Xu Hướng 3/2024 # Quy Định Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa. Tư Vấn, Thẩm Định, Soạn Thảo Hợp Đồng. # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Quy Định Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa. Tư Vấn, Thẩm Định, Soạn Thảo Hợp Đồng. được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA. TƯ VẤN, THẨM ĐỊNH, SOẠN THẢO CÁC LOẠI HỢP ĐỒNG. HOTLINE: 0913 092 912 – 0982-692 912

1. Khái niệm Hợp đồng mua bán hàng hóa.

Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.

Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. Luật Thương mại 2005 (LTM) không đưa ra định nghĩa về HĐ mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm HĐ mua bán tài sản trong luật dân sự để xác định bản chất của HĐ mua bán hàng hóa.

Căn cứ vào yếu tố chủ thể, đối tượng, nơi xác lập và thực hiện hợp đồng, HĐ mua bán hàng hóa được chia thành HĐ mua bán hàng hóa trong nước và HĐ mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài (HĐ mua bán hàng hóa quốc tế).

2. Đặc điểm Hợp đồng mua bán hàng hóa.

a. Hợp đồng mua bán hàng hóa cũng có những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự.

– Là hợp đồng ưng thuận: được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa.

– Có tính đền bù: bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán.

– Là hợp đồng song vụ: mỗi bên trong HĐ mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình, đó là nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán.

b. Hợp đồng mua bán hàng hóa có đặc điểm xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa.

*  Về chủ thể:

Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của HĐ mua bán hàng hóa. Theo khoản 3 Điều 1 LTM, hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM khi chủ thể này lựa chọn áp dụng LTM.

*  Về hình thức:

Theo quy định của Luật Thương mại 2005, Hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập theo một trong các hình thức sau: bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác định bằng các hành vi cụ thể. Trong đó những loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật bắt buộc phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.

* Về đối tượng:

Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là những hàng hóa không bị liệt vào danh sách hàng hóa cấm kinh doanh, bao gồm: động sản, động sản hình thành trong tương lai và các vật gắn liền với đất. Đối với những hoàng hóa hạn chế kinh doanh và hàng hóa kinh doanh có điều kiện thì việc mua bán chỉ được thực hiện khi hàng hóa hoặc các bên mua bán hàng hóa đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

c. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa.

* Nghĩa vụ của bên bán.

+ Nghĩa vụ giao hàng: Giao hàng đúng đối tượng, số lượng và chất lượng.

Bên bán phải giao hàng đúng đối tượng và chất lượng theo thỏa thuận trong hợp đồng và theo quy định của pháp luật. Chất lượng của hàng hóa có thể được thỏa thuận hoặc xác định theo nhiều cách khác nhau: theo mẫu, theo mô phỏng, trên cơ sở tiêu chuẩn hóa, theo giám định,… Hàng hóa phải đảm bảo không có các khuyết tật có thể nhìn thấy được khi bàn giao (khuyết tật bên ngoài) và cả những khuyết tật không thể nhìn thấy ngay được mà chỉ có thể phát hiện trong quá trình sử dụng (khuyết tật ẩn giấu bên trong).

Theo quy định của LTM 2005, hàng hóa được coi là không phù hợp với hợp đồng nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

– Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hóa cùng chủng loại.

– Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hóa đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hóa trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường loại hàng hóa đó.

– Không đảm bảo chất lượng như chất lượng mẫu hàng hóa mà bên bán đã giao cho bên Ngoài việc giao đúng đối tượng và chất lượng hàng hóa, bên mua còn có nghĩa vụ giao đúng số lượng hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp bàn giao số lượng ít hơn, bên mua có quyền hoặc chấp nhận số lượng ít hơn đó, hoặc yêu cầu bàn giao nốt phần còn lại (có thể kèm theo yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại), hoặc yêu cầu hủy bỏ hợp đồng (có thể kèm theo đòi bồi thường thiệt hại).

+ Giao chứng từ kèm theo hàng hóa.

+ Giao hàng đúng thời hạn và địa điểm.

Các bên thường thỏa thuận về thời điểm giao hàng trong hợp đồng. Nếu các bên không thỏa thuận vấn đề này trong hợp đồng thì áp dụng quy định của pháp luật hoặc theo tập quán. Nếu các bên không thỏa thuận về thời điểm giao hàng cụ thể mà chỉ nêu thời hạn giao hàng thì bên bán có thể giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải báo trước cho bên mua.

Bên bán phải giao hàng đúng địa điểm theo thỏa thuận. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận trong hợp đồng thì địa điểm giao hàng sẽ được xác định như sau:

– Nếu hàng hóa là vật gắn liền với đất đai thì bên bán phải giao hàng tại nơi có hàng hóa đó.

– Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinh doanh của bên bán, nếu bên bán không có địa điểm kinh doanh thì phải giao hàng tại nơi cư trú của bên bán được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng.

+ Kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng.

Để ngăn ngừa những sai sót trong việc giao hàng và tăng khả năng thực hiện hiệu quả việc mua bán, việc kiểm tra hàng hóa trước khi giao là một yêu cầu cần thiết đối với giao dịch mua bán hàng hóa trong thương mai, và đây là một điểm khác biệt của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại với hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng thì bên bán phải tạo điều kiện cho bên mua thực hiện việc kiểm tra của mình. Bên mua phải thực hiện việc kiểm tra hàng hóa trong một thời gian nhắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép.

+ Đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hóa mua bán và chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua.

Bên bán phải đảm bảo về tính hợp pháp của quyền sở hữu và việc quyển giao quyền sở hữu đối với hàng hóa giao cho bên mua; và phải đảm bảo quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranh chấp bởi các bên thứ ba. Trường hợp hàng hóa bị người thứ ba tranh chấp quyền sở hữu thì bên bán phải đứng về phía bên mua để bảo vệ quyền lợi của bên mua. Trong trường hợp người thứ ba có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ đối với hàng hóa mua bán thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại.

Theo Điều 62 LTM 2005, quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ bên bán sang bên mua từ thời điểm chuyển giao hàng hóa, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.

* Nghĩa vụ bảo hành hàng hóa.

Bên cạnh nghĩa vụ quan trọng nhất là bàn giao hàng hóa, bên bán còn có một nghĩa vụ khác, đó là bảo hành hàng hóa, tức là trong một thời hạn nhất định, bên bán phải chịu trách nhiệm về hàng hóa sau khi đã giao hàng hóa cho bên mua. Pháp luật quy định trong trường hợp hàng hóa có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận. Thời hạn bảo hành có thể do các bên tự xác định, cũng có thể được pháp luật quy định.

LTM 2005 không quy định cụ thể những vấn đề về bảo hành hàng hóa, nếu các bên không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của BLDS, Điều 446 – 448.

* Nghĩa vụ của bên mua.

+ Nghĩa vụ nhận hàng.

Nhận hàng được hiểu là việc bên mua tiếp nhận trên thực tế hàng hóa từ bên bán. Bên mua phải thực hiện những công việc hợp lý để bên bán giao hàng, tùy từng trường hợp cụ thể công việc hợp lý đó có thể là: hỗ trợ bên bán về thủ tục giao hàng, hướng dẫn về phương thức vận chuyển, điều kiện bốc dỡ hàng hóa,…

Khi bên bán đã sẵn sàng giao hàng theo hợp đồng mà bên mua không tiếp nhận hàng thì coi như đã vi phạm hợp đồng và phải chịu các biện pháp chế tài theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Theo quy định của BLDS, trong trường hợp này, bên bán phải áp dụng các biện pháp cần thiết trong khả năng có thể và với chi phí hợp lý để lưu giữ, bảo quản hàng hòa, và có quyền yêu cầu bên mua chi trả cho chi phí đã bỏ ra. Đối với hàng hóa có nguy cơ bị hư hỏng thì bên bán có quyền bán hàng hóa và trả tiền cho bên mua khoản tiền thu được từ việc bán hàng hóa đó sau khi đã trừ đi chi phí hợp lý để bảo quản và bán hàng hóa.

