Xu Hướng 3/2024 # Quy Định Về Gói Dịch Vụ Y Tế Cơ Bản Tại Tuyến Y Tế Cơ Sở # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Quy Định Về Gói Dịch Vụ Y Tế Cơ Bản Tại Tuyến Y Tế Cơ Sở được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe cho người dân luôn nhận được đông đảo sự quan tâm. Nhà nước đang hướng đến hiện thực hóa chính sách bảo hiểm y tế toàn dân. Do đó, quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế ngày càng được nâng cao.

Ngày 18/10/2024, Bộ trưởng Bộ y tế đã ban hành thông tư 39/2024/TT-BYT quy định gói dịch vụ y tế cơ bản cho tuyến y tế cơ sở (tuyến huyện, tuyến xã).

Theo Thông tư, gói dịch vụ y tế cơ bản bao gồm 2 gói dịch vụ: “Gói dịch vụ y tế cơ bản do quỹ bảo hiểm y tế chi trả” và “Gói dịch vụ y tế cơ bản phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, dự phòng và nâng cao sức khỏe”.

Đối với gói dịch vụ y tế cơ bản do quỹ bảo hiểm y tế chi trả sẽ do quỹ bảo hiểm y tế chi trả khi người dân lựa chọn sử dụng. Gói dịch vụ này gồm 76 dịch vụ kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh và 241 loại thuốc áp dụng tại cơ sở y tế tuyến xã. Gói dịch vụ y tế cơ bản bao trùm hầu hết các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu cho người dân như: khám chữa bệnh, sơ cứu, cấp cứu, kế hoạch hóa gia định, khám sàng lọc,… Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về việc thanh toán khi người tham gia bảo hiểm sử dụng kỹ thuật, thuốc, vật tư y tế không thuộc gói dịch vụ.

Đối với gói dịch vụ y tế cơ bản phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, dự phòng và nâng cao sức khỏe không do bảo hiểm y tế chi trả mà được lấy từ nhiều nguồn khác nhau như: kinh phí của Chương trình mục tiêu y tế – dân số, ngân sách địa phương bảo đảm từ nguồn chi sự nghiệp y tế và nguồn ngân sách được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính. Riêng các dịch vụ khác ngoài các dịch vụ được đảm bảo từ các nguồn ngân sách trên, cơ sở y tế được phép thu của người sử dụng dịch vụ theo quy định của pháp luật hiện hành, từ nguồn kinh phí xã hội hóa và nguồn kinh phí hợp pháp khác.

Việc ban hành thông tư có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo sự tiếp cận của người dân đối với cơ sở khám chữa bệnh, giảm tải số lượng bệnh nhân ở tuyến trung ương. Quy định mới này thể hiện sư ưu tiên cho khám chữa bệnh ban đầu, đảm bảo sức khỏe cho người dân với chi phí thấp nhất. Thông tư bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2024.

Phát Triển Y Học Gia Đình Từ Y Tế Cơ Sở

Y học gia đình phát triển theo sự phát triển của kinh tế xã hội và nguồn lực đầu tư cho y tế. Phát triển y học gia đình gắn với đổi mới, nâng cao chất lượng y tế cơ sở là một trong những giải pháp mà ngành y tế đang triển khai thực hiện nhằm giúp người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế có chất lượng ngay từ tuyến cơ sở.

Trên thế giới, ở nhiều quốc gia, mô hình trạm y tế theo nguyên lý y học gia đình được chú trọng phát triển và được người dân tin tưởng lựa chọn. Nguyên lý y học gia đình là chăm sóc sức khỏe toàn diện, liên tục, định hướng dự phòng cho cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Y tế cơ sở được coi là nền tảng, xương sống của hệ thống y tế; là “người gác cổng” của hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe ban đầu, trực tiếp gần dân nhất. Y tế cơ sở là nơi dễ tiếp cận với chi phí thấp, công bằng xã hội, giảm quá tải bệnh viện tuyến trên. Chính vì thế, việc triển khai trạm y tế xã, phường hoạt động theo nguyên lý y học gia đình với 6 nguyên tắc: liên tục – toàn diện – lồng ghép – phối hợp – dự phòng – gia đình – cộng đồng sẽ giúp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho người dân một cách hiệu quả.

6 nguyên lý của y học gia đình.

Trên cả nước hiện có hơn 11.100 trạm y tế xã, phường, thị trấn, thôn, bản… Đây là mạng lưới y tế cơ sở trực tiếp gần người dân nhất và có thể kịp thời phát hiện các dịch bệnh; triển khai các dịch vụ khám, chữa bệnh cơ bản; quản lý sức khỏe cho mỗi người dân… Y tế cơ sở Việt Nam được tổ chức quốc tế đánh giá là điểm sáng trên thế giới vì chúng ta có mạng lưới y tế cơ sở rộng khắp đến tận xã/phường, thậm chí tới cả y tế thôn bản.

Các chương trình đào tạo chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) theo nguyên lý y học gia đình cho các đối tượng khác công tác tại trạm y tế xã bao gồm y sĩ, điều dưỡng, hộ sinh và cán bộ dược đã được Hội đồng thẩm định trong tháng 8/2024 và được Bộ Y tế phê duyệt theo QĐ số 114/QĐ-K2ĐT ngày 31/8/2024. Các chương trình đào tạo này có thời lượng từ 3-6 tuần (y sĩ: 6 tuần, điều dưỡng, hộ sinh: 4 tuần, cán bộ dược: 3 tuần) và tập trung vào việc bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng thực hành CSSKBĐ theo nguyên lý học gia đình để đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển và nhân rộng mô hình trạm y tế xã hoạt động theo nguyên lý y học gia đình.

