Xu Hướng 3/2024 # Thế Nào Là Một “Bài Báo Khoa Học”? # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Thế Nào Là Một “Bài Báo Khoa Học”? được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thế nào là một “bài báo khoa học”?

Nói một cách ngắn gọn, bài báo khoa học (tiếng Anh: “scientific paper” hay có khi viết ngắn là paper) là một bài báo có nội dung khoa học được công bố trên một tập san khoa học (scientific journal) đã qua hệ thống bình duyệt (peer-review) của tập san. Ở đây có ba vế của định nghĩa mà bài này sẽ lần lược bàn đến: nội dung bài báo, tập san, và cơ chế bình duyệt.  

Cơ chế bình duyệt

Sau khi tác giả gửi bản thảo của bài báo đến một tập san chuyên môn, tổng biên tập hay phó tổng biên tập sẽ xem qua bài báo và quyết định bài báo có xứng đáng được gửi ra ngoài để bình duyệt hay không. Nếu không xứng đáng, tổng biên tập sẽ báo ngay (trong vòng 1 tháng) cho tác giả biết là bài báo không được bình duyệt. Nếu thấy bài báo có giá trị và cần được bình duyệt, tổng biên tập sẽ gửi bản thảo cho 3 (hoặc có khi 4) người bình duyệt. 

Ý nghĩa xã hội của bài báo khoa họcĐọc đến đây, tôi hi vọng bạn đọc đã hiểu được thế nào là một bài báo khoa học. Xin nhắc lại để nhấn mạnh: một bài báo chỉ khi nào được xem là “bài báo khoa học” nếu nó đã qua cơ chế bình duyệt và được công bố trên một tập san chuyên môn. Những bài báo xuất hiện dưới dạng “abstracts” hay thậm chí “proceedings” không thể xem là những bài báo khoa học bởi vì nó không đáp ứng được hai yêu cầu trên. Thế nhưng trong thực tế đã có rất nhiều nhà khoa học, kể cả ở trong nước, có lẽ do hiểu lầm đã liệt kê những “abstracts” và “proceedings” như là những bài báo khoa học trong lí lịch khoa học của họ! Đối với nhiều người không am hiểu hoạt động khoa học thì những ngộ nhận này chẳng ảnh hưởng gì to lớn, nhưng đối với giới làm nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh, một lí lịch khoa học với toàn những “bài báo khoa học” như thế cho biết nhiều về tác giả hơn là khả năng nghiên cứu khoa học của tác giả.

Trên bình diện quốc gia, công bố báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một cách không chỉ nâng cao sự hiện diện, mà còn nâng cao năng suất khoa học, của nước nhà. Ở phương Tây người ta thường đếm số lượng bài báo khoa học mà các nhà khoa học công bố trên các tập chí khoa học để đo lường và so sánh hiệu suất khoa học giữa các quốc gia. Hiện nay, trong bất cứ lĩnh vực nào, phải nhìn nhận một thực tế là hiệu suất khoa của nước ta chưa cao. Phần lớn các công trình nghiên cứu tại nước ta chỉ được kết thúc bằng những buổi nghiệm thu hay luận án. Đối với hoạt động khoa học, cho dù công trình đã được nghiệm thu hay đưa vào luận án tiến sĩ hay thạc sĩ, nếu chưa được công bố trên các diễn đàn khoa học quốc tế thì công trình đó coi như chưa hoàn tất, bởi vì nó chưa qua “thử lửa” với môi trường rộng lớn hơn. 

Nguồn: Tia sáng, số 17, 5/12/2007

Thế Nào Là Một Fanpage Chất?

1.Like không phải là yếu tố tiên quyết một Fanpage chất.

Like đến từ đâu?

Like đó có phù hợp với cộng đồng bạn muốn xây dựng?

Người ta có phải khách hàng mục tiêu của bạn?

Bạn có biết họ like vì họ thích Fanpage đó hay vì ứng dụng, vì nút like ẩn?

Fanpage chất khi lượng like chất?

Fanpage chất lượng là Fanpage có nhiều likes, nguồn likes chất lượng.

Fans (người bấm likes) là những khách hàng mục tiêu.

Việc bấm likes là hoàn toàn chủ động vì “thích” thật sự. Chứ không phải bị ép buộc hoặc bị dùng các xảo thuật tăng likes.

Fanpage chất có số lượng tiếp cận tự nhiên tốt. Các bài viết được đăng đều đặn và lượt tương tác trên từng bài viết là lớn và thường xuyên.

Uy tín của Fanpage gắn liền với uy tín và thương hiệu của sản phẩm dịch vụ mà người bán hàng bán.

Có nhiều đánh giá (review) của người mua hàng hoặc người dùng Facebook khác về Fanpage là tốt (điểm 4 sao, 5 sao)…

Thông tin liên hệ như: Số điện thoại, website, địa chỉ cửa hàng, tốc độ trả lời tin nhắn và mức độ hài lòng của khách hàng tốt.

Đó mới là các tiêu chí mà một Fanpage chất thực sự cần hướng tới. Hãy “có tâm” khi tăng like cho Fanpage của mình. Chứ không phải là “hì hục” kéo like ảo cao ngất trời mà tương tác gần như bằng 0.

2.Bạn đã từng để ý về tiếp cận tự nhiên trên Fanpage?

Facebook định nghĩa rằng: Lifetime Post Total Reach là “Lifetime The number of people who saw your Page post”. Tức là “Tổng số người nhìn thấy bài đăng của fanpage bạn “.

Công thức tính tiếp cận trên Fanpage: Tổng số tiếp cận= Tiếp cận tự nhiên+ Tiếp cận lan tỏa+ Tiếp cận trả phí.

Tiếp cận là gì (Facebook Reach): Facebook đưa ra khái niệm tiếp cận với hàm ý là: Thông tin mà bạn hoặc một tài khoản nào đó đăng tải đã đến được với bao nhiêu tài khoản khác. Tiếp cận bao gồm: Tiếp cận tự nhiên, tiếp cận lan truyền (được đề xuất) và tiếp cận trả phí. Cụ thể:

Tiếp cận tự nhiên (Organic Reach ):

Tổng số người nhìn thấy bài viết của Fanpage trên bảng tin gồm: Fan, người follow list có Fanpage bạn. Hoặc người vào Fanpage và thấy bài viết.

Nhưng hiện nay trên thực tế lượt tiếp cận tự nhiên giảm thê thảm. Những Fanpage chất cũng chỉ có thể đạt 10% tương tác tự nhiên. Còn không thì chỉ được vài phần trăm thôi, khá thấp.

Tại sao lượt tiếp cận tự nhiên Fanpage giảm thê thảm như vậy?

Số lượng người dùng Facebook trên toàn cầu tăng nhanh. Số lượng người dùng ở Việt Nam cũng vậy, đã tăng lên hơn 52 triệu (dễ dàng cán mốc 55 triệu người dùng vào cuối năm 2024).

Lượng bạn bè và người theo dõi trên mỗi tài khoản Facebook Profile đã tăng từ vài trăm bạn lên tới 5.000 bạn. Và hàng nghìn, chục nghìn, trăm nghìn lượt theo dõi trên các tài khoản Facebook Profile không phải là hiếm.

Với số lượng người dùng lớn, bạn bè và lượt theo dõi của mỗi tài khoản lại rất nhiều. Nên “bảng tin” trên Facebook tràn ngập các tin tức của bạn bè. Nó dường như đã không còn chỗ cho các tin tức mới cập nhật của Fanpage;.