+ Nghĩa vụ thanh toán tiền.

Đây là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Điều khoản thanh toán trong hợp đồng được các bên thỏa thuận thông thường bao gồm những nội dung cụ thể về đồng tiền thanh toán, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm thanh toán, trình tự và thủ tục thanh toán,… Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của pháp luật thương mại về thanh toán trong hợp đồng:

– Địa điểm thanh toán: Nếu không được thỏa thuận trong hợp đồng thì sẽ xác định địa điểm thanh toán theo quy định tại Điều 54 LTM 2005.

– Thời hạn thanh toán: Được xác định theo quy định tại Điều 55 và khoản 3 Điều 50 LTM 2005.

– Xác định giá: Điều 52.

– Chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán: Điều 306.

– Ngừng thanh toán: Điều 51.

Trân trọng.

VPGD: P. 1503, Tòa nhà HH1, Phố Dương Đình Nghệ,Cầu Giấy, Hà Nội Điện thoại: 0243.7.645.594 – 0243.7.673.930 – Fax: 0243.7.675.594 Hotline trưởng Hãng luật: Luật sư Bằng: 0913 092 912 * 0982 69 29 12

Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa ” Dịch Vụ Tư Vấn Soạn Thảo Luật Thái An™

tự hào có đội ngũ luật sư và chuyên viên pháp lý có kinh nghiệm phong phú và hiểu biết sâu rộng. Hiện nay chúng tôi đang cung cấp dịch vụ tư vấn soạn thảo Hợp đồng mua bán hàng hóa với nhiều ưu điểm là chất lượng cao mà chi phí hợp lý.

1.Thế nào là hợp đồng mua bán hàng hóa ?

Hợp đồng mua bán hàng hóa là thỏa thuận giữa các bên theo đó bên bán chuyển hàng hóa cùng quyền sở hữu đối với hàng hóa đó cho bên mua, bên mua hàng có trách nhiệm nhận hàng hóa và có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán hàng, việc giao hàng, thanh toán phải thực hiện theo thời gian, địa điểm, phương thức được thỏa thuận trong hợp đồng.

2. Cơ sở pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa:

Hợp đồng mua bán hàng hóa chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự 2024 và Luật thương mại 2005.

3. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa: a. Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá chủ yếu là thương nhân

Các bên chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá phải là thương nhân hoặc trong một số trường hợp chỉ cần bên bán là thương nhân (vì bên bán thực hiện hoạt động bán hàng mang tính chất nghề nghiệp). Những cá nhân có hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng kí kinh doanh vẫn có thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại với tư cách là bên mua.

b. Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá là hàng hoá c. Mục đích chủ yếu của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá là sinh lợi

Mục đích chủ yếu của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá là sinh lợi, tuy nhiên, trong một số trường hợp, một bên của hợp đồng mua bán hàng hoá không có mục đích sinh lời. Những hợp đồng được thiết lập giữa bên không nhằm mục đích sinh lợi với thương nhân thực hiện trên lãnh thồ Việt Nam, về nguyên tắc, không chịu sự điều chỉnh cùa Luật Thương mại trừ khi bên không nhằm mục đích sinh lợi đó lựa chọn áp dụng Luật Thương mại.

d. Lưu ý về hợp đồng mua bán hàng hóa mà đối tượng là quyền sử dụng đất, nhà và công trình gắn liền với đất đai

Đất đai không được coi là hàng hoá trong thương mại. Quyền sử dụng đất cũng được chuyển nhượng nhưng giao dịch này do Luật Đất đai điều chỉnh. Hợp đồng mua bán hàng hoá là nhà, công trình gắn liền với đất đai không chỉ chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự, Luật thương mại mà còn chịu sự điều chỉnh của Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Đất đai. Đây cũng là một vấn đề phức tạp trong việc áp dụng pháp luật đối với việc mua bán hàng hoá là vật gắn liền với đất đai.

4. Điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực:

Trên thực tế, có những hợp đồng bị vô hiệu dẫn đến việc tranh chấp hợp đồng không được giải quyết thông qua tòa án cũng như các cơ quan pháp luât khác. Khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, bạn cần lưu ý cần đảm bảo các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực, xin mời xem bài viết Các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực của chúng tôi.

Các điều khoản cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa là những điều khoản không thể thiếu được. Nếu không thoả thuận được những điều khoản đó thì hợp đồng mua bán hàng hóa không thể giao kết được.

Ngoài ra, có những điều khoản không phải là điều khoản cơ bản đối với hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng các bên thấy cần phải thoả thuận được điều khoản đó mới giao kết hợp đồng thì những điều khoản này cũng trở thành điều khoản cơ bản của hợp đồng đó.

Các điều khoản cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa là:

a. Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa:

Các bên thỏa thuận về tính hợp pháp của loại hàng hóa mà mình chuẩn bị mua bán. Bởi không phải mọi loại hàng hóa đều được đưa vào kinh doanh, mua bán. Có những hàng hóa bị cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện. Đối với loại hàng hóa kinh doanh có điều kiện thì phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật mới được thực hiện việc mua bán. Đây là bước nền tảng để thực hiện việc mua bán hàng hóa.

Các điều kiện về số lượng, chất lượng, cách thức bảo quản, đóng gói… hàng hóa do các bên thỏa thuận lúc xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa. Hầu hết hàng hóa đưa vào mua bán trong thị trường phải có nhãn hàng hóa. Nội dung phải thể hiện trên nhãn hàng hóa bao gồm: tên hàng, tên và địa chỉ của người chịu trách nhiệm về hàng hóa và xuất xứ hàng hóa. Ngoài ra, tùy theo từng loại hàng hóa mà có những nội dung cụ thể như: hạn sử dụng, thành phần định lượng, thông số kĩ thuật, thông tin hệ số an toàn… Nhãn hàng hóa phải được đặt ở vị trí dễ quan sát, bảo đảm thông tin ghi trên nhãn hàng hóa là chính xác.

b. Hàng hóa không phù hợp với hợp đồng

Hợp đồng cần quy định rõ về tiêu chuẩn hàng hóa như trên để khi xẩy ra trường hợp hàng hóa không như thỏa thuận thì hợp đồng là căn cứ để bên mua từ chối mua hàng.

Trường hợp hợp đồng không có những quy định cụ thể về hàng hóa thì giải quyết theo quy định của pháp luật, theo đó hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau:

hàng hóa không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa cùng chủng loại

hàng hóa không phù hợp với mục đích mà bên mua đã yêu cầu

hàng hóa không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hóa đó…

c. Hàng hóa khiếm khuyết:

Bên bán phải chịu trách nhiệm về khiếm khuyết của hàng hóa có trước thời điểm hàng hóa đã được giao cho bên mua, kể cả khi khiếm khuyết đó được phát hiện sau khi bên mua đã nhận hàng.

