Xu Hướng 2/2023 # Quy Định Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa. Tư Vấn, Thẩm Định, Soạn Thảo Hợp Đồng. # Top 6 View | 2atlantic.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Quy Định Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa. Tư Vấn, Thẩm Định, Soạn Thảo Hợp Đồng. # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Quy Định Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa. Tư Vấn, Thẩm Định, Soạn Thảo Hợp Đồng. được cập nhật mới nhất trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA. TƯ VẤN, THẨM ĐỊNH, SOẠN THẢO CÁC LOẠI HỢP ĐỒNG. HOTLINE: 0913 092 912 – 0982-692 912

1. Khái niệm Hợp đồng mua bán hàng hóa.

Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.

Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. Luật Thương mại 2005 (LTM) không đưa ra định nghĩa về HĐ mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm HĐ mua bán tài sản trong luật dân sự để xác định bản chất của HĐ mua bán hàng hóa.

Căn cứ vào yếu tố chủ thể, đối tượng, nơi xác lập và thực hiện hợp đồng, HĐ mua bán hàng hóa được chia thành HĐ mua bán hàng hóa trong nước và HĐ mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài (HĐ mua bán hàng hóa quốc tế).

2. Đặc điểm Hợp đồng mua bán hàng hóa.

a. Hợp đồng mua bán hàng hóa cũng có những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự.

– Là hợp đồng ưng thuận: được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa.

– Có tính đền bù: bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán.

– Là hợp đồng song vụ: mỗi bên trong HĐ mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình, đó là nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán.

b. Hợp đồng mua bán hàng hóa có đặc điểm xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa.

*  Về chủ thể:

Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của HĐ mua bán hàng hóa. Theo khoản 3 Điều 1 LTM, hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM khi chủ thể này lựa chọn áp dụng LTM.

*  Về hình thức:

Theo quy định của Luật Thương mại 2005, Hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập theo một trong các hình thức sau: bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác định bằng các hành vi cụ thể. Trong đó những loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật bắt buộc phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.

* Về đối tượng:

Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là những hàng hóa không bị liệt vào danh sách hàng hóa cấm kinh doanh, bao gồm: động sản, động sản hình thành trong tương lai và các vật gắn liền với đất. Đối với những hoàng hóa hạn chế kinh doanh và hàng hóa kinh doanh có điều kiện thì việc mua bán chỉ được thực hiện khi hàng hóa hoặc các bên mua bán hàng hóa đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

c. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa.

* Nghĩa vụ của bên bán.

+ Nghĩa vụ giao hàng: Giao hàng đúng đối tượng, số lượng và chất lượng.

Bên bán phải giao hàng đúng đối tượng và chất lượng theo thỏa thuận trong hợp đồng và theo quy định của pháp luật. Chất lượng của hàng hóa có thể được thỏa thuận hoặc xác định theo nhiều cách khác nhau: theo mẫu, theo mô phỏng, trên cơ sở tiêu chuẩn hóa, theo giám định,… Hàng hóa phải đảm bảo không có các khuyết tật có thể nhìn thấy được khi bàn giao (khuyết tật bên ngoài) và cả những khuyết tật không thể nhìn thấy ngay được mà chỉ có thể phát hiện trong quá trình sử dụng (khuyết tật ẩn giấu bên trong).

Theo quy định của LTM 2005, hàng hóa được coi là không phù hợp với hợp đồng nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

– Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hóa cùng chủng loại.

– Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hóa đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hóa trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường loại hàng hóa đó.

– Không đảm bảo chất lượng như chất lượng mẫu hàng hóa mà bên bán đã giao cho bên Ngoài việc giao đúng đối tượng và chất lượng hàng hóa, bên mua còn có nghĩa vụ giao đúng số lượng hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp bàn giao số lượng ít hơn, bên mua có quyền hoặc chấp nhận số lượng ít hơn đó, hoặc yêu cầu bàn giao nốt phần còn lại (có thể kèm theo yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại), hoặc yêu cầu hủy bỏ hợp đồng (có thể kèm theo đòi bồi thường thiệt hại).

+ Giao chứng từ kèm theo hàng hóa.

+ Giao hàng đúng thời hạn và địa điểm.

Các bên thường thỏa thuận về thời điểm giao hàng trong hợp đồng. Nếu các bên không thỏa thuận vấn đề này trong hợp đồng thì áp dụng quy định của pháp luật hoặc theo tập quán. Nếu các bên không thỏa thuận về thời điểm giao hàng cụ thể mà chỉ nêu thời hạn giao hàng thì bên bán có thể giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải báo trước cho bên mua.