Mỗi người dùng cũng tăng tỷ lệ đăng bài và tần suất đăng bài. Biến mỗi tài khoản Facebook trở thành một tờ báo cá nhân với tốc độ sản xuất bài viết nhanh và nhiều khủng khiếp. Có khi chỉ là một status “Tôi buồn vì không hiểu vì sao tôi buồn!!!”

Tương tác giữa người dùng Facebook Profile với một Fanpage nào đó thường có xu hướng kém tương tác hơn nhiều so với các tài khoản người dùng Facebook Profile thông thường. Tính năng này cũng một phần do việc Facebook luôn muốn các tài khoản (hay người dùng) năng tương tác qua lại lẫn nhau. Các bạn có thể dễ dàng kiểm chứng, nếu bạn tương tác với người A, người B, người C. Thì ngay sau đó bạn sẽ nhìn thấy thông báo hoặc tin tức mới của người A, người B, người C. Còn những người ít tương tác hoặc không tương tác thì sẽ không nhìn thấy. Mặc dù là họ cũng vẫn đăng bài và vẫn là bạn bè với bạn. Vì sao lại như vậy? Vì giới hạn độ dài của Bảng tin Facebook. Bạn không thể kéo xuống mãi, xuống mãi để cập nhật hết status của 100.000 người theo dõi bạn. Hay là của 5.000 người mà bạn đã kết bạn được.

Được đề xuất (Viral Reach):

Muốn tăng Được đề xuất bạn chỉ cần chăm chỉ chia sẻ, đăng nội dung có thể tạo ra hành động. Đơn giản nhất là dùng một Fanpage chia sẻ hay đưa nội dung vào 100 group thì bạn đã làm xong nhiệm vụ ấy. Hãy lên kế hoạch làm nội dung cho Fanpage hiệu quả cho riêng mình.

Tiếp cận trả phí (Paid Reach):

Tiếp cận ở đây tức là một thông tin đã được đẩy đến một hay nhiều tài khoản người dùng khác nhau. Tiếp cận (reach) không đồng nghĩa với xem (watch) vì có nhiều tài khoản Facebook được tiếp cận. Nhưng không hề xem ví dụ như họ để máy tính đó rồi đi ra ngoài.

3.Đăng gì để tiếp cận tự nhiên cao?

Bạn thử search trên google mà xem. Có rất rất nhiều bài tôi đã đọc có ý kiến như thế này: Reach text cao hơn reach ảnh. Reach ảnh cao hơn reach link. Đây là suy nghĩ của một blogger chia sẻ trên “mashable.com”. Và nó đã được khá nhiều người làm social tại Việt Nam chia sẻ lại.

Tuy nhiên, ở vài Fanpage khác kết quả lại y như điều nhiều người chia sẻ trên kia: Reach ảnh cao hơn reach link. Sau quá trình tìm tòi, tôi phát hiện ra một điều thú vị mà thật ra ta có thể đoán được nếu biết tư duy rộng ra: Reach không phụ thuộc vào dạng thức bạn đăng. Mà nó phụ thuộc vào hành vi người dùng tạo ra cho nó.

Một người lướt Facebook luôn có xu hướng xem status (dòng trạng thái). Vì họ không cho đó là spam (vi phạm), nhất là status hay. Nếu status chỉ có hai dòng thì lượng reach sẽ cực cao. Vì hầu hết chỉ cần lướt qua là đọc xong chúng. Bạn có thể tham khảo bí kíp tạo nội dung hấp dẫn trên Fanpage để có thêm nhiều ý tưởng.

Thế Nào Là Một Tình Yêu Đẹp?

Tình yêu vốn là địa đàng của hạnh phúc. Nhiều khi chúng ta không biết cách yêu khiến cho tình yêu của mình chỉ toàn đau khổ. Chúng ta luôn thắc mắc một điều: Thế nào là tình yêu đẹp? Ít ai biết rằng tình yêu đẹp đến từ những thứ đơn giản vô cùng.

1. Tình yêu đẹp là khi yêu chúng ta được tôn trọng

Sẽ thật đáng tiếc nếu yêu một ai đó bạn đánh mất đi chính bản thân mình để có thể làm đẹp lòng đối phương. Một tình yêu mà trong đó bạn không được sống với giá trị vốn có của mình thì tình yêu đó khó có thể bền lâu. Nếu trong tình yêu chúng ta đều được hưởng quyền lợi và nghĩa vụ như nhau bạn sẽ thấy mình cần yêu và được yêu như thế nào.

2. Tình yêu đẹp là khi yêu chúng ta không toan tính

Yêu một chàng trai hay một cô gái có điều kiện kinh tế tốt, công ăn việc làm ổn định, nhà lầu, xe hơi không phải là điều xấu. Tuy nhiên, nếu bạn yêu bởi được đối phương hấp dẫn từ những điểm này hoặc vì những điều kiện này mới dẫn đến tình yêu thì khi mọi tiền tài danh vọng hết đi bạn có thể tiếp tục yêu một ai đó không?

3. Tình yêu đẹp có đủ cung bậc cảm xúc khác nhau

Đừng nghĩ yêu là phải luôn ngọt ngào. Có tranh cãi bạn mới có thể hiểu nhau và đem đến những điều tốt đẹp cho nhau. Có ghen tuông bạn mới biết cách giữ chân nhau lại. Và có nhớ thương khi xa cách bạn mới có thể hiểu được giá trị của tình yêu khi gần bên nhau. Khi đi qua tất cả các cung bậc yêu thương, giận hờn, đau khổ bạn sẽ cảm nhận được thế nào là ngọt ngào và đắng cay. Từng khoảnh khắc của tình yêu sẽ trở thành điều đáng nhớ trong cuộc đời. Nếu tình yêu không qua giông tố đó chỉ là một tình yêu giả tạo. Nếu tình yêu mà toàn đau khổ thì khởi điểm họ đến với nhau chỉ là sự gò ép.

4. Tình yêu đẹp là phải có niềm tin

Trong bất kỳ mối quan hệ nào, niềm tin cũng là cơ sở để xây dựng sự bền vững. Với tình yêu thì điều đó càng cần thiết. Bạn sẽ không thể chịu đựng được một người yêu thường xuyên tra hỏi mình đi đâu, làm gì, với ai? Bạn sẽ chẳng thể kiên nhẫn với những ghen tuông vô cớ. Một tình yêu như vậy chỉ khiến những người trong cuộc cảm thấy ngột ngạt và bất lực. Tâm lý lo sợ mất đi người mình yêu luôn hiện hữu trong bất kỳ ai. Tuy nhiên, nếu vì lý do này mà mà bạn không còn niềm tin đối với người mình yêu thì sẽ khiến cho mối tình của mình nhanh chóng chấm hết. Chỉ có niềm tin mới giúp bạn kiên nhẫn để nhìn nhận vấn đề, đi qua khó khăn và biết đâu, niềm tin mới đủ sức mạnh để bạn thứ tha và chờ đợi.

5. Tình yêu đẹp là khi đôi bên cùng chung thủy 6. Tình yêu đẹp là tình yêu có “độ bay”

Thế nào là độ bay? Đó chính là sự lãng mạn. Chỉ cần một bông hoa, một lời khen, một buổi đi chơi hay một bất ngờ nho nhỏ nào đó bạn sẽ khiến đối phương hạnh phúc vô cùng. Chúng ta luôn tự hỏi làm sao để có thể hâm nóng tình yêu? Xin thưa rằng hãy luôn giữ những điều lãng mạn cần thiết để biến tình yêu thành thiên đường của hạnh phúc. Bạn chỉ có thể thăng hoa và sáng tạo khi xúc cảm có độ bay. Với tình yêu cũng vậy, không có chút bay bay, lãng mạn tình yêu sẽ bị bóp nghẹt trong đời thường chán ngắt. Chắc chắn sẽ không ai nói đó là một tình yêu đẹp phải không?