Trường hợp trong lúc kí hợp đồng, bên mua đã biết về những khiếm khuyết của hàng hóa nhưng vẫn chấp nhận kí thì bên bán không chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hóa.

Nếu như sau khi bên mua nhận hàng về mà khiếm khuyết của hàng hóa mới phát sinh trong quá trình sử dụng do lỗi của bên bán thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán chịu trách nhiệm.

d. Giá trong hợp đồng mua bán hàng hóa:

Cần ghi rõ tổng giá trị của hợp đồng. Doanh nghiệp cần lưu ý đồng tiền thanh toán là Việt Nam đồng, trừ một số trường hợp được Nhà nước cho phép sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra một điều khoản mà các chủ thể hay bỏ qua đó là cách xác định giá khi có biến động, khi có sự kiện bất khả kháng. Điều khoản này rất quan trọng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

đ. Phương thức và thời gian thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa:

Các bên cần ghi rõ phương thức thanh toán (chuyển khoản hay tiền mặt) và thời gian thanh toán cụ thể với số tiền thanh toán của từng đợt. Để đảm bảo an toàn, các bên có thể mở LC hoặc sử dụng các biện pháp bảo lãnh tại ngân hàng cho việc thanh toán.

e. Giao nhận hàng hóa: Thời điểm giao hàng:

Đối với bên mua, cần quy định rõ thời điểm cụ thể phải giao hàng hóa. Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng. Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thỏa thuận và thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng. Một số hợp đồng không quy định về thời điểm giao hàng, hoặc ghi thời hạn giao hàng chung chung, gây khó khăn cho bên bán cũng như bên mua trong việc giao nhận hàng. Ví dụ như, trong hợp đồng ghi thời hạn giao hàng vào tháng 11/2012. Trường hợp này, bên bán có quyền giao hàng vào bất kì thời điểm nào trong tháng 11 và thông báo trước với bên mua.

Nếu như bên bán giao hàng trước thỏa thuận thì bên mua có quyền chấp nhận hoặc từ chối nhận hàng. Do đó, việc giao hàng cần phải có thỏa thuận giữa các bên và và phương án giải quyết khi giao hàng không đúng hạn.

Địa điểm giao hàng:

Về địa điểm giao hàng, người bán có nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm thỏa thuận. Tuy nhiên, một số hợp đồng lại không có thỏa thuận về vấn đề này. Theo quy định pháp luật địa điểm giao hàng được thỏa thuận như sau:

Nếu như quá trình vận chuyển hàng hóa từ bên bán đến bên mua qua nhiều trung gian vận chuyển thì bên bán phải giao hàng cho bên trung gian vận chuyển đầu tiên đúng thỏa thuận. Và sau khi bên bán giao hàng cho bên vận chuyển đầu tiên, mặc dù bên mua chưa nhận được hàng nhưng nghĩa vụ giao hàng của bên bán đã thực hiện xong và mọi trách nhiệm sự hư hỏng hàng hóa sẽ do bên trung gian gánh vác.

Nếu như lúc kí hợp đồng, bên bán biết địa điểm kho chứa hàng, địa điểm xếp hàng hoặc nơi sản xuất, chế tạo hàng hóa của bên mua thì bên bán phải giao hàng đến địa điểm đó. Trên thực tế bên bán thường vi phạm nội dung này, cho rằng trong hợp đồng không ghi rõ địa điểm giao hàng nên bên bán vẫn trữ hàng tại kho của mình và yêu cầu bên mua đến nhận.

Nếu không thuộc hai trường hợp trên, bên mua phải đến địa điểm kinh doanh của bên bán, nếu không có địa điểm kinh doanh thì đến nơi cư trú của bên bán lúc kí hợp đồng để lấy hàng. Trường hợp này, bên mua chịu rủi ro cao hơn do phải bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển từ nơi giao hàng của bên bán về kho, địa điểm kinh doanh của bên mua.

f. Kiểm tra hàng hóa, nghiệm thu, bàn giao:

Kiểm tra hàng hóa là một khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hóa. Bước này được thực hiện trước khi giao hàng nhằm bảo đảm hàng hóa giao đúng hợp đồng, hạn chế được tranh chấp phát sinh. Bên bán phải tạo điều kiện, bảo đảm cho bên mua tiến hành kiểm tra hàng hóa. Nếu như hợp đồng có quy định về vận chuyển hàng hóa, thì việc kiểm tra hàng hóa tiến hành khi hàng hóa được chuyển tới địa điểm đến. Sau khi kiểm tra, bên mua phải thông báo về tình trạng hàng hóa, về các khiếm khuyết của hàng hóa mà bên mua biết. Nếu như bên mua không thông báo thì bên bán không phải chịu trách nhiệm đối với những khiếm khuyết này. Tuy nhiên, có những khiếm khuyết bên mua không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra thông thường. Trường hợp này, bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm.

Nếu như bên mua không thực hiện việc kiểm tra hàng hóa trước khi bên bán giao hàng theo thỏa thuận thì bên bán có quyền giao hàng và bên mua phải nhận hàng theo hợp đồng.

Nếu như bên bán giao hàng thiếu so với hợp đồng nhưng vẫn còn thời hạn giao hàng thì bên bán vẫn có thể giao phần hàng còn thiếu trong thời hạn còn lại. Trường hợp bên bán giao thừa hàng thì bên mua có quyền từ chối hoặc chấp nhận số hàng thừa đó và phải thanh toán theo giá thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo giá khác do các bên thỏa thuận.

g. Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên:

Các bên cần chi tiết hóa các nghĩa vụ trong giai đoạn trước, trong và sau khi thực hiện hợp đồng cũng như thời điểm chấm dứt cụ thể.

Để hiểu rõ hơn, bạn hãy đọc bài viết của chúng tôi về Nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa.

h. Ràng buộc trách nhiệm:

Các bên có thể dự trù các tình huống đối phương có thể vận dụng để không thực hiện hợp đồng mà soạn thảo những điều khoản thích hợp, như trách nhiệm của bên mua khi không thanh toán, hoặc trách nhiệm của bên bán khi không chuyển giao hàng hóa của hợp đồng.

i. Thời hạn thực hiện hợp đồng:

Trong hợp đồng cần quy định rõ thời điểm bắt đầu có hiệu lực và chấm dứt, hoặc những căn cứ phát sinh dẫn đến hợp đồng chấm dứt hiệu lực.

6. Các điều khoản thông thường của hợp đồng mua bán hàng hóa

Các điều khoản thông thường của hợp đồng mua bán hàng hóa là những điều khoản được pháp luật quy định trước. Nếu khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên không thoả thuận những điều khoản này thì vẫn coi như hai bên đã mặc nhiên thoả thuận và được thực hiện như pháp luật quy định.

Các điều khoản thông thường của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là:

Điều khoản về các trường hợp bất khả kháng

Điều khoản chấm dứt hợp đồng

Điều khoản về giải quyết tranh chấp

Điều khoản về hiệu lực hợp đồng

Điều khoản phạt vi phạm: các bên có thể cân nhắc thỏa thuận các chế tài khi vi phạm hợp đồng. Bạn có thể đọc bài viết Các chế tài thương mại của chúng tôi.

7. Các điều khoản tùy nghi của hợp đồng mua bán hàng hóa

Khi tiến hành giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên còn có thể thoả thuận thêm một số điều khoản khác nhằm làm cho nội dung của hợp đồng được đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Các điều khoản thông thường của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là:

Điều khoản về quyền sở hữu trí tuệ

Điều khoản về bảo mật thông tin

Điều khoản về chuyển giao, chuyển nhượng hợp đồng

….