Bên bán phải giao hàng đúng địa điểm theo thỏa thuận. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận trong hợp đồng thì địa điểm giao hàng sẽ được xác định như sau:

– Nếu hàng hóa là vật gắn liền với đất đai thì bên bán phải giao hàng tại nơi có hàng hóa đó.

– Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinh doanh của bên bán, nếu bên bán không có địa điểm kinh doanh thì phải giao hàng tại nơi cư trú của bên bán được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng.

+ Kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng.

Để ngăn ngừa những sai sót trong việc giao hàng và tăng khả năng thực hiện hiệu quả việc mua bán, việc kiểm tra hàng hóa trước khi giao là một yêu cầu cần thiết đối với giao dịch mua bán hàng hóa trong thương mai, và đây là một điểm khác biệt của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại với hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng thì bên bán phải tạo điều kiện cho bên mua thực hiện việc kiểm tra của mình. Bên mua phải thực hiện việc kiểm tra hàng hóa trong một thời gian nhắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép.

+ Đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hóa mua bán và chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua.

Bên bán phải đảm bảo về tính hợp pháp của quyền sở hữu và việc quyển giao quyền sở hữu đối với hàng hóa giao cho bên mua; và phải đảm bảo quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranh chấp bởi các bên thứ ba. Trường hợp hàng hóa bị người thứ ba tranh chấp quyền sở hữu thì bên bán phải đứng về phía bên mua để bảo vệ quyền lợi của bên mua. Trong trường hợp người thứ ba có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ đối với hàng hóa mua bán thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại.

Theo Điều 62 LTM 2005, quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ bên bán sang bên mua từ thời điểm chuyển giao hàng hóa, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.

* Nghĩa vụ bảo hành hàng hóa.

Bên cạnh nghĩa vụ quan trọng nhất là bàn giao hàng hóa, bên bán còn có một nghĩa vụ khác, đó là bảo hành hàng hóa, tức là trong một thời hạn nhất định, bên bán phải chịu trách nhiệm về hàng hóa sau khi đã giao hàng hóa cho bên mua. Pháp luật quy định trong trường hợp hàng hóa có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận. Thời hạn bảo hành có thể do các bên tự xác định, cũng có thể được pháp luật quy định.

LTM 2005 không quy định cụ thể những vấn đề về bảo hành hàng hóa, nếu các bên không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của BLDS, Điều 446 – 448.

* Nghĩa vụ của bên mua.

+ Nghĩa vụ nhận hàng.

Nhận hàng được hiểu là việc bên mua tiếp nhận trên thực tế hàng hóa từ bên bán. Bên mua phải thực hiện những công việc hợp lý để bên bán giao hàng, tùy từng trường hợp cụ thể công việc hợp lý đó có thể là: hỗ trợ bên bán về thủ tục giao hàng, hướng dẫn về phương thức vận chuyển, điều kiện bốc dỡ hàng hóa,…

Khi bên bán đã sẵn sàng giao hàng theo hợp đồng mà bên mua không tiếp nhận hàng thì coi như đã vi phạm hợp đồng và phải chịu các biện pháp chế tài theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Theo quy định của BLDS, trong trường hợp này, bên bán phải áp dụng các biện pháp cần thiết trong khả năng có thể và với chi phí hợp lý để lưu giữ, bảo quản hàng hòa, và có quyền yêu cầu bên mua chi trả cho chi phí đã bỏ ra. Đối với hàng hóa có nguy cơ bị hư hỏng thì bên bán có quyền bán hàng hóa và trả tiền cho bên mua khoản tiền thu được từ việc bán hàng hóa đó sau khi đã trừ đi chi phí hợp lý để bảo quản và bán hàng hóa.

+ Nghĩa vụ thanh toán tiền.

Đây là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Điều khoản thanh toán trong hợp đồng được các bên thỏa thuận thông thường bao gồm những nội dung cụ thể về đồng tiền thanh toán, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm thanh toán, trình tự và thủ tục thanh toán,… Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của pháp luật thương mại về thanh toán trong hợp đồng:

– Địa điểm thanh toán: Nếu không được thỏa thuận trong hợp đồng thì sẽ xác định địa điểm thanh toán theo quy định tại Điều 54 LTM 2005.

– Thời hạn thanh toán: Được xác định theo quy định tại Điều 55 và khoản 3 Điều 50 LTM 2005.