Y tế cơ sở là “người gác cổng” của hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe ban đầu, trực tiếp gần dân nhất.

Đã có nhiều chính sách để tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng và phát triển hệ thống y tế cơ sở như: Nghị quyết số 20/NQ-TW ngày 25/10/2024 về tăng cường công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân trong tình hình mới nêu rõ quan điểm coi y tế cơ sở nền tảng, thực hiện bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân; Quyết định số 2348/QĐ-TTg ngày 5/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án xây dựng và phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới đã được ban hành (Đề án 2348), chương trình hành động triển khai Quyết định 2348 và xây dựng hướng dẫn mô hình điểm cho trạm y tế của 26 xã, phường và Quyết định số 2559/QĐ-BYT ngày 20/4/2024 của Bộ Y tế về tăng cường quản lý và điều trị tăng huyết áp, đái tháo đường theo nguyên lý y học gia đình tại trạm y tế xã giai đoạn 2024 – 2024.

Như vậy ngày càng khẳng định tính ưu việt của y học gia đình trong chăm sóc sức khỏe ban đầu tại tuyến y tế cơ sở, gần với dân để người dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ y tế và vì vậy người dân sẽ được tư vấn nhiều hơn, cụ thể và hiệu quả.

Khái Niệm Về Dịch Vụ Y Tế

Dịch vụ y tế chính là một loại hàng hóa dịch vụ công đặc thù, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân và cộng đồng bao gồm hai nhóm dịch vụ thuộc khu vực công mở rộng và nhóm dịch vụ y tế công cộng

Trong cuộc sống, con người luôn luôn có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ không những của bản thân mà của cả gia đình. Không chỉ khi mắc bệnh thì con người mới có nhu cầu được chạy chữa mà ngay cả lúc khoẻ mạnh chúng ta vẫn có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ.

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): Dịch vụ y tế bao gồm tất cả các dịch vụ về chẩn đoán, điều trị bệnh tật và các hoạt động chăm sóc, phục hồi sức khoẻ. Chúng bao gồm các dịch vụ y tế cá nhân và các dịch vụ y tế công cộng.

Theo chúng tôi Lê Chi Mai: Dịch vụ y tế bao gồm dịch vụ về khám chữa bệnh, tiêm chủng, phòng chống bệnh tật…. Đây được xem như một quyền cơ bản của con người, vì vậy không thể để cho thị trường chi phối mà đó là trách nhiệm của nhà nước.

Tóm lại, có nhiều quan niệm về dịch vụ y tế được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung thì: Dịch vụ y tế chính là một loại hàng hóa dịch vụ công đặc thù, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân và cộng đồng bao gồm hai nhóm dịch vụ thuộc khu vực công mở rộng: Nhóm dịch vụ khám, chữa bệnh theo yêu cầu (mang tính chất hàng hóa tư nhiều hơn có thể áp dụng cơ chế cạnh tranh trong thị trường này) và nhóm dịch vụ y tế công cộng như phòng chống dịch bệnh (mang tính chất hàng hóa công nhiều hơn)…do Nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm.

Khái niệm về dịch vụ y tế

Admin Mr.Luân

Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP. Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

Những Kiến Thức Cơ Bản Về Vật Tư Y Tế

Phan Thị Phương Thảo –

1.Vật tư y tế là gì ?

Vật tư y tế theo quy định bộ y tế

Vật tư y tế là một khái niệm chung quy ước chỉ các loại như: vật tiêu hao ,vật dụng ,dụng cụ …dùng trong chuẩn đoán, điều trị và chăm sóc bệnh nhân.

2.Phân loại vật tư y tế

Vật liệu y tế được chia thành nhiều loại khác nhau để người dùng tiện lợi trong qua trình sử dụng và cất trữ

Vật tư tiêu hao 1 lần : gang tay y tế

*Vật liệu tiêu hao dùng 1 lần

-Vật tư tiêu hao nhựa và cao su: dây truyền dịch, bơm kim tiêm, dây thở, găng tay…

Một số vật tư y tế

-Vật tư cầm máu: bong ,gạc, garo,…

-Vật tư kim loại: dao mổ ,kim ,nẹp ,đinh vít….

-Vật tư tiêu hao giấy: các loại giấy tờ dùng để in kết quả khám chữa bệnh

-Vật tư xét nghiệm: đầu côn,ống nghiệm, lọ đựng bệnh phẩm…

Ngoài ra còn có vật dụng nội thất chuyên dụng trong y tế, vật tư tiêu hao X-quang, vật tư inox….

Vật tư y tế

*Dụng cụ y tế

Dụng cụ y tế gồm 3 loại chính là dụng cụ thăm khám ,dụng cụ phẫu thuật,dụng cụ phẫu thuật nội soi. Đối với dụng cụ thăm khám gồm cac thiết bị đơn giản như :ống nghe ,máy đo huyết áp,búa phản xạ,nhiệt kế …Dụng cụ phẫu thuật có pank, kéo, kẹp, cán dao,.. Còn dụng cụ phẫu thuật nội soi gồm có: trocar, clip- hemlock, cần nâng tử cung….

*Hóa chất và sinh phẩm y tế

Ta chia làm 3 loại theo đặc điểm sử dụng : – Hóa chất xét nghiệm đặc dùng với thiết bị: phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại máy móc khác nhau mà ta có những chất hóa học đi kèm để bổ trợ.

Là các hóa chất thường được sử dụng cho các máy, ta cũng chia theo đặc điểm các loại máy như sau: + Hóa chất xét nghiệm huyết học – công thức máu + Hóa chất xét nghiệm sinh hóa máu + Hóa chất xét nghiệm sinh