Hợp đồng mua bán hàng hóa rất đa dạng và tương đối phức tạp, đòi hỏi không chỉ kiến thức, kỹ năng, mà còn kinh nghiệm đàm phán, soạn thảo và thực thi hợp đồng. Có một sự thật là không ít doanh nghiệp nước ta hào phóng mua sắm, chi tiêu tiệc tùng… nhưng lại phó thác cho nhân viên văn phòng, kết toán soạn thảo những hợp đồng theo mẫu tìm kiếm trên mạng để tiết kiệm chi phí sử dụng dịch vụ luật sư. Thế nên, đa phần họ thường ký những hợp đồng dịch vụ đầy rủi ro pháp lý, phát sinh tranh chấp đôi khi làm doanh nghiệp “khuynh gia bại sản” !!!

8. Dịch vụ soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa của Luật Thái An a. Các loại hợp đồng mua bán hàng hóa chúng tôi soạn:

Chúng tôi chuyên soạn thảo các loại hợp đồng, trong đó có rất nhiều loại hợp đồng mua bán hàng hóa như sau:

Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có địa vị pháp lý khác nhau:

hợp đồng mua bán hàng hóa giữa 3 bên

hợp đồng mua bán hàng hóa giữa 2 bên

hợp đồng mua bán hàng hóa giữa cá nhân với cá nhân

hợp đồng mua bán hàng hóa giữa pháp nhân với pháp nhân

hợp đồng mua bán hàng hóa giữa pháp nhân với cá nhân

hợp đồng mua bán hàng hóa độc quyền

hợp đồng mua bán hàng hóa trả góp

hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch

Hợp đồng mua bán các loại hàng hóa khác nhau:

hợp đồng mua bán xe, hợp đồng mua bán phương tiện vận chuyển

hợp đồng mua bán quần áo, hợp đồng mua bán thức ăn

hợp đồng mua bán bàn ghế, hợp đồng mua bán nội thất

hợp đồng mua bán cây cối, hợp đồng mua bán lúa gạo, hợp đồng mua bán gia súc, hợp đồng mua bán lâm sản, hợp đồng mua bán nông sản, hợp đồng mua bán dược phẩm

hợp đồng mua bán phế liệu, hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng, hợp đồng mua bán vật tư

hợp đồng mua bán điện, hợp đồng mua bán xăng dầu

hợp đồng mua bán máy móc, hợp đồng mua bán phụ tùng, hợp đồng mua bán thiết bị

hợp đồng mua bán ngoại tệ

hợp đồng mua bán phần mềm

hợp đồng thương mại

b. Giá dịch vụ soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa

Bạn vui lòng tham khảo bảng giá dịch vụ tại LINK NÀY

c. Quy trình cung cấp dịch vụ soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa

Bạn vui lòng tham khảo quy trình cung cấp dịch vụ tại LINK NÀY

d. Thời gian cung cấp dịch vụ soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa

Thời gian soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa là 3 – 5 ngày kể từ khi khách hàng cung cấp đầy đủ thông tin.

Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Và Những Lưu Ý Khi Soạn Thảo

Hợp đồng mua bán hàng hóa là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Theo quy định tại Điều 430 Bộ Luật Dân sự 2024, thì Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

Hợp đồng mua bán hàng hóa là gì?

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

Cũng có những quan điểm cho rằng, tài sản chính là hàng hóa và ngược lại. Quan điểm này đang có những tranh luận, nên chúng tôi vẫn tách các khái niệm này để thuận tiện hơn trong cách hiểu.

Theo quy định tại Điều 24 Luật Thương mại 2005 về hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá, thì “Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng MBHH mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó”.

Đặc trưng trong hợp đồng mua bán hàng hóa mà bạn cần lưu ý khi so sánh với các loại hợp đồng khác, là việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa.

Yếu tố chuyển quyền sở hữu hàng hóa sẽ kéo theo một loạt các các vấn đề khác, như: (i) thời điểm chuyển giao quyền sở hữu (không nên nhầm lẫn với thời điểm giao hàng), (ii) thời điểm chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa, (iii) trách nhiệm của bên bán sau khi giao hàng và sau thời điểm chuyển giao quyền sở hữu (hai thời điểm này có thể khác nhau), (iv) bảo lưu quyền sở hữu sau khi chuyển giao hàng hóa ……

Cũng như các loại hợp đồng khác, trong hợp đồng MBHH, yếu tố thỏa thuận và tự nguyện sẽ có tính tiên quyết. Nếu bất kỳ bên nào chứng minh được rằng, hợp đồng MBHH được ký kết và thực hiện không trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện, tự do ý chí thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó là vô hiệu.

Hợp đồng MBHH thường được ký kết bởi hai bên, nhưng cũng có thể được ký kết giữa nhiều bên khác nhau, tùy thuộc vào loại hàng hóa, tính chất giao dịch ….

Cần lưu ý gì khi soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa?

Khi soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa, cần lưu ý một số nội dung chính như sau:

Thứ nhất: Về chủ thể hợp đồng.

Cần đưa vào hợp đồng các thông tin về chủ thể một cách đầy đủ, có tính xác thực. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, nhiều doanh nghiệp có địa chỉ đăng ký ở một nơi, nhưng lại hoạt động và giới thiệu địa chỉ ở một địa điểm khác. Do đó, kinh nghiệm cho thấy là nên ghi theo địa chỉ thể hiện trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hoặc có thể ghi cả thông tin đăng ký và thông tin hoạt động thực tế.

Chủ thể hợp đồng có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Với chủ thể là cá nhân, thì phải là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật để tham gia vào quan hệ mua bán.

Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, một bên chủ thể có thể là thể nhân hoặc pháp nhân nước ngoài, nên việc xác định tư cách chủ thể của hợp đồng sẽ phụ thuộc vào pháp luật của Quốc gia nơi chủ thể đó đăng ký. Do vậy, khi soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài, cần có sự tham vấn hoặc hỗ trợ bởi Luật sư kinh tế quốc tế có nhiều kinh nghiệm và uy tín để tránh bị lừa đảo.

Người ký kết hợp đồng phải là người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và điều lệ doanh nghiệp, mà thông thường là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Theo kinh nghiệm soạn thảo hợp đồng, thì trước khi chính thức ký kết, các bên nên có một bộ hồ sơ pháp lý của mỗi bên chủ thể, trong đó lấy Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp làm cơ sở để xác định người có thẩm quyền ký kết hợp đồng. Nếu một bên ký kết ủy quyền cho người khác không phải là người đại diện theo pháp luật thì cần có giấy ủy quyền có hiệu lực kẹp cùng với bản hợp đồng.

Thứ hai: Về đối tượng hợp đồng

Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa. Do vậy, cần có sự mô tả một cách chi tiết, rõ ràng và đầy đủ về hàng hóa. Các thông tin cần mô tả gồm tối thiểu các thông tin như: Số lượng, chủng loại, quy cách, yêu cầu bảo quản, tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn ….

Thông thường, trong giao dịch mua bán hàng hóa, các bên sẽ ký kết hợp đồng nguyên tắc về việc mua bán hàng hóa, và trong hợp đồng nguyên tắc đó sẽ không đề cập cụ thể tới thông số chi tiết của hàng hóa mà tách riêng ra trong một phụ lục cho mỗi đơn hàng (PO).