– Xác định giá: Điều 52.

– Chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán: Điều 306.

– Ngừng thanh toán: Điều 51.

Trân trọng.

VPGD: P. 1503, Tòa nhà HH1, Phố Dương Đình Nghệ,Cầu Giấy, Hà Nội Điện thoại: 0243.7.645.594 – 0243.7.673.930 – Fax: 0243.7.675.594 Hotline trưởng Hãng luật: Luật sư Bằng: 0913 092 912 * 0982 69 29 12

Định Nghĩa Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Theo Quy Định Hiện Hành

Định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định hiện hành. Chào Ban biên tập Thư Ký Luật. Tôi tên là Khánh Linh, hiện đang là chuyên viên xuất nhập khẩu. Hôm vừa rồi, có khách hàng hỏi tôi rằng: Hợp đồng mua bán hàng hóa là gì? Ban biên tập có thể tư vấn giúp tôi được không? Mong nhận được tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật. Chân thành cảm ơn!

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán, theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho người mua và nhận tiền thanh toán, còn người mua mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và thanh toán tiền hàng cho người bán.

Theo quy định của pháp luật hiện nay, hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định tại Bộ Luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại năm 2005.

Theo quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự 2015: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”.

Còn theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 Luật thương mại 2005: “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận”.

Hợp đồng mua bán hàng hóa do Luật thương mại 2005 điều chỉnh có mục đích sinh lợi, còn hợp đồng mua bán tài sản trong Bộ luật dân sự 2015 chỉ mục đính tiêu dùng.

Về chủ thể: Hợp đồng mua bán hàng hóa trong luật thương mại chủ thể tham gia một trong các bên phải là thương nhân, còn trong hợp đồng dân sự thì không yêu cầu chỉ cần đáp ứng đủ năng lực hành vi dân sự có thể giao dịch.

Trân trọng!

Khái Niệm Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa

Hợp đồng mua bán hàng hóa là loại hợp đồng được sử dụng thông dụng nhất trong cuộc sống, đại diện cho những giao dịch mà đối tượng chủ yếu là hàng hóa và mang mục đích sinh lời. Để tìm hiểu rõ hơn về những đặc điểm của loại HĐ này, chúng tôi xin đưa ra tư vấn như sau:

1.Định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hóa

Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. HĐ mua bán hàng hóa trong thương mại một dạng cụ thể của HĐ mua bán tài sản. Điểm phân biệt giữa HĐ mua bán hàng hóa trong thương mại và HĐ mua bán tài sản khác là: đối tượng hàng hóa, và mục đích sinh lời.

Căn cứ vào Luật thương mại 2005 , Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có các căn cứ như sau

– Căn cứ vào yếu tố chủ thể, hợp đồng được giao kết bởi các bên không cùng quốc tịch.

– Căn cứ vào yếu tố đối tượng, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng đang tồn tại ở nước ngoài.

– Căn cứ vào nơi xác lập và thực hiện hợp đồng, hợp đồng được giao kết ở nước ngoài (nước mà các bên chủ thể giao kết hợp đồng không mang quốc tịch) và có thể được thực hiện ở nước mình hay nước thứ ba.

Điều cần chú ý ở HĐ mua bán hàng hóa quốc tế là các bên tham gia giao kết hợp đồng sẽ rất dễ gặp phải các rủi ro đặc thù như xung đột pháp luật, do quá trình vận chuyển, thanh toán, thực thi cam kết hợp đồng.

2. Những đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa

– Đặc điểm chung của HĐ mua bán hàng hóa:

– Đặc điểm riêng của HĐ mua bán hàng hóa

Tổng Quan Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Quốc Tế

Trước đây, Luật Thương Mại Việt Nam 1997 xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên dấu hiệu quốc tịch của thương nhân, khi quy định rằng: hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hóa được kí kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài. Chủ thể bên nước ngoài là thương nhân và tư cách pháp lí của họ được xác định căn cứ theo pháp luật của nước mà thương nhân đó mang quốc tịch. Tuy nhiên, hiện nay Luật Thương Mại Việt Nam 1997 đã bị thay thế bởi Luật Thương Mại Việt Nam 2005 và quy định trên trong Luật Thương Mại 1997 đã không được nhắc lại. Luật Thương Mại 2005 khác với Luật Thương Mại 1997, không đưa ra khái niệm hay định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ quy định các hình thức mua bán hàng hóa quốc tế, theo đó: mua bán hàng quốc tế được thực hiện dưới các hình thức: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu. Như vậy có thể nói rằng hiện nay trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có một khái niệm hay một định nghĩa về mua bán hàng hóa quốc tế.