Góc chia sẻ: Trang trí cho căn phòng làm việc không chỉ giúp bạn làm mới không gian mà còn đem lại cho người ngồi nguồn năng lượng mới cảm giác thoải mái, hứng thú giúp họ làm việc hiệu quả hơn. Mời bạn đọc tham khảo những mẫu tủ văn phòng thương hiệu 190 đang bán chạy nhất hiện nay.

7. Tình yêu đẹp là luôn biết lắng nghe và chia sẻ

Vì sao bạn cần có một người để yêu? Bởi thế giới một mình cô đơn quá. Mọi vui buồn trong cuộc sống bạn không biết chia sẻ cùng ai. Bởi vậy bạn tìm đến tình yêu. Ai khi yêu cũng có chung tâm lý như thế này. Bạn đừng tước đi của người khác quyền được chia sẻ và quyền được lắng nghe. Sẽ thật thất vọng nếu như yêu ai đó rồi mà bạn cứ phải ôm trong lòng mình một mớ những tâm sự. Thật đáng buồn khi trong tình yêu bạn luôn phải là người lắng nghe. Và nản hơn chính là bạn yêu phải một người không thích “chuyện trò, tâm sự”. Khi đó, mỗi người ở một thế giới khác nhau và chúng ta chẳng thể hiểu đối phương đang cần gì và muốn gì? Bởi vậy lắng nghe và chia sẻ quan trọng vô cùng.

Thế Nào Là Một Cuốn Sách Hay?

Thế nào là một cuốn sách hay?

03/12/2024 bởi Thành

Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta trao đổi hay giới thiệu với nhau rằng cuốn sách này hay, cuốn sách kia không hay, cuốn sách này đáng đọc, thậm chí cần phải đọc một lần trong đời, cuốn sách kia nếu bận quá thì không đọc cũng được. Vậy tiêu chí nào để phân loại sách là hay hay không hay? Là nội dung hay văn phong của tác giả? Là kiến thức hay sự hài hước của người viết? Theo tôi, bốn tiêu chí sau đây đánh giá một cuốn sách là hay hay không hay:

1. Nội dung sách thuộc lĩnh vực quan tâm Nếu tìm được một cuốn sách nằm trong lĩnh vực mà mình quan tâm, thì thường ta sẽ đọc xong rất nhanh. Tôi quan tâm đến văn hóa phương Đông, lịch sử Việt Nam, chiến tranh Việt Nam, vật lý lý thuyết, triết lý nhân sinh…, nên tôi điểm lại thấy mình đọc nhiều sách về các lĩnh vực này. Khi có sách về các đề tài này, tôi thường đọc chúng rất nhanh, nhẹ nhàng hơn cách lĩnh vực khác. Cầm trong tay cuốn sách mình không thích, dù biết là cần phải đọc, cảm giác đó thật nặng nề.

2. Yêu thích văn phong của tác giả

3. Cung cấp kiến thức giá trị Sách khác truyện ở chỗ phi hư cấu, tức là nó phải cung cấp cho người đọc một kiến thức gì đó về khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội, về toán học hay vũ trụ, về chính trị hay kinh tế, về hải dương hay thiên văn học, về văn hóa hay tôn giáo. Các bạn lưu ý phân biệt giữa sách và truyện. Sách là phi hư cấu, là kiến thức như bên trên vừa nói, còn truyện là hư cấu, phần lớn là không có thật. Truyện có nhân vật, cốt truyện, các đoạn hội thoại và quan trọng nhất là mâu thuẫn. Mâu thuẫn mới sinh ra đấu tranh, đối kháng với nhau. Hồi tuổi hai mươi tôi mới hay đọc truyện, còn giờ có truyền hình trả tiền nên tôi xem phim cho tiện.

4. Thay đối thế giới quan người đọc Thay đối thế giới quan là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá một cuốn sách hay. Một cuốn sách hay không chỉ cung cấp kiến thức, mà nó còn thay đổi thế giới quan của người đọc. Tất nhiên, thay đổi trong lĩnh vực nội dung cuốn sách và thay đổi theo hướng tích cực, giúp người đọc mở rộng tầm hiểu biết, từ đó mà tiến bộ hơn, thậm chí cùng với việc đào sâu suy nghĩ người đọc có được tiến bộ vượt bậc về nhận thức. Ai trong chúng ta cũng có một vài cuốn sách ghi dấu ấn trong cuộc đời mình, đó là những cuốn sách sau khi đọc xong ta thay đổi thế giới quan. Đọc sách hay như là tiếp chuyện với người thông thái. Người đó giải thích cho ta các vấn đề trong sách một cách tường minh, khiến cho ta hiểu một cách sâu sắc.

Lời kết Xã hội bây giờ đã rất phát triển, mọi thứ đã dễ dàng và tiện lợi hơn rất nhiều, trong đó có việc xuất bản sách. Sách hiện nay trên thế giới và ở nước ta xuất bản rất nhiều, không ai có đủ thời gian mà đọc được tất cả chúng. Tất nhiên, không phải tất cả chúng đều là sách hay. Kết quả của việc đọc một cuốn sách hay là ta thay đối thế giới quan của mình về cuộc sống, trong lĩnh vực nội dung của sách. Thay đổi thế giới quan là thay đổi cách ta tiếp nhận và phản ứng với cuộc sống, thay đổi cách sống. Thay đối cách sống sẽ thay đổi được số phận.

Tuy vậy, tri thức phát triển vào bên trong. Ta thay đối, tiến bộ bên trong mình thì chỉ chúng ta biết, chứ xã hội bên ngoài họ không biết. Ta phải rất lưu ý điều này, để tránh sinh ra kiêu căng hay ngộ nhận. Chỉ những cuốn sách hướng dẫn kiếm tiền, làm chủ một kĩ năng hay bổ sung loại kiến thức nào đó áp dụng được ngay, thì mới cho ra những kết quả trực quan mà xã hội có thể nhìn thấy ngay được. Khi đó, tất nhiên xã hội sẽ ghi nhận và đánh giá con người ta. Tuy nhiên, những cuốn sách đó lại không được xếp vào hàng sách để đời hay bất hủ.

Vì sao? Đơn giản thôi, thành công trên đời này phải là một sự nghiệp lớn. Mà sự nghiệp lớn thì cần sự nỗ lực trong thời gian dài, thậm chí là cả đời mới đạt được. Chủ thể của những sự thành công đó cần phải tập trung thời gian và tâm trí một cách bền bỉ vào mục tiêu của mình, thì mới có được các thành quả. Rồi tập hợp các thành quả mới tạo thành được sự nghiệp. Chứ ai đó chỉ cần đọc xong một cuốn sách là có thể thành công, thì thành công đó là thứ thành công gì? Thứ thành công mà nhiều người có thể đạt được, thì chỉ là thứ thành công bình thường, không phải là thứ thành công hiếm có.

Thế Nào Là Một Bài Dân Ca?

Dân ca là những bài hát được truyền khẩu trong dân gian Ngày nay người ta tìm cách ký âm lại các bài dân ca bằng những phương pháp ký âm hiện đại. Tài liệu cổ nhất bàn về phương pháp ký âm dân ca cổ truyền mà chúng tôi biết được là “Sách dạy hát tiếng Nam” của các tác giả Nguyễn Trung Phán, Nguyễn Trung Nghệ. Nhưng trước kia, dân ca chỉ được truyền bá bằng cách truyền khẩu cũng như các bài dân nhạc được truyền bằng cách truyền ngón.