Do vậy, với loại hợp đồng nguyên tắc này, các bên cần chuẩn bị sẵn mẫu PO để đảm bảo rằng, các thông tin cả trong PO và trong hợp đồng nguyên tắc có khả năng thể hiện một cách đầy đủ, chi tiết và rõ ràng về hàng hóa.

Đối với những loại hàng hóa đặc biệt, thì hợp đồng mua bán có thể ghi trực tiếp hoặc tách riêng một phụ lục để mô tả về hàng hóa đó. Nếu hàng hóa thông thường, thì có thể ghi ngắn gọn hơn và dẫn chiếu tới những thông lệ mua bán mà hai bên đã xác lập trước đó.

Việc trình bày thông tin về đối tượng mua bán không chỉ giúp các bên thuận lợi trong quá trình thực hiện hợp đồng mà còn có thể giúp bên thứ ba (trọng tài, Tòa án) xác định rõ quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi bên khi có tranh chấp xảy ra.

Thói quen lập hợp đồng một cách sơ sài, chiếu lệ và theo thói quen sẽ trở nên cực kỳ rủi ro khi có tranh chấp phát sinh.

Việc mô tả rõ các thông tin về hàng hóa còn là cơ sở để xác định chất lượng hàng hóa sau khi giao hàng.

Nếu bên bán là nhà sản xuất, thì hợp đồng có thể tham chiếu tới các tiêu chuẩn mà nhà sản xuất đã công bố cho loại hàng hóa đó, hoặc các bên có thể lấy bản công bố đó lập thành phụ lục hợp đồng.

Trong trường hợp bên bán chỉ là trung gian thương mại (nhà nhập khẩu hay nhà phân phối), thì hợp đồng cần có những quy định ràng buộc nghĩa vụ của bên bán về quyền sở hữu, cơ chế chịu trách nhiệm và trách nhiệm về chất lượng sau khi giao hàng …..

Thứ ba: Về giá cả hợp đồng, phương thức và thời gian thanh toán

Giá cả hợp đồng do các bên tự do thỏa thuận và ghi nhận và hợp đồng. Các bên có thể tách điều khoản về giá cả thành một phụ lục riêng.

Hợp đồng mua bán hàng hóa cần làm rõ được các yếu tố cấu thành trong giá bán đã bao gồm các chi phí phát sinh (như chi phí giao hàng, bảo hiểm, thuế …….) hay chưa. Kinh nghiệm mà các Luật sư giải quyết tranh chấp của chúng tôi đã chỉ ra rằng, các tranh chấp về giá thường xuất phát từ việc các bên chỉ ghi nhận một cách chung chung về giá mà không làm rõ các yếu tố cấu thành của giá.

Hợp đồng cũng cần có các quy định cụ thể về phương thức và thời gian thanh toán để đảm bảo rằng, bên mua sẽ có nghĩa vụ thanh toán một cách đầy đủ, đúng hạn. Quy định này còn là cơ sở để xác định nghĩa vụ thanh toán khoản tiền phạt trả chậm trong trường hợp vi phạm.

Thứ tư: Về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu

Chuyển giao quyền sở hữu là nội dung quan trọng nhất trong hợp đồng mua bán hàng hóa, nhưng lại thường bị bỏ quên. Với các Luật sư có kỹ năng soạn thảo hợp đồng, thì điều khoản về chuyển giao quyền sở hữu và chuyển giao rủi ro là những nội cứng nhất thiết phải quy định.

Về vấn đề này, cần lưu ý một số quy định của pháp luật như sau:

Điều 238 Bộ Luật dân sự 2024 quy định về “Khi chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật hoặc thông qua việc để thừa kế thì quyền sở hữu đối với tài sản của người đó chấm dứt kể từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người được chuyển giao”.

Như vậy, ở đây có vài điểm cần lưu ý:

Thứ nhất: Nếu trong hợp đồng mua bán hàng hóa có quy định về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với hàng hóa thực hiện theo thỏa thuận của các bên.

Thứ hai: Nếu trong hợp đồng MBHH không có quy định, thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với hàng hóa sẽ là thời điểm tài sản được chuyển giao, tức là thời điểm mà bên mua hoặc đại diện hợp pháp của bên mua nhận được tài sản từ bên bán.

Giải quyết các nội dung về chuyển quyền sở hữu sẽ hết sức quan trọng trong nhiều tình huống. Ví dụ: A bán cho B một hòn đá trang trí nặng 50kg. Trong lúc chờ giao hàng, chẳng may hòn đã bị tuột khỏi dây và lăn xuống đè chết một người ở phía dưới. Vậy, trách nhiệm bồi thường thuộc về ai?

Hoặc ví dụ khác: A bán cho B một khối gỗ với giá là 100 triệu đồng. Trong thời gian chờ thanh toán (Gỗ đang gửi ở kho của bên thứ ba), thì giá gỗ đột ngột tăng lên 150tr và A muốn phá hợp đồng để bán cho người khác. Vậy xử lý trách nhiệm của các bên với ý định phá hợp đồng sẽ như thế nào?.

Thứ năm: Về bảo hành hàng hóa

Điều 446 Bộ Luật dân sự 2024 quy định “Bên bán có nghĩa vụ bảo hành đối với vật mua bán trong một thời hạn, gọi là thời hạn bảo hành, nếu việc bảo hành do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Thời hạn bảo hành được tính kể từ thời điểm bên mua có nghĩa vụ phải nhận vật”.

Các bên có thể thỏa thuận về thời hạn bảo hành đối với hầu hết các loại hàng hóa. Tuy nhiên, một số loại hàng hóa (như nhà ở, công trình xây dựng …) thì thời hạn bảo hành được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Do đó, các bên nên kiểm tra kỹ quy định của pháp luật và thông lệ của thị trường để đưa ra các quy định về bảo hành một cách hợp lý.

Mẫu hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng MBHH có nhiều loại khác nhau, tùy thuộc vào loại tài sản và hình thức giao dịch (Mua bán một lần hoặc mua bán theo nhiều đợt), nên sẽ có các mẫu hợp đồng khác nhau. Quý khách không nên sử dụng các mẫu hợp đồng có sẵn trên mạng Internet nếu chưa hiểu đầy đủ về mẫu hợp đồng đó và giao dịch mà mình đang chuẩn bị thực hiện.

Định Nghĩa Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Theo Quy Định Hiện Hành

Định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định hiện hành. Chào Ban biên tập Thư Ký Luật. Tôi tên là Khánh Linh, hiện đang là chuyên viên xuất nhập khẩu. Hôm vừa rồi, có khách hàng hỏi tôi rằng: Hợp đồng mua bán hàng hóa là gì? Ban biên tập có thể tư vấn giúp tôi được không? Mong nhận được tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật. Chân thành cảm ơn!

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán, theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho người mua và nhận tiền thanh toán, còn người mua mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và thanh toán tiền hàng cho người bán.

Theo quy định của pháp luật hiện nay, hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định tại Bộ Luật Dân sự 2024 và Luật Thương mại năm 2005.

Theo quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự 2024: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”.

Còn theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 Luật thương mại 2005: “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận”.

Hợp đồng mua bán hàng hóa do Luật thương mại 2005 điều chỉnh có mục đích sinh lợi, còn hợp đồng mua bán tài sản trong Bộ luật dân sự 2024 chỉ mục đính tiêu dùng.

Về chủ thể: Hợp đồng mua bán hàng hóa trong luật thương mại chủ thể tham gia một trong các bên phải là thương nhân, còn trong hợp đồng dân sự thì không yêu cầu chỉ cần đáp ứng đủ năng lực hành vi dân sự có thể giao dịch.

