quyền cách mạng…, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

+ Hồ Chí Minh cũng chú ý nghiên cứu cách mạng Trung Quốc, Ấn Độ, tìm hiểu con đường giải phóng dân tộc của Tôn Dật Tiên, Găngđi…

– Chủ nghĩa Mác – Lênin.

+ Hồ Chí Minh tiếp thu những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử; giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng thắng lợi trước hết phải trở thành dân tộc; liên minh công nông là cơ sở to lớn để xây dựng lực lượng cách mạng; đoàn kết dân tộc phải gắn với đoàn kết quốc tế….

+ Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin từ yêu cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, chủ yếu qua hoạt động cách mạng thực tiễn. Nhờ vậy, Người đã nắm được linh hồn của chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam và trong thời đại mới để hình thành và hoàn chỉnh tư tưởng của Người về sức mạnh của quần chúng nhân dân và đại đoàn kết dân tộc.

II. Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc.

1. Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thành công.

Trong tác phẩm của mình, Hồ Chí Minh có tới trên 405 bài nói và viết về đoàn kết, nổi bật là:

– Đoàn kết làm ra sức mạnh, “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”.

– “Đoàn kết” là điểm mẹ. “Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”.

– “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,

– Thành công, thành công, đại thành công”.

Đặt trong một nước thuộc địa, nghèo nàn, lạc hậu, tư tưởng đoàn kết làm nên sức mạnh của Người có ý nghĩa chiến lược, không chỉ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc mà cả trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

2. Đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng.

– Đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Ngày 3-3-1951, trong lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam, Hồ Chí Minh thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là:

“ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC” .

– Đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của mọi giai đoạn cách mạng.

Ngày 31-8-1963, nói chuyện với cán bộ tuyên huấn miền núi về cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh chỉ rõ:

“Trước cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến, thì nhiệm vụ tuyên huấn là làm sao cho đồng bào các dân tộc hiểu được mấy việc. Một là đoàn kết. Hai là làm cách mạng hay kháng chiến để đòi độc lập. Chỉ đơn giản thế thôi. Bây giờ mục đích tuyên truyền huấn luyện là: “Một là đoàn kết. Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội.Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà”.

– Đại đoàn kết dân tộc còn là mục tiêu, mục đích nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc.

Như vậy đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh tự giải phóng, là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức, thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân.

3. Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.

– Khái niệm dân, nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh có nội hàm rất rộng, vừa là một tập hợp đông đảo quần chúng, vừa là mỗi con người Việt Nam cụ thể, cả hai đều là chủ thể của đại đoàn kết dân tộc. Đó là “Mọi con dân nước Việt”, “Mỗi một con Rồng cháu Tiên”, không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, “già, trẻ gái trai, giàu nghèo, quý tiện”.

– Đại đoàn kết dân tộc là tập hợp được mọi người dân vào cuộc đấu tranh chung.

– Muốn đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thống yêu nước – nhân nghĩa – đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, đại độ với con người.

Hồ Chí Minh tha thiết kêu gọi tất cả những người thật thà yêu nước, không phân biệt tầng lớp nào, tín ngưỡng nào; chúng ta hãy thật thà cộng tác vì dân vì nước. Người căn dặn: Cần xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ để phục vụ nhân dân.

– Đại đoàn kết dân tộc dựa trên nền tảng của khối liên minh công nông.

Hồ Chí Minh viết: “Lực lượng chủ yếu trong khối đoàn kết dân tộc là công nông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của mặt trận dân tộc thống nhất”. Sau này Hồ Chí Minh nêu rõ, nền tảng đại đoàn kết dân tộc là liên minh công – nông – lao động trí óc.

4. Đại đoàn kết dân tộc trong Mặt trận dân tộc thống nhất.

– Ngay từ đầu Hồ Chí Minh tập hợp mọi người vào các hội, nghiệp đoàn. Người sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Đông Dương, quy tụ người Việt Nam yêu nước cả trong và ngoài nước.

– Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng theo những nguyên tắc:

+ Trên nền tảng liên minh công nông (sau thêm lao động trí óc) dưới sự lãnh đạo của Đảng.

+ Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và không ngừng mở rộng.

+ Đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thật sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

– Phương châm đoàn kết các giai cấp, tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh là “cầu đồng tồn dị”.

Năm 1962, tại lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác Mặt trận, Người nói: “Chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân… Phải đoàn kết tốt các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ trong mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thực hiện hợp tác lâu dài, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tiến bộ. Phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau xây dựng Tổ quốc… Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc”.

– Tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh là đoàn kết phải bao gồm đấu tranh, đấu tranh để đoàn kết tốt hơn.

Trong quá trình xây dựng, củng cố và phát triển Mặt trận dân tộc thống nhất, Đảng ta luôn luôn đấu tranh trên hai mặt trận chống khuynh hướng cô độc, hẹp hòi, coi nhẹ việc tranh thủ tất cả những lực lượng có thể tranh thủ được; đồng thời chống khuynh hướng đoàn kết một chiều đoàn kết mà không có đấu tranh đúng mức trong nội bộ Mặt trận.

5. Đảng cộng sản vừa là thành viên của Mặt trận dân tộc thống nhất, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc.

– Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là của giai cấp công nhân, vừa là của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Vì vậy, “đại đoàn kết dân tộc… thành vấ đề máu thịt của Đảng”.

– Muốn quy tụ được cả dân tộc, Đảng Cộng Sản Việt Nam phải: “Vừa là đạo đức, vừa là văn minh”; “Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại”; “Đảng phải thực sự đoàn kết nhất trí”; “được nhân dân thừa nhận”.

– Đảng lãnh đạo Mặt trận, trước hết bằng việc xác định chính sách mặt trận đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn, thời kỳ cách mạng.

– Đảng lãnh đạo Mặt trận – thực hiện theo nguyên tắc Mặt trận: hiệp thương dân chủ, phải dùng phương pháp vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương, lấy lòng chân thành để đối xử, cảm hóa, khơi gợi tinh thần tự giác, tự nguyện.…

6. Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế.

– Hồ Chí Minh khẳng định: yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân.

– Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới”, “Cách mạng Việt Nam chỉ giành được thắng lợi khi đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới”. Người là hình mẫu của những hoạt động không mệt mỏi vì sự đoàn kết giai cấp công nhân, Đảng cộng sản và các dân tộc trên thế giới.

Nêu cao tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh không những được cả nước tôn vinh là lãnh tụ vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam mà còn được thừa nhận là chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cách mạng thế giới, danh nhân văn hóa nhân loại.

Tư Tưởng Về Đại Đoàn Kết Dân Tộc

a) Về vị trí, vai trò của đại đoàn kết dân tộc

– Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của cách mạng:

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là tư tưởng cơ bản nhất quán và xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Đó là chiến lược tập hợp mọi lực lượng nhằm hình thành sức mạnh to lớn trong đấu tranh cách mạng để giành thắng lợi:

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công.

Đại đoàn kết dân tộc không phải là sách lược cách mạng, thủ đoạn chính trị mà là chiến lược cách mạng.

– Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng:

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường

lối, chủ trương, chính sách của Đảng, lực lượng lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, đại đoàn kết dân tộc là mục đích hàng đầu. Đại đoàn kết dân tộc là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng, là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng, chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành đòi hỏi tự giác, thành sức mạnh vô địch trong đấu tranh cách mạng.

b) Về nội dung, hình thức xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc

– Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân:

Hồ Chí Minh coi đại đoàn kết dân tộc là phải tập hợp được mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung. Do đó, ai có tài, có đức, hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, nhân dân thì ta đoàn kết với họ.

Muốn thực hiện được đại đoàn kết toàn dân, phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng với con người. Đoàn kết với tất cả những người yêu nước, không phân biệt tầng lớp, thành phần dân tộc, tín ngưỡng, chính kiến….

Muốn xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc rộng lớn đó thì phải xác định rõ nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc và những lực lượng nào tạo nên nền tảng đó. Nền tảng càng được củng cổ vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng có thể mở rộng. Đại đoàn kết là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân mà đại đa số nhân dân nước ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết.

Liên minh công nông và lao động trí óc là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc. Nền tảng càng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng có thể mở rộng.

– Mặt trận dân tộc thống nhất là hình thức tập hợp, xây dựng, tổ chức quần chúng:

Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức. Tổ chức thể hiện khối đoàn kết dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất. Mặt trận dân tộc thống nhất là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, mọi người dân Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài. Mặt trận dân tộc thống nhất phải có cương lĩnh, điều lệ phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng.

Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng theo những nguyên tắc: Mặt trận được xây dựng trên nền tảng liên minh công – nông – lao động trí óc; theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và mở rộng; đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, thật sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái vì nước, vì dân.

Cập nhật thông tin chi tiết về Thực Hiện Khối Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!