Các bài dân ca được sáng tác theo kiểu “tức cảnh sinh tình”. Nếu người nghe thấy hay, thấy hợp với mình thì nhớ và truyền lại cho kẻ khác như trao tặng nhau một niềm vui, chia sẻ với nhau một nỗi buồn. Cứ thế, bài dân ca lan toả đi khắp nơi. Và chẳng ai nghĩ đến việc ghi chép lại cả. Nếu bài dân ca nào xuất sắc, có thể nó được ghi lại trong sách vở nhưng chỉ có lời ca, chứ giai điệu âm nhạc thì hoàn toàn không. Mà những bài hát được ghi lại trong sử sách thì đa phần là các bài thuộc loại lễ nhạc, miếu nhạc, tôn giáo ca chứ không có những bài ca về những hoạt động của đời thường.

Dân ca là những bài hát không có tác giả rõ ràng Qua việc truyền khẩu, truyền ngón các bài dân ca, dân nhạc, mỗi người diễn xướng có quyền ứng tác tự do, góp phần sáng tạo của mình vào tác phẩm trong quá trình biểu diễn. Cho nên, họ gần như là “đồng tác giả” với người sáng tác ban đầu. Mà người sáng tác ban đầu là ai cũng khó rõ. Một bài dân ca thường tồn tại với một bản coi như gốc, gọi là lòng bản và nhiều bản được ứng tấu thêm hay sửa đổi, gọi là dị bản.

Đối với một bài dân ca không bao giờ thấy ghi tên người viết nhạc, đặt lời, ngày sáng tác, năm xuất bản. Lịch sử có nhắc tới một vài bài dân ca có nguồn gốc, có tác giả, nhưng vẫn không chính xác. Đó là trường hợp của bài Long ngâm. Năm 1310, vua Trần Nhân Tông băng hà. Dân chúng kéo đến coi đông nghẹt trước cửa đền, không sao mang linh cữu của vua ra được. Người ta phải tập hợp binh sĩ lại ở sân Thiên Trì gần đó, hát lên bài Long ngâm của Trịnh Trọng Tử đặt theo lối Cổ vãn để lôi kéo dân chúng tới đó. Nhờ vậy cửa đền mới thông và đám tang mới tiếp tục được cử hành. Nhưng lối Cổ vãn này do ai sáng tác lại không thấy nói tới! Trước đó, năm 1203, theo Khâm định Việt sử thì vua Cao Tông sáng tác ra ChiêmThành nhạc khúc dựa trên điệu Chiêm Thành. Theo nhà nghiên cứu Samuel Baron trong Description du royaume Tonquin (Mô tả về vương quốc Bắc kỳ), thì vua Thái Tông đã chế ra khúc Chư hầu lai triều để các nước phiên phục múa hát. Nhưng tất cả tài liệu đó chỉ kể tên bài hát hoặc chỉ chép lời ca chứ không thấy ghi điệu nhạc .

Dân ca là những bài hát không rõ xuất xứ (nơi chốn, thời điểm) Những bài hát được nhiều người ưa thích thì sẽ được truyền bá đi khắp nơi. Mạnh mẽ nhất là sự truyền bá của những người làm nghề ca hát và những người thường di chuyển đây đó (người hát xẩm, kẻ bán thuốc dạo, những người phải đóng quân ở nơi xa quê hương, v.v…). Ngày nay, khi khảo sát các bài dân ca được phổ biến ở một vùng nào đó, muốn biết được xuất xứ của chúng, chúng ta phải dựa một vài đặc điểm có trong các ca khúc đó. Ví dụ: những tiếng địa phương (phương ngữ), những địa danh, những cung bậc đặc trưng của miền đó (như trong các điệu Quan họ, ca Huế, điệu Oán, v.v…).

Tiếng địa phương Đây là cách dễ nhất để nhận ra xuất xứ của một bài dân ca. Nói chung thì trong các bài dân ca miền Bắc thường có những từ đệm như: “rằng, thì, chứ, ….” Và các dấu giọng (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng) được dệt bởi những nốt nhạc sao cho việc phát âm chúng được rõ nét. Một số phụ âm được phát âm một cách đặc thù như: “r” phát âm như “d” và “gi”; “s” và “x” phát âm giống nhau. Trong các dân ca miền Trung thì thường có những chữ “ni, nớ, răng, rứa,…”, dấu sắc được đọc thành dấu hỏi (so với giọng người miền Bắc), dấu hỏi và ngã đều được đọc giống nhau và trầm giọng hơn chữ không dấu. Những bài dân ca miền Nam thì thường có các chữ “má (mẹ), bậu (em), đặng (được), tợ (tựa như)”; chữ “ê” được đọc thành “ơ”, dấu ngã đọc thành dấu hỏi, v.v…

Có khi những địa danh trong bài hát có thể giúp ta xác định xuất xứ của một bài dân ca. Ví dụ các địa danh: “Nhà Bè, Gia định, Đồng Nai” trong bài Hò miền Nam hay các địa danh “Chợ Quán, Chợ Cầu, Năm Phổ, Chợ Dinh” trong bài Ru em của miền Trung hoặc các tên “Đồng đăng, Kỳ Lừa, Tam Thanh, xứ Lạng” trong bài Cò lả của miền Bắc. Tuy nhiên có khi những địa danh chỉ được sử dụng theo nghĩa bóng. Và địa danh chỉ có ích để xác định xuất xứ khi mà nó được đặt trong lời ca gốc, tức lời ca đầu tiên chứ không phải những dị bản.

Những cung bậc đặc trưng Nhưng thật ra chính cung bậc, điệu thức của bài hát mới là yếu tố quyết định xuất xứ của bài dân ca. Mặc dù khi một điệu hát ở miền này được du nhập sang miền khác sẽ bị địa phương hóa ít nhiều, nhưng nét chính vẫn còn nhận ra được.

Nhìn chung thì các điệu Bắc thường sử dụng thang âm sau đây với âm sắc tươi sáng, nhẹ nhàng:

Trong điệu thức trên, âm bậc III cao hơn nốt Fa bình, nhưng thấp hơn Fa thăng một chút; âm bậc V cao hơn hốt Si giáng nhưng thấp hơn nốt Si bình một chút.

Ngược lại với miền Trung, về phong thổ địa lý và con người, miền Nam được nhiều ưu đãi hơn. Người miền Nam đón nhận dễ dàng cả những điệu Bắc để có cho mình điệu Nam Xuân và cả điệu thức buồn ảnh hưởng Chiêm Thành của người miền Trung để có được điệu thức Oán đặc thù cho âm nhạc Nam bộ.

Trong điệu Nam, hơi Oán, bậc i (bậc II, nốt Mi hơi non hơn nốt Mi bình thông thường một chút), bậc Oan (bậc V, nốt Si hơi non hơn nốt Si bình thông thường một chút). Điệu Oán mang đặc điểm gần giống điệu Ai, nhưng đậm chất buồn hơn, mang tính oán thán.

“Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia-Định, Đồng Nai thì về”

Tuy nhiên yếu tố sử liệu như trên thường rất ít thấy trong các bài dân ca. Nhìn chung, thời điểm ra đời của một bản dân ca thường là không được xác định.

THAY LỜI KẾT Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, dân ca vẫn không mất vị trí của nó. Nguyên nhân chính là do đặc tính “không rõ tác giả” nên có nhiều dị bản. Một bài dân ca luôn được các thế hệ sau sửa đổi, thêm thắt, bổ sung vào những yếu tố âm nhạc, thậm chí cả lời ca cho phù hợp với cuộc sống đương đại. Chính vì vậy bài dân ca ấy luôn luôn được trẻ hóa, luôn luôn mang bộ mặt của thời đại, để rồi từ đó có thể sinh ra nhiều sáng tác dân gian mới. Những kiến thức về dân ca đã và luôn được coi trọng trong công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, đặc biệt thế hệ nhạc sĩ tương lai.