Trân trọng!

Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa

Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.

Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. LTM không đưa ra định nghĩa về HĐ mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm HĐ mua bán tài sản trong luật dân sự để xác định bản chất của HĐ mua bán hàng hóa. Theo Điều 428 BLDS 2005, HĐ mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán. Hàng hóa được hiểu là động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, và các vật gắn liền với đất. Như vậy, hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản. Từ đó cho thấy, HĐ mua bán hàng hóa trong thương mại một dạng cụ thể của HĐ mua bán tài sản. Điểm phân biệt giữa HĐ mua bán hàng hóa trong thương mại và HĐ mua bán tài sản khác là: đối tượng hàng hóa, và mục đích sinh lời.

Căn cứ vào yếu tố chủ thể, đối tượng, nơi xác lập và thực hiện hợp đồng, HĐ mua bán hàng hóa được chia thành HĐ mua bán hàng hóa trong nước và HĐ mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài (HĐ mua bán hàng hóa quốc tế). Về HĐ mua bán hàng hóa quốc tế, nó không được định nghĩa trong LTM 2005, nhưng qua quy định tại Điều 758 BLDS về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, có thể suy ra rằng một hợp đồng được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi có một trong các yếu tố sau:

+ Căn cứ vào yếu tố chủ thể, hợp đồng được giao kết bởi các bên không cùng quốc tịch.

+ Căn cứ vào yếu tố đối tượng, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng đang tồn tại ở nước ngoài.

+ Căn cứ vào nơi xác lập và thực hiện hợp đồng, hợp đồng được giao kết ở nước ngoài (nước mà các bên chủ thể giao kết hợp đồng không mang quốc tịch) và có thể được thực hiện ở nước mình hay nước thứ ba.

Điều cần chú ý ở HĐ mua bán hàng hóa quốc tế là các bên tham gia giao kết hợp đồng sẽ rất dễ gặp phải các rủi ro đặc thù như xung đột pháp luật, do quá trình vận chuyển, thanh toán, thực thi cam kết hợp đồng. Vì vậy, các bên cần thỏa thuận và soạn thảo ra một bản hợp đồng chi tiết. Khoản 2 Điều 27 LTM quy định rằng HĐ mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản.

1.2. Đặc điểm:

Có thể xem xét các đặc điểm của HĐ mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với HĐ mua bán tài sản theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung.

nHĐ mua bán hàng hóa cũng có những đặc điểm chung của HĐ mua bán tài sản trong dân sự như:

+ Là hợp đồng ưng thuận – tức là nó được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của HĐ không phụ thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành động của bên bán nhắm thực hiện nghĩa vụ của HĐ mua bán đã có hiệu lực.

+ Có tính đền bù – bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán.

Với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa, HĐ mua bán hàng hóa có những đặc điểm nhất định, xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa:

+ Về chủ thể, HĐ mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân. LTM 2005 quy định thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mai một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của HĐ mua bán hàng hóa. Theo khoản 3 Điều 1 LTM, hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM khi chủ thể này lựa chọn áp dụng LTM.

+ Về hình thức, HĐ mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết. Trong một số trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản, ví dụ như HĐ mua bán hàng hóa quốc tế- phải được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như điện báo, TELEX, FAX hay thông điệp dữ liệu.

+ Về đối tượng: HĐ mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa. Theo nghĩa thông thường có thể hiểu hàng hóa là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người. Càng ngày cùng với sự phát triển của xã hội, hàng hóa càng trở nên phong phú. Khái niệm hàng hóa được quy định trong luật pháp các nước hiện nay dù có những khác biệt nhất định song đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông. Một số cách hiểu về phạm vi hàng hóa là đối tượng của mua bán thương mại trong pháp luật các nước như sau:

Theo luật thương mại của đa số các nước và trong nhiều điều ước quốc tế như Hiệp định GATT, Hiệp định thành lập khối thị trường chung châu Âu…; hàng hóa – đối tượng của mua bán thương mại gồm những tài sản có hai thuộc tính cơ bản là: có thể đưa vào lưu thông và có tính chất thương mại.

Theo luật Hoa Kỳ, hàng hóa bao gồm mọi thứ có thể dịch chuyển quyền sở hữu được vào thời gian xác định thep hợp đồng mua bán hàng hóa; hàng hóa có thể đã có ở hiện tại hoặc sẽ có trong tương lai.

Theo LTM Việt Nam 2005, hàng hóa là đối tượng của quan hệ mua bán có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại.

1.3. Nội dung

Nội dung của hợp đồng nói chung là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng. Nội dung của HĐ mua bán hàng hóa là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa.

Trong quan hệ mua bán hàng hóa, các bên không chỉ bị ràng buộc bởi những điều khoản đã thỏa thuận với nhau mà còn chịu sự ràng buộc bởi những quy định của pháp luật, tức là những điều khoản pháp luật có quy định nhưng các bên không thỏa thuận trong hợp đồng.

1.3.1. Quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua

a.Nghĩa vụ của bên bán:

Nghĩa vụ chính của bên bán theo hợp đồng mua bán hàng hóa chính là nghĩa vụ giao hàng. Nghĩa vụ giao hàng bao hàm những nội dung sau:

Giao hàng đúng đối tượng và chất lượng: Bên bán phải giao hàng đúng đối tượng và chất lượng theo thỏa thuận trong hợp đồng và theo quy định của pháp luật. Chất lượng của hàng hóa có thể được thỏa thuận hoặc xác định theo nhiều cách khác nhau: theo mẫu, theo mô phỏng, trên cơ sở tiêu chuẩn hóa, theo giám định,… Hàng hóa phải đảm bảo không có các khuyết tật có thể nhìn thấy được khi bàn giao (khuyết tật bên ngoài) và cả những khuyết tật không thể nhìn thấy ngay được mà chỉ có thể phát hiện trong quá trình sử dụng (khuyết tật ẩn giấu bên trong). Trường hợp không thể xác định một cách rõ ràng được đối tượng là hàng hóa được giao có phù hợp với hợp đồng hay không thì theo quy định của LTM 2005, hàng hóa được coi là không phù hợp với hợp đồng nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hóa cùng chủng loại.

+ Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng.

+ Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hóa đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hóa trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường loại hàng hóa đó.

+ Không đảm bảo chất lượng như chất lượng mẫu hàng hóa mà bên bán đã giao cho bên mua.

Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, nếu không trách nhiệm của các bên nếu hàng hóa bàn giao không phù hợp với hợp đồng sẽ được quyết định căn cứ vào Điều 39 và Điều 41 LTM 2005.

Giao hàng đúng thời hạn và địa điểm:

Các bên thường thỏa thuận về thời điểm giao hàng trong hợp đồng. Nếu các bên không thỏa thuận vấn đề này trong hợp đồng thì áp dụng quy định của pháp luật hoặc theo tập quán. Nếu các bên không thỏa thuận về thời điểm giao hàng cụ thể mà chỉ nêu thời hạn giao hàng thì bên bán có thể giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải báo trước cho bên mua. Nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì theo quy định tại Điều 37 LTM 2005, bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng.

Bên bán phải giao hàng đúng địa điểm theo thỏa thuận. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận trong hợp đồng thì địa điểm giao hàng sẽ được xác định như sau:

+ Nếu hàng hóa là vật gắn liền với đất đai thì bên bán phải giao hàng tại nơi có hàng hóa đó.