Nguyên đơn (người bán Thụy Sĩ) và bị đơn (người mua Hà Lan) đã kí kế bat hợp đồng bán cùng loại hàng hóa với quy cách phẩm chất đã được quy định chi tiết. Hàng được gửi đi từ một công ty Canada theo điều kiện CIF cảng Rotterdam. Cả ba hợp đồng đều được lập bằng tiếng Pháp với những điều kiện giống hệt nhau ngoại trừ điều khoản về số lượng. Tuy nhiên chỉ có hai hợp đồng đầu tiên được kí và thực hiện, hợp đồng thứ ba vẫn chưa được kí và trước khi hàng được gửi đi từ Canada, bị đơn đã hủy hợp đồng với lí do hàng được giao theo hai hợp đồng đầu không đúng quy cách phẩm chất quy định trong hợp đồng; nhà máy ở Canada đã gửi một kĩ sư sang Hà lan để kiểm tra mẫu hàng trong một phòng thí nghiệm độc lập. Kết quả kiểm tra gây ra nhiều tranh cãi: khi tiến hành phân tích theo phương pháp mới của Bắc Mỹ thì mẫu hàng được kiểm tra hoàn toàn phù hợp với những quy cách phẩm chất quy định trong hợp đồng, nhưng khi tiến hành theo phương pháp của Châu Âu thì lại không phù hợp. Theo kết luận chính của kĩ sư sau chuyến công tác tại Hà Lan, hàng được gửi đi không phải là hàng mà người mua Hà Lan nghĩ rằng mình đã mua. Đó là do khi chào hàng người bán Thụy Sĩ đã không hề đề cập đến phương pháp phân tích phẩm chất, còn người mua Hà Lan lại cho rằng hàng được một công ty Châu Âu chào bán nên phương pháp phân tích của Châu Âu sẽ được áp dụng.

Ngày 25 tháng 1 năm 1988 nguyên đơn đã mua 80.000 tấn thép thanh cùng loại của một công ty Rumani với giá 216 USD/tấn. Nguyên đơn cho rằng chi phí vận chuyển đường biển từ Rumani đến Ai Cập thấp hơn từ 2 đến 2,5 USD/tấn so với từ Nam Phi đến Ai Cập. Sau đó nguyên đơn đã khởi kiện theo điều khoản trọng tài trong hợp đồng ra trọng tài phòng thương mại quốc tế (tại Paris – Pháp) đòi bị đơn bồi thường thiệt hại do chênh lệch giá. Kết quả tòa trọng tài đã ra phán quyết chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Năm là, về thời hạn giao hàng: để đảm bảo quyền lợi của mình và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao nhận hàng các bên cần phải thỏa thuận cụ thể về thời gian giao hàng. Thời gian giao hàng có thể được các bên ấn định vào một thời điểm cụ thể hoặc vào một thời gian cụ thể. Tuy nhiên nếu trong hợp đồng có thỏa thuận về giao hàng nhiều lần thì các bên nên quy định cụ thể về từng lần giao hàng, nhằm tránh trường hợp không thực hiện việc giao hàng nhưng không thể ràng buộc nghĩa vụ vì không đủ cơ sở pháp lí. Ví dụ: trong hợp đồng mua bán mỡ bôi trơn (hợp đồng số 01292) được kí kết giữa thương nhân Việt Nam (bên mua) và thương nhân Xingapo (bên bán) có thỏa thuận về điều khoản giao hàng là: nghĩa vụ giao hàng của bên bán sẽ chia làm nhiều lần và sẽ được hai bên đồng ý sau . Đây thực sự là một quy định không có lợi cho người mua, bởi vì đây là một quy định không rõ ràng về thời điểm và thời hạn giao hàng. Việc quy định như vậy có thể tạo điều kiện cho người bán có thể lợi dụng đề trốn tránh nghĩa vụ giao hàng, khi việc trốn tránh đó có lợi cho họ. Bản thân việc các bên lựa chọn sẽ tiến hành giao hàng nhiều lần thì không có gì đáng nói vì có thể như vậy đều phù hợp với điều kiện của hai bên. Tuy nhiên điều đáng ngại là các bên không hề thỏa thuận cụ thể rằng việc giao hàng sẽ được chia bao nhiêu lần, mỗi lần cách nhau bao nhiêu lâu và tổng thời gian (thời hạn) để hoàn tất việc giao hàng. Ví dụ: các bên có thể thỏa thuận việc giao hàng sẽ được chia làm 6 lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày, thời hạn để hoàn tất toàn bộ việc giao hàng là trong vòng ba tháng kể từ ngày được xác định nào đó. Tuy nhiên trong hợp đồng số 01292 các bên lại không quy định cụ thể như vậy, do đó không thể ràng buộc được nhau, đặc biệt là người mua không thể buộc người bán giao hàng cho mình vì sẽ không có căn cứ và thời hạn giao hàng cụ thể.