Nhưng bên cạnh đó lại có một số ngộ nhận. Nhiều người gọi các ca khúc mang tính chất dân gian hay mô phỏng làn điệu dân gian được sáng tác bởi một số nhạc sĩ là dân ca. Việc ngộ nhận đó làm cho các thế hệ trẻ có cái nhìn không chính xác về những đặc tính âm nhạc (tiết tấu, quãng âm,…) cũng như đặc tính thi ca trong các bài dân ca. Người ta dễ lầm lẫn giữa một bài dân ca (folk song) với một bài ca đại chúng (popular song, hay được gọi tắt là pop song). Điều đó cũng dễ hiểu vì cả hai thể loại này đều được quần chúng đón nhận, yêu thích, nuôi dưỡng và phổ biến. Vậy thì cách để phân biệt hai loại này là dựa vào những đặc điểm khác biệt của hai thể loại.

Dân ca tồn tại và phát triển được nhờ truyền khẩu, không có bản ký âm cố định, nên nó có thể biến đổi không ngừng. Trong khi đó, bài ca đại chúng (pop song) được ghi chép rõ ràng, cố định về lời ca cũng như âm nhạc. Tác giả và niên biểu của dân ca không ai quan tâm, không ai ghi chú. Trái lại một bài ca đại chúng mang rõ xuất xứ, tên tác giả, thời điểm ra đời, v.v… Trong dân ca, lời ca đóng vai trò chính. Giai điệu luôn luôn được phát sinh từ dấu giọng ở lời ca nên luôn phụ thuộc vào lời ca. Chuyển động giai điệu, sự chia cắt câu nhạc thành những vế nhạc, cấu trúc của câu nhạc trong toàn bộ bài ca đều lệ thuộc lời ca. Trong bài ca đại chúng thì không như vậy. Một giai điệu có thể có nhiều lời và lời ca phải tuân theo giai điệu. Về mặt điệu thức, dân ca luôn luôn dựa trên cấu trúc 5 âm (ngũ cung), có khi pha trộn nhiều cấu trúc trong một bài dân ca để có 6 âm hay 7 âm nhưng không nằm trong một giọng nào cố định. Về mặt hòa âm, dân ca đứng bên ngoài ảnh hưởng của những luật hòa âm mà chúng ta đã biết. Vì thế, câu nhạc không bị những kết hòa âm (harmonic cadence) và kết giai điệu (melodic cadence) chi phối, giới hạn.

Trong nhiệm vụ bảo tồn truyền thống và xây dựng nền văn hóa dân gian mang tính hiện đại, chúng ta không nên bỏ qua, coi thường việc bảo tồn duy trì hình thức đơn giản nhất là dân ca. Nhiệm vụ đó, các nhạc sĩ sáng tác cũng như lý luận và cả các chuyên ngành khác nên quan tâm và tìm ra giải pháp thích hợp.

Thế Nào Là Một Người Bạn Thân?

Những mối quan hệ ngoài xã hội vô cùng phức tạp và nó xuất hiện tầng tầng lớp lớp trong cuộc đời mỗi chúng ta, như thể tự nhiên muốn kết nối người và người lại với nhau. Có những cuộc gặp gỡ chớp nhoáng, có những cái bắt tay xã giao và những cái ôm hững hờ nhưng cũng có những mối quan hệ sẽ đi với chúng ta đến hết cả cuộc đời.

Mối quan hệ đó không đổi thay dù có bất cứ chuyện gì xảy ra ngoài mối quan hệ vợ chồng. Dù bạn có ở đó hay đi một nơi nào đó, dù bạn có thành công hay thất bại đó chính là cái được gọi là tình bạn. Tình bạn giữa hai người được thời gian gắn chất keo bền bỉ có tên gọi là năm tháng.

Có đôi khi, ta và bạn tình cờ gặp gỡ, cười đùa rồi trở nên thân thiết thật nhanh mà chẳng hiểu lý do tại sao. Chỉ riêng một điều chúng ta biết, bản thân nhận được từ đối phương những gì, giống như phép bù trừ giữa các lỗ hổng mà người kia còn thiếu. Đó chính là một người bạn thân đúng nghĩa.

Bạn thân – người luôn sẵn sàng lắng nghe những điều khúc mắc trong lòng. Ta có thể tỉ tê tâm sự, chiếm giữ cả buổi tối cuối tuần của họ mà không lo lắng bản thân gây phiền hà cho người khác. Dù là ở đâu và vào lúc nào, điều họ quan tâm nhất chính là tâm trạng của ta. Thậm chí, họ để ý cả những lúc ta chẳng thể nói thành lời, khiến ta vì thế mà phấn chấn trở lại.

Sẽ chẳng có người bạn nào mọi mặt đều tốt, nhưng ta hãy yêu bạn ta như yêu chính lỗi lầm của bản thân. Bởi tìm được một người để thổ lộ và giãi bày tâm sự đâu dễ dàng gì. Bạn thân – người chẳng bao giờ quay lưng với ta dẫu cả thế giới làm vậy. Nếu một ngày, chẳng may ta mắc phải lỗi lầm, họ không lên án, không bài xích, bởi họ hiểu rằng ai rồi cũng phải trưởng thành từ những lầm lỡ, biết phân biệt phải trái đúng sai và tự chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình.

Bạn thân chính là người mang lại sự tự tin, thúc đẩy sự hoàn thiện cho ta trong cuộc sống. Trước mặt ta, họ thẳng thắn, trung thực, thành thật về những khuyết điểm của ta và chấp nhận chúng. Sau lưng ta, họ nói về những ưu điểm của ta một cách đầy tự hào, bảo vệ ta trước những lời dèm pha chứ chẳng bao giờ có thói quen tâm sự với người thứ ba, bốn, năm… về thói hư tật xấu của bạn mình.

Bạn thân – người luôn bên cạnh khi ta gặp khó khăn. Người xưa có câu: “Hoạn nạn mới hiểu lòng bạn”. Chính vậy, tình cảm chân thật thể hiện rõ nét nhất tại một thời điểm nào đó trong cuộc sống, con người ta sa cơ lỡ vận, khủng hoảng và bế tắc đủ mọi đường.

Bạn thân – người luôn cố gắng duy trì tình cảm bền chặt giữa hai người. Đôi khi, chúng ta làm sai một vài chuyện hay lỡ lời khiến người kia buồn lòng và cũng phải mất một thời gian vừa đủ để nhận ra mình cư xử chưa đúng mực. Người bạn chân chính không bao giờ bôi xóa hay lãng quên chúng, mà sẽ ghi nhớ thật kỹ để nhắc nhở bản thân không bao giờ được tái phạm. Họ sẵn sàng chủ động xin lỗi và sau đó tình cảm càng sâu sắc hơn trước.

Tìm được một người bạn thân đã không dễ và duy trì được mối quan hệ đó cũng không bao giờ là điều dễ dàng. Chính vì vậy, nếu may mắn bạn có được một hay những người bạn thân thì hãy coi đó là sự may mắn và trân trọng nó như một nghĩa vụ bạn phải làm với họ.

Thế Nào Là Một “Bài Báo Khoa Học” ?

Báo điện tử VietnamNet số ra ngày 11/3/2004 trong bài phỏng vấn giáo sư Đỗ Trần Cát về tiêu chuẩn mới trong việc phong chức danh giáo sư có một trao đổi đáng chú ý như sau:

“Phóng viên: “Thực ra, đến nay vẫn chưa có định nghĩa nào về ‘bài báo khoa học’. Vậy năm nay, với những sửa đổi như ông nói thì quy định về “bài báo khoa học” có gì khác?