+ Nếu hợp đồng có quy định về vận chuyển hàng hóa thì bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên. Trong thực tế, bên bán có thể không trực tiếp giao hàng cho bên mua mà việc giao hàng có thể được thực hiện thông qua người thứ ba (như qua người làm dịch vụ vận chuyển hàng hóa…). Các bên có thể thỏa thuận về vấn đề rủi ro đối với hàng hóa khi giao hàng qua người thứ ba. Nếu không có thỏa thuận thì bên bán được coi là đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sau khi đã giao hàng cho người thứ ba theo các điều kiện giao hàng do hai bên thỏa thuận.

+ Nếu hợp đồng không quy định về vận chuyển hàng hóa; nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng, các bên biết được địa điểm kho chứa hàng, địa điểm xếp hàng hoặc nơi sản xuất, chế tạo hàng hóa thì bên bán phải giao hàng tại địa điểm đó.

+ Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinh doanh của bên bán, nếu bên bán không có địa điểm kinh doanh thì phải giao hàng tại nơi cư trú của bên bán được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng.

Kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng:

Để ngăn ngừa những sai sót trong việc giao hàng và tăng khả năng thực hiện hiệu quả việc mua bán, việc kiểm tra hàng hóa trước khi giao là một yêu cầu cần thiết đối với giao dịch mua bán hàng hóa trong thương mai, và đây là một điểm khác biệt của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại với hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng thì bên bán phải tạo điều kiện cho bên mua thực hiện việc kiểm tra của mình. Bên mua phải thực hiện việc kiểm tra hàng hóa trong một thời gian nhắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép. Nếu bên mua không thực hiện việc kiểm tra hàng hóa theo thỏa thuận thì đến thời hạn giao hàng, bên bán có quyền giao hàng theo hợp đồng. Khi kiếm tra nếu bên mua phát hiện hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì phải thông báo cho bên bán trong một thời hạn hợp lý. Nếu bên mua không thực hiện việc thông báo này thì bên bán không phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hóa, trừ khi những khiếm khuyết đó không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán đã biết hoặc phải biết về những khiếm khuyết đó mà không thông báo cho bên mua.

Theo Điều 62 LTM 2005, quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ bên bán sang bên mua từ thời điểm chuyển giao hàng hóa, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa có thể diễn ra ở những thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào tính chất của việc chuyển giao hàng hóa và phương thức mua bán.

Theo tính chất của việc chuyển giao hàng hóa:

+ Thông thường, đối với hàng hóa khi giao nhận được dịch chuyển về mặt cơ học, quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao cho người mua khi người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng.

+ Đối với hàng hóa mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với hàng hóa đó.

+ Trong trường hợp hàng hóa không dịch chuyển về mặt cơ học khi giao dịch và cũng không có chứng từ về hàng hóa, quyền sở hữu hàng hóa được coi là đã chuyển giao cho bên mua tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực.

Theo phương thức mua bán:

+ Trường hợp hàng hóa được mua theo phương thức mua sau khi sử dụng thử thì trong thời gian sử dụng thử, hàng hóa vẫn thuộc sở hữu của bên bán. Nhưng trong thời gian này, quyền sở hữu của bên bán bị hạn chế (không được bán, tặng cho, cho thuê, trao đổi, thế chấp, cầm cố hàng hóa) khi bên mua chưa trả lời.

+ Trường hợp hàng hóa được mua theo phương thức trả chậm thì bên bán được bảo lưu quyền sở hữu của mình đối với hàng hóa đã giao cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ khi có thỏa thuận khác.

Nghĩa vụ bảo hành hàng hóa

Bên cạnh nghĩa vụ quan trọng nhất là bàn giao hàng hóa, bên bán còn có một nghĩa vụ khác, đó là bảo hành hàng hóa, tức là trong một thời hạn nhất định, bên bán phải chịu trách nhiệm về hàng hóa sau khi đã giao hàng hóa cho bên mua. Pháp luật quy định trong trường hợp hàng hóa có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận. Thời hạn bảo hành có thể do các bên tự xác định, cũng có thể được pháp luật quy định. Trong trường hợp pháp luật đã quy định thì thời hạn đó mang tính bắt buộc và các bên chỉ được phép thỏa thuận để thay đổi tăng thêm thời hạn đó mà thôi. Trong thời hạn bảo hành nếu bên mua phát hiện có khuyết tật của hàng hóa thì có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, mọi phí tổn về việc sửa chữa do bên bán chịu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu bên bán không sửa chữa được hoặc không sửa chữa xong trong thời hạn hai bên thỏa thuận thì bên mua có quyền yêu cầu đổi hàng khác, giảm giá, hoặc trả lại hàng và lấy lại tiền. LTM 2005 không quy định cụ thể những vấn đề về bảo hành hàng hóa, nếu các bên không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của BLDS, Điều 446 – 448.

b.Nghĩa vụ cơ bản của bên mua:

Nhận hàng và thanh toán tiền là nghĩa vụ cơ bản của bên mua, tương xứng với nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóa của bên bán.

Nghĩa vụ nhận hàng: Nhận hàng được hiểu là việc bên mua tiếp nhận trên thực tế hàng hóa từ bên bán. Bên mua phải thực hiện những công việc hợp lý để bên bán giao hàng, tùy từng trường hợp cụ thể công việc hợp lý đó có thể là: hỗ trợ bên bán về thủ tục giao hàng, hướng dẫn về phương thức vận chuyển, điều kiện bốc dỡ hàng hóa,… Cần lưu ý rằng việc nhận hàng trên thực tế không đồng nghĩa với việc bên mua đã chấp nhận về hàng hóa được giao. Sau khi hoàn thành việc giao nhận, bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hóa đã được giao, nếu đó là những khiếm khuyết không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường; và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó mà không thông báo cho bên mua.

Khi bên bán đã sẵn sàng giao hàng theo hợp đồng mà bên mua không tiếp nhận hàng thì coi như đã vi phạm hợp đồng và phải chịu các biện pháp chế tài theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Theo quy định của BLDS, trong trường hợp này, bên bán phải áp dụng các biện pháp cần thiết trong khả năng có thể và với chi phí hợp lý để lưu giữ, bảo quản hàng hòa, và có quyền yêu cầu bên mua chi trả cho chi phí đã bỏ ra. Đối với hàng hóa có nguy cơ bị hư hỏng thì bên bán có quyền bán hàng hóa và trả tiền cho bên mua khoản tiền thu được từ việc bán hàng hóa đó sau khi đã trừ đi chi phí hợp lý để bảo quản và bán hàng hóa.

Nghĩa vụ thanh toán tiền: Đây là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Điều khoản thanh toán trong hợp đồng được các bên thỏa thuận thông thường bao gồm những nội dung cụ thể về đồng tiền thanh toán, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm thanh toán, trình tự và thủ tục thanh toán,… Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của pháp luật thương mại về thanh toán trong hợp đồng:

– Địa điểm thanh toán: Nếu không được thỏa thuận trong hợp đồng thì sẽ xác định địa điểm thanh toán theo quy định tại Điều 54 LTM 2005.

– Thời hạn thanh toán: Được xác định theo quy định tại Điều 55 và khoản 3 Điều 50 LTM 2005.

– Xác định giá: Điều 52

– Chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán: Điều 306

– Ngừng thanh toán: Điều 51

Để được tư vấn pháp luật, Quý khách hàng vui lòng liên hệ:

Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Theo Quy Định Pháp Luật Dân Sự

Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được xác lập bằng lời nói, bằng hành vi hoặc bằng văn bản.

Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng thương mại cơ bản, và nó cũng là một trường hợp của hợp đồng mua bán tài sản. Nên các điều kiện chung về chủ thể, hình thức, đối tượng, thời điểm chuyển nhượng quyền sở hữu hay các loại hợp đồng đặc biệt thì vẫn áp dụng theo hợp đồng mua bán dân sự.

Vì đối tượng là hàng hóa nên sẽ có thêm các điều kiện riêng biệt khác theo quy định của pháp luật thương mại.

Cơ sở pháp lý Hợp đồng mua bán hàng hóa cũng là một hợp đồng mua bán thông thường

Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng thương mại cơ bản, và nó cũng là một trường hợp của . Nên các điều kiện chung về chủ thể, hình thức, đối tượng, thời điểm chuyển nhượng quyền sở hữu hay các loại hợp đồng đặc biệt thì vẫn áp dụng theo hợp đồng mua bán dân sự. Ngoài ra, vì đối tượng là hàng hóa nên sẽ có thêm các điều kiện riêng biệt khác theo quy định của pháp luật thương mại.

Theo đó, về chủ thể, bên bán phải là chủ thể có đầy đủ năng lực dân sự. Bên mua có thể chưa đầy đủ hoặc đầy đủ năng lực hành vi dân sự tùy từng đối tượng hàng hóa cụ thể là vật sinh hoạt thiết yếu hay là những hàng hóa giá trị cao, tiêu dùng thông thường,…

Về hình thức, hợp đồng có thể được thiết lập bằng hình thức lời nói, bằng hành vi hoặc bằng văn bản. Trường hợp pháp luật có quy định bất buộc về hình thức thì phải theo quy định đó.

Về thời điểm chuyển nhượng quyền sở hữu, theo thỏa thuận của các bên sau khi chuyển tiền thanh toán hay khi nhận hàng thì quyền sở hữu sẽ chuyển sang bên mua. Đối với hàng hóa phải đăng ký thì sau khi đi đăng ký quyền sở hữu thì hàng hóa đó sẽ thuộc sở hữu của bên mua hàng.

Về các loại hợp đồng đặc biệt, thì hàng hóa hay tài sản thì đều có thể thỏa thuận mua bán hàng hóa theo các hợp đồng này. Theo đó, các bên có thể áp dụng hình thức mua bán sau: mua bán có bảo hành, mua bán trả chậm trả dần, bán đấu giá tài sản.

Các điều kiện riêng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa Đối tượng hợp đồng là hàng hóa

Theo Luật Thương mại 2005 quy định tại Khoản 2 Điều 3 định nghĩa hàng hóa như sau:

2. Hàng hóa bao gồm:

a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

b) Những vật gắn liền với đất đai.

Theo đó, ta có thể hiểu hàng hóa là những tài sản có thể sử dụng, tác động vào nó được, gồm có động sản, các tài sản gắn liền với đất. Còn các giất tờ có giá, quyền tài sản như quyền sử dụng đất thì không được coi là hàng hóa. Có thể hiểu, ngoài các giấy tờ có giá, các quyền tài sản không có thực thể thì các tài sản khác đều có thể trở thành hàng hóa.

Tuy nhiên, các hàng hóa đó đương nhiên phải được phép kinh doanh, những hàng hóa bị cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và hàng hóa kinh doanh có điều kiện như: thuốc mê, ma túy, vũ khí, đạn dược,… thì phải theo một thủ tục nghiêm ngặt do nhà nước quản lý riêng. Bên mua, bên bán phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật mới được phép giao dịch.

Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa

Vì đây là một loại hợp đồng thương mại, nên về mặt chủ thể sẽ có ít nhất một bên là thương nhân. Đối với bên bán, chủ thể phải là thương nhân, hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận. Còn đối với bên mua, chủ thể rất đa dang, có thể là người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, pháp nhân, thương nhân khác,… Nếu là người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì tùy vào loại hàng hóa họ muốn mua thì có thể tự thực hiện hoặc phải thực hiện thông qua người đại diện. Nếu là pháp nhân, cá nhân có đầy đủ năng lực dân sự thì họ được tự giao kết hợp đồng.

Trường hợp bên mua không phải tổ chức có đăng ký kinh doanh, thì các bên có thể lựa chọn luật dân sự hoặc luật thương mại điều chỉnh. Trường hợp cả hai bên chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa đều là thương nhân, đều có đăng kí kinh doanh thì quan hệ mua bán của họ sẽ do pháp luật thương mại điều chỉnh. Việc xác định chủ thể và thỏa thuận mua bán áp dụng luật nào để xử lý sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giải quyết tranh chấp sau này của các bên.

Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được xác lập bằng lời nói, bằng hành vi hoặc bằng văn bản.

Về cơ bản, đối với các loại hàng hóa phục vụ sinh hoạt hàng ngày, giá trị hàng hóa nhỏ thì thường thực hiện giữa cá nhân với cửa hàng kinh doanh, các bên thường chỉ thỏa thuận bằng miệng việc đưa hàng và trả tiền. Ví dụ khi mua hàng tại các cửa hàng tiện ích, siêu thị, chợ,…

Hợp đồng được xác lập bằng hành vi tức là các bên chỉ có sự giao tiếp bằng hành động cơ thể mà không có thỏa thuận bằng lời nói. Trường hợp này thường là khi người dân mua hàng tại các máy bán hàng tự động.

Đối với các hợp đồng có giá trị lớn, số lượng hàng hóa lớn, để đảm bảo quyền lợi được bảo vệ họ thường xác lập hợp đồng bằng văn bản. Nếu là các hàng hóa bắt buộc phải công chứng, chứng thực thì hợp đồng phải có công chứng, chứng thực. Đối với hợp đồng bằng văn bản, các bên chủ thể thường cùng đều là thương nhân, tổ chức kinh tế có đăng ký kinh doanh. Vì giá trị hàng hóa lớn, các bên chủ thể đều là tổ chức, pháp nhân nên trong hợp đồng, các bên sẽ thỏa thuận chi tiết giá cả, đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các bên, các điều khoản phạt vi phạm hợp đồng, điều khoản thanh toán,… để có cơ sở bảo vệ quyền lợi của các bên. Thường các hợp đồng sẽ được viết theo hợp đồng mẫu có sẵn. Các hợp đồng mẫu hay sử dụng là hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng; hợp đồng mua bán máy móc, trang thiết bị; hợp đồng cung cấp thực phẩm;…

Một số giao dịch riêng theo quy định của luật thương mại

Ngoài ra, việc xác định giao dịch đó sẽ do pháp luật nào điều chỉnh sẽ giúp cho việc xác định cơ quan, tổ chức sẽ giải quyết tranh chấp cho các bên. Nếu theo luật thương mại, các bên ngoài việc hòa giải, kiện ra Tòa án có thể yêu cầu trọng tài thương mại giải quyết. Trọng tài thương mại là cơ quan giải quyết riêng các quan hệ thương mại, kinh tế mà nếu các bên thỏa thuận giải quyết theo pháp luật dân sự sẽ không được áp dụng trọng tài thương mại giải quyết.

Mẫu hợp đồng mua bán tài sản

Trân trọng./.

Cập nhật thông tin chi tiết về Quy Định Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa. Tư Vấn, Thẩm Định, Soạn Thảo Hợp Đồng. trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!