Về các vấn đề trên, trước hết ủy ban trọng tài cho rằng lý do duy nhất mà hàng chưa thuộc quyền sở hữu của người mua Cô-oét, người mở thư tín dụng là do họ đã từ chối lô hàng đó khi hàng đã đến nơi và giấy chứng nhận y tế cũng đã được cấp.Vấn đề cần giải quyết là trong tình huống này liệu điều kiện “hàng hóa đã được nhận bởi người mở thư tín dụng” đã được thỏa mãn hay chưa.

Ủy ban trọng tài đã định nghĩa bản chất của thư tín dụng không hủy ngang như sau:

Bị đơn lập luận rằng trong trường hợp này, hàng giao không được người mở thư tín dụng chấp nhận, điều kiện “hàng đã được nhận bởi người mở thư tín dụng”đã không được thỏa mãn. Rõ ràng nếu hiểu như bị đơn thì việc thư tín dụng có được thanh toán hay không phụ thuộc vào thiện chí của người mở tín dụng. Việc hiểu điều kiện “hàng đã được nhận bởi người mở thư tín dụng” như vậy mâu thuẫn với mục đích của thư tín dụng chứng từ, theo đó việc thanh toán không được phụ thuộc vào thiện ý của người mở thư tín dụng, và điều đó có nghĩa là tín dụng chứng từ không hề an toàn cho người hưởng lợi.

Nguyên đơn yêu cầu mức lãi suất 13 %/ năm tính từ 1/12/ 1979, bị đơn không phản đối yêu cầu này vì việc thanh toán đã không thực hiện vào ngày đã định và mức lãi suất mà nguyên đơn yêu cầu trong thời gian nêu trên cũng không có gì là vô lí trong thương mại quốc tế. Vì thế ủy ban trọng tài đã đồng ý với mức lãi suất nói trên.

Theo quy định tại điều 33 Công ước Viên 1980 thì người bán phải giao hàng đúng thời gian đã quy định trong hợp đồng, nếu hợp đồng không quy định cụ thể về thời gian giao hàng thì người bán có nghĩa vụ giao hàng trong một thời gian hợp lí sau khi hợp đồng được kí kết. Về việc giao hàng đúng thời hạn Bộ nguyên tắc UNIDROIT tại điều 6.1.1 cũng có quy định tương tự. Tuy nhiên có một điểm khác biệt cơ bản giữa hai văn bản pháp lí này về thời hạn giao hàng mà chúng ta cần chú ý đó là: theo quy định của Công ước Viên 1980 (điều 33) thì bên bán phải giao hàng trong khoảng thời gian được hợp đồng ấn định hoặc có thể xác định từ hợp đồng vào bất kì thời điểm nào trong thời hạn đó, trừ phi tình huống cho thấy bên bán (nghĩa là chính bên có nghĩa vụ) phải chọn một ngày khác. Trong khi đó theo quy định tại điều 6.1.1 Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2004 thì: bên có nghĩa vụ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của mình vào một thời điểm bất kì trong một khoảng thời gian xác định, nếu khoảng thời gian đó được ấn định trong hợp đồng hoặc có thể xác định được căn cứ vào hợp đồng, trừ trường hợp do hoàn cảnh mà việc lựa chọn thời điểm thực hiện hợp đồng do bên kia (nghĩa là bên có quyền) quyết định. Như vậy, cùng một hoàn cảnh, nhưng theo quy định của Công ước Viên thì bên bán (bên có nghĩa vụ) sẽ là bên có quyền thay đổi thời điểm thực hiện hợp đồng (thời điểm giao hàng); trong khi đó theo quy định của Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2004 thì bên mua (bên có quyền) mới là bên có quyền thay đổi thời điểm thực hiện hợp đồng (thời điểm giao hàng).

Cập nhật thông tin chi tiết về Quy Định Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa. Tư Vấn, Thẩm Định, Soạn Thảo Hợp Đồng. trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!