Trả lời: Bài báo khoa học phải là công trình khoa học chứa đựng kết quả nghiên cứu mới, phù hợp với chuyên ngành đăng ký chức danh. Bài báo đó phải được công bố trên một trong những tạp chí khoa học chuyên ngành quy định. Cụ thể là: Các tạp chí uy tín do các Hội đồng chức danh giáo sư ngành, liên ngành lựa chọn, đề nghị thường trực Hội đồng nhà nước về chức danh giáo sư quyết định.”(http://vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2004/03/54931/, truy nhập ngày 22/11/2005)

Ở đây, trong khuôn khổ bài viết này, tôi sẽ nới rộng định nghĩa trên và cụ thể hóa thế nào là một bài báo khoa học.  Tôi sẽ xoay quanh ba khía cạnh chính: phân loại bài báo khoa học, tập san khoa học và cơ chế bình duyệt bài báo khoa học.

Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học đóng một vai trò hết sức quan trọng.  Nó không chỉ là sản phẩm tri thức, mà còn là một loại tiền tệ của giới làm khoa học, bởi vì qua đó mà người ta có thể đánh giá khả năng chuyên môn và năng suất khoa học của nhà nghiên cứu.  Giới làm nghiên cứu khoa học nói chung nhất trí rằng cái chỉ tiêu số 1 để đề bạt một nhà khoa học là dựa vào số lượng và chất bài báo khoa học đã công bố trên các tập san chuyên ngành [1].  Trên bình diện quốc gia, số lượng bài báo khoa học là một thước đo về trình độ khoa học kĩ thuật và hiệu suất khoa học của một nước.  Chính vì thế mà tại các nước Tây phương, chính phủ có hẳn một cơ quan gồm những chuyên gia chuyên đo đếm và đánh giá những bài báo khoa học mà các nhà khoa học của họ đã công bố trong năm.

Nhưng cũng giống như sản phẩm công nghệ có nhiều hình thức và giá trị khác nhau, các bài báo khoa học cũng xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau và giá trị cũng không đồng nhất.  Đối với người ngoài khoa học và công chúng nói chung, phân biệt được những bài báo này không phải là một chuyện dễ dàng chút nào.  Thật ra theo kinh nghiệm của người viết bài này, ngay cả trong giới khoa bảng và giáo sư đại học, có khá nhiều người vẫn chưa biết thế nào là một bài báo khoa học nghiêm chỉnh và có lẽ vì hiểu sai cho nên một số giáo sư đã trình bày trong lí lịch khoa học của mình một cách thiếu chính xác, có khi khá khôi hài.  Bài viết ngắn này sẽ bàn qua về tiêu chuẩn của một bài báo khoa học.  Phần lớn những phát biểu trong bài viết này được rút ra từ kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực y sinh học, và có thể không hoàn toàn đúng cho các lĩnh vực nghiên cứu khác mà bạn đọc có thể bổ sung thêm.

Bài báo khoa học

Nói một cách ngắn gọn, bài báo khoa học (tiếng Anh: “scientific paper” hay có khi viết ngắn là paper) là một bài báo có nội dung khoa học được công bố trên một tập san khoa học (scientific journal) đã qua hệ thống bình duyệt (peer-review) của tập san.  Ở đây có ba vế của định nghĩa mà bài này sẽ lần lược bàn đến: nội dung bài báo, tập san, và cơ chế bình duyệt.  Trước hết xin bàn về nội dung khoa học của một bài báo.

Thứ nhất là những bài báo mang tính cống hiến nguyên thủy (original contributions).  Đây là những bài báo khoa học nhằm báo cáo kết quả một công trình nghiên cứu, hay đề ra một phương pháp mới, một ý tưởng mới, hay một cách diễn dịch mới.  Có khi một công trình nghiên cứu có thể có nhiều phát hiện mới, và cần phải có nhiều bài báo nguyên thủy để truyền đạt những phát hiện này.  Một công trình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized clinical trials) hay một công trình dịch tễ học lớn có thể có đến hàng trăm bài báo nguyên thủy. 

Cống hiến mới cho khoa học không chỉ giới hạn trong phát hiện mới, mà có thể bao gồm cả những phương pháp mới để tiếp cận một vấn đề cũ, hay một cách diễn dịch mới cho một phát hiện xa xưa.  Do đó các bài báo khoa học ở dạng này cũng có thể xem là những cống hiến nguyên thủy.  Tất cả những bài báo này đều phải qua hệ thống bình duyệt một cách nghiêm chỉnh.

Tất cả các bài báo thể hiện những cống hiến nguyên thủy, trên nguyên tắc, đều phải thông qua hệ thống bình duyệt trước khi được công bố.  Một bài báo không hay chưa qua hệ thống bình duyệt chưa thể xem là một “bài báo khoa học”.

Thứ hai là những bài báo nghiên cứu ngắn, mà tiếng Anh thường gọi là “short communications”, hay “research letters”, hay “short papers”, v.v…  Đây là những bài báo rất ngắn (chỉ khoảng 600 đến 1000 chữ, tùy theo qui định của tập san) mà nội dung chủ yếu tập trung giải quyết một vấn đề rất hẹp hay báo cáo một phát hiện nhỏ nhưng quan trọng.  Những bài báo này vẫn phải qua hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh, nhưng mức độ rà soát không cao như các bài báo cống hiến nguyên thủy.  Cần phải nói thêm ở đây là phần lớn những bài báo công bố trên tập san Nature (một tập san uy tín vào hàng số 1 trong khoa học) là “Letters”, nhưng thực chất đó là những bài báo nguyên thủy có giá trị khoa học rất cao, chứ không phải những lá thư thông thường.

Thứ ba là những báo cáo trường hợp (case reports).  Trong y học có một loại bài báo khoa học xuất hiện dưới dạng báo cáo trường hợp, mà trong đó nội dung xoay quanh chỉ một (hay một số rất ít) bệnh nhân đặc biệt.  Đây là những bệnh nhân có những bệnh rất hiếm (có thể 1 trên hàng triệu người) và những thông tin như thế cũng thể hiện một sự cống hiến tri thức cho y học.  Những báo cáo trường hợp này cũng qua bình duyệt, nhưng nói chung không khó khăn như những bài báo nguyên thủy.

Thứ sáu là những thư cho tòa soạn (letters to the editor).  Nhiều tập san khoa học dành hẳn một mục cho bạn đọc phản hồi những bài báo đã đăng trên tập san.  Đây là những bài viết rất ngắn (chỉ 300 đến 500 chữ, hay một trang — tùy theo qui định của tập san) của bạn đọc về một điểm nhỏ nào đó của bài báo đã đăng.  Những thư này thường phê bình hay chỉ ra một sai lầm nào đó trong bài báo khoa học đã đăng.  Những thư bạn đọc không phải qua hệ thống bình duyệt, nhưng thường được gửi cho tác giả bài báo nguyên thủy để họ đáp lời hay bàn thêm.  Tuy nói là thư bạn đọc, nhưng không phải thư nào cũng được đăng, nếu không nêu được vấn để một cách súc tích và có ý nghĩa. 

Và sau cùng là những bài báo trong các kỉ yếu hội nghị.  Trong các hội nghị chuyên ngành, các nhà nghiên cứu tham dự hội nghị và muốn trình bày kết quả nghiên cứu của mình thường gửi bài báo để đăng vào kỉ yếu của hội nghị.  Có hai loại bài báo trong nhóm này: nhóm 1 gồm những bài báo ngắn (proceedings papers), và nhóm 2 gồm những bản tóm lược (abstracts).   

Những bài báo xuất hiện dưới dạng “proceeding papers” thường ngắn (khoảng 5 đến 10 trang), mà nội dung chủ yếu là báo cáo sơ bộ những phát hiện hay phương pháp nghiên cứu mới.  Tùy theo hội nghị, đại đa số những bài báo dạng này không phải qua hệ thống bình duyệt, hay có qua nhưng cũng không nghiêm chỉnh như hệ thống bình duyệt của những bài báo nguyên thủy.  Cần nhấn mạnh rằng đây không phải là những bài báo khoa học bởi vì chúng chưa xuất hiện trên các tập san khoa học và qua bình duyệt nghiêm chỉnh.

Các bản tóm lược, như tên gọi, thực chất là những bản tin khoa học ngắn (chỉ dài từ 250 chữ đến 500 chữ) mà nội dung là tóm tắt một công trình nghiên cứu.  Những bản tin này cũng không qua hệ thống bình duyệt.  (Thực ra, không ai có thể thẩm định một công trình nghiên cứu với 250 hay 500 chữ!)  Vả lại, một hội nghị chuyên môn có khi nhận đến 5000 bài tóm lược, cho nên ban tổ chức không thể có đủ người để làm công việc bình duyệt bài vở một cách kĩ lưỡng và có hệ thống.  Phần lớn, nếu không muốn nói là 100%, các bài tóm lược đều được chấp nhận cho in trong các kĩ yếu của hội nghị.  Một lí do để chấp nhận tất cả các bài tóm lược là ban tổ chức muốn có nhiều người dự hội nghị (nhiều người tham dự cũng có nghĩa là tăng thu nhập cho ban tổ chức) cho nên họ không muốn từ chối một bài báo nào.

Tập san khoa học và hệ số ảnh hưởng

Trong hoạt động khoa bảng, các tập san khoa học là những tờ báo xuất bản định kì, có thể là mỗi tuần một lần, mỗi tháng, hay mỗi 3 tháng, thậm chí hàng 6 tháng một lần.  Mục tiêu chính của các tập san khoa học là chuyên chở thông tin đến giới nghiên cứu khoa học nhằm từng bước phát triển khoa học.  Các tập san khoa học còn là những diễn đàn khoa học để giới khoa học có cùng chuyên môn trao đổi và học hỏi với nhau.  Phần lớn các tập san khoa học rất chuyên sâu về một bộ môn khoa học như American Heart Journal (chuyên về tim), American Journal of Epidemiology (dịch tễ học), Bone (xương), Blood (máu), Neurology (thần kinh học) … nhưng một số tập san như Science, Nature, Proceedings of the National Academy of Science USA … công bố tất cả nghiên cứu từ bất cứ bộ môn khoa học nào. 

Trên thế giới ngày nay, có khoảng 3000 tập san y sinh học được công nhận, và con số vẫn tăng mỗi năm.  (Được công nhận ở đây có nghĩa là được nằm trong danh sách của tổ chức Index Medicus).  Tiêu chuẩn mà các tập san này dựa vào để công bố hay không công bố một bài báo khoa học cũng rất khác nhau.  Một số tập san như Science, Nature, Cell, hay Physical Reviews chỉ công bố những bài báo khoa học mà ban biên tập cho rằng thể hiện những cống hiến cơ bản, những phát hiện quan trọng, hay những phương pháp mới có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong cộng đồng khoa học.  Do đó, các tập san này từ chối công bố hầu hết các bài báo khoa học gửi đến cho họ.  Theo một báo cáo gần đây các tập san này chỉ công bố khoảng 1% những bài báo họ nhận được hàng năm.  Nói cách khác, họ từ chối khoảng 99% bài báo.  Trong y học, các tập san hàng đầu như New England Journal of Medicine, Lancet, và JAMA từ chối khoảng 95% các bài báo gửi đến, và chỉ công bố những bài báo quan trọng trong y khoa.  

Giá trị khoa học của một bài báo do đó không chỉ tùy thuộc vào nội dung, mà tập san công bố cũng đóng một vai trò quan trọng.  Chẳng hạn như trong y học một bài báo trên các tập san lớn như New England Journal of Medicine (NEJM) hay Lancet có giá trị hơn hẳn một bài báo trên các tập san y học của Pháp hay Singapore Medical Journal.  Điều này đúng bởi vì những công trình nghiên cứu quan trọng thường được công bố trên các tập san lớn và có nhiều người đọc, nhưng quan trọng hơn hết là những tập san này có một hệ thống bình duyệt nghiêm túc. 

Uy tín và giá trị của một tập san thường được đánh giá qua hệ số ảnh hưởng (Impact Factor hay IF).  IF được tính toán dựa vào số lượng bài báo công bố và tổng số lần những bài báo đó được tham khảo hay trích dẫn (citations).  Theo định nghĩa hiện hành, IF của một tập san trong năm là số lần tham khảo trung bình các bài báo được công bố trên tập san trong vòng 2 năm trước [2].  Chẳng hạn như trong 2 năm 1981 và 1982, Tập san Lancet công bố 470 bài báo khoa học nguyên thủy; trong năm 1983 có 10.011 bài báo khác trên các tất cả các tập san (kể cả Lancet) có tham khảo hay trích dẫn đến 470 bài báo đó; và hệ số IF là 10.011 / 470 = 21,3.  Nói cách khác, tính trung bình mỗi bài báo nguyên thủy trên tờ Lancet có khoảng 21 lần được tham khảo đến hay trích dẫn. 

Vì yếu tố thời gian của việc tính toán, cho nên hệ số IF cũng thay đổi theo thời gian và cách xếp hạng tập san cũng thay đổi theo.  Chẳng hạn như vào thập niên 1990s British Medical Journal từng nằm trong nhóm các tập san hàng đầu trong y học, nhưng đến đầu thế kỉ 21 tập san này bị xuống cấp nghiêm trọng.  Trong y sinh học, có một số tập san y học thuộc vào hàng “top 10” như sau (theo số liệu năm 2003): Annual review of immunology. (52,28), Annual review of biochemistry (37,65), Physiological reviews (36,83), Nature reviews Molecular cell biology (35,04), New England Journal of Medicine (34,83), Nature reviews Cancer (33,95), Nature (30,98), Nature medicine (30,55), Annual review of neuroscience (30,17), Science (29,16),  Cell (26,63), Nature genetics (26,49), Lancet (18,32), Journal of clinical investigation (14,30), v.v… (Chi tiết có thể tham khảo trong bản thống kê phía dưới bài viết).

Do đó, tập san nào có hệ số IF cao cũng được hiểu ngầm là có uy tín cao và ảnh hưởng cao.  Công bố một bài báo trên tập san có hệ số IF cao có thể đồng nghĩa với mức độ quan trọng và tầm ảnh hưởng của bài báo cũng cao.  Xin nhấn mạnh là “có thể” mà thôi, bởi vì qua cách tính vừa trình bày trên, IF là chỉ số phản ánh ảnh hưởng của một tập san, chứ không đo lường hệ số ảnh hưởng phải một bài báo cụ thể nào.  Một bài báo trên một tập san có hệ số IF thấp nhưng có thể được trích dẫn nhiều lần.  Chẳng hạn như một bài báo viết về một phương pháp phân tích thống kế trong di truyền học công bố trên tập san  Behavior Genetics (với IF thấp hơn 2), nhưng được trích dẫn và tham khảo hơn 10.000 lần trong 20 năm sau đó!

Dù bíết rằng hệ số IF có nhiều khiếm khuyết như thế, nhưng hiện nay chúng ta chưa có một hệ thống nào công bằng và tốt hơn để thẩm định chất lượng một tập san.  Cho nên, hệ số IF vẫn được sử dụng như là một thước đo chất lượng, với một sự dè dặt và cẩn thận cần thiết.

Cơ chế bình duyệt

Để hiểu cơ chế bình duyệt, tôi xin nói sơ qua về qui trình công bố một bài báo khoa học như sau.  Sau khi tác giả gửi bản thảo của bài báo đến một tập san chuyên môn, tổng biên tập (Editor-in-Chief) hay phó tổng biên tập (Associate Editors) của tập san sẽ xem lướt qua bài báo và quyết định bài báo có xứng đáng được gửi ra ngoài để bình duyệt hay không.  Nếu không xứng đáng, tổng biên tập sẽ báo ngay (trong vòng 1 tháng) cho tác giả biết là bài báo không được bình duyệt.  Nếu thấy bài báo có giá trị và cần được bình duyệt, tổng biên tập sẽ gửi bản thảo cho 3 (hoặc có khi 4) người bình duyệt. 

Sau khi đã nhận được báo cáo của người bình duyệt, tổng biên tập sẽ chuyển ngay cho tác giả.  Tùy theo đề nghị của những người bình duyệt, tổng biên tập có thể cho tác giả một cơ hội để phản hồi những phê bình của người bình duyệt, hay từ chối đăng bài.  Nếu có cơ hội phản hồi, tác giả phải trả lời từng phê bình một của từng người bình duyệt.  Bài phản hồi phải được viết như một báo cáo, và tất cả những thay đổi trong bài báo tác giả phải báo cho tập san biết.  Giai đoạn này tốn từ 1 đến 3 tháng.

Sau khi nhận được phản hồi của tác giả, tổng biên tập và ban biên tập có thể quyết định chấp nhận hay từ chối bài báo.  Nếu bài phản hồi không trả lời tất cả phê bình, hay trả lời không thỏa đáng, tổng biên tập có thể từ chối đăng bài ngay mà không cần gửi cho người bình duyệt xem lại.  Nếu bài phản hồi cần xem xét lại tổng biên tập sẽ gửi cho những người bình duyệt xem lại một lần nữa và tác giả có khi phải phản hồi một lần sau cùng.  Giai đoạn này cũng tốn từ 1 đến 3 tháng.

Nói chung một bài báo từ lúc nộp bài cho đến lúc xuất hiện trên mặt giấy – nếu mọi bình duyệt và phản hồi đều trôi chảy – tốn khoảng 9 tháng đến 12 tháng.  Bởi vì thời gian quá lâu như thế, cho nên một số tác giả có khi quyết định tự công bố trước dưới dạng sơ bộ (còn gọi là “pre-print”) để chia sẻ với đồng nghiệp.  Ngày nay, với sự tiến bộ phi thường của công nghệ thông tin và internet, nhiều tập san đã có thể công bố ngay bài báo trên hệ thống internet (trước khi in) nếu bài báo đã qua bình duyệt và được chấp nhận cho công bố.  Một số tập san còn hoạt động hoàn toàn trên hệ thống internet mà không phải qua hình thức in ấn gì cả.

Ý nghĩa xã hội của bài báo khoa học

Đọc đến đây, tôi hi vọng bạn đọc đã hiểu được thế nào là một bài báo khoa học.  Xin nhắc lại để nhấn mạnh: một bài báo chỉ khi nào được xem là “bài báo khoa học” nếu nó đã qua cơ chế bình duyệt và được công bố trên một tập san chuyên môn.  Những bài báo xuất hiện dưới dạng “abstracts” hay thậm chí “proceedings” không thể xem là những bài báo khoa học bởi vì nó không đáp ứng được hai yêu cầu trên.  Thế nhưng trong thực tế đã có rất nhiều nhà khoa học, kể cả ở trong nước, có lẽ do hiểu lầm đã liệt kê những “abstracts” và “proceedings” như là những bài báo khoa học trong lí lịch khoa học của họ!  Đối với nhiều người không am hiểu hoạt động khoa học thì những ngộ nhận này chẳng ảnh hưởng gì to lớn, nhưng đối với giới làm nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh, một lí lịch khoa học với toàn những “bài báo khoa học” như thế cho biết nhiều về tác giả hơn là khả năng nghiên cứu khoa học của tác giả.

Trên bình diện quốc gia, công bố báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một cách không chỉ nâng cao sự hiện diện, mà còn nâng cao năng suất khoa học, của nước nhà.  Ở phương Tây người ta thường đếm số lượng bài báo khoa học mà các nhà khoa học công bố trên các tập chí khoa học để đo lường và so sánh hiệu suất khoa học giữa các quốc gia.  Hiện nay, trong bất cứ lĩnh vực nào, phải nhìn nhận một thực tế là hiệu suất khoa của nước ta chưa cao.  Phần lớn các công trình nghiên cứu tại nước ta chỉ được kết thúc bằng những buổi nghiệm thu hay luận án.  Đối với hoạt động khoa học, cho dù công trình đã được nghiệm thu hay đưa vào luận án tiến sĩ hay thạc sĩ , nếu chưa được công bố trên các diễn đàn khoa học quốc tế thì công trình đó coi như chưa hoàn tất, bởi vì nó chưa qua “thử lửa” với môi trường rộng lớn hơn. 

Theo tác giả Phạm Duy Hiển (Tạp chí Tia Sáng số Tháng 6 năm 2005) trong năm 2003, các nhà khoa học Việt Nam đã công bố trên 7000 bài báo trên các tạp chí hay tập san khoa học trong nước.  Con số này rất ư là ấn tượng, song đó chỉ là những bài báo “ta viết cho ta đọc” chứ trên trường quốc tế thì sự hiện diện của các nhà khoa học Việt Nam còn rất khiêm tốn.  Vẫn theo tác giả Phạm Duy Hiển, trong năm 2001 các nhà khoa học Việt Nam chỉ công bố được 354 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế, mà 71% con số này là do cộng tác với các nhà khoa học ngoài Việt Nam.  Trong ngành y khoa, trong suốt 40 năm qua (tính từ 1965) các nhà khoa học tại Việt Nam chỉ có khoảng 300 bài báo trên các tập san y sinh học quốc tế.  Đó là những con số cực kì khiêm tốn, khi so sánh với Thái Lan (5000 bài) hay Singapore (20.000 bài).

Trong quá trình hội nhập thế giới, xã hội có quyền đòi hỏi nhà khoa học nước ta phải có tầm vóc và đứng vững trên trường khoa học quốc tế.  Đã đến lúc chúng ta phải đặt ra những tiêu chuẩn nghiêm túc mà quốc tế đã và đang sử dụng để thẩm định thành tích nghiên cứu khoa học của các giáo sư và nhà nghiên cứu ở nước ta. 

GS. Trần Văn Tuấn

Nguồn: Trang Thông tin điện tử Đại học Văn hóa

[2]  Garfield E.  The impact factor [internet] Current Contents 1994 20;3-7 (cited 16 August 2002): http://sunweb.isinet.com/isi/hot/essays/journalcitationreports/7.html.

[3]  Seglen PO.  Why the impact factor of journals should not be used for evaluating research.  BMJ 1997; 314:497-9.

[4] Phelan TJ. A compendium of issues for citation analysis. Scientometrics 1999; 45:117-36.

[3] Garfield E. Random thoughts on citationology: its theory and practice. Scientometrics 1998; 43:69-76. 

[4] Campanario J. Peer review for journals as it stands today, Part 2. Science Communication 1998; 19:277-306

[5] Cole S, et al. Chance and consensus in peer review.  Science 214:881-6, 1981

Cập nhật thông tin chi tiết về Thế Nào Là Một “Bài Báo Khoa Học”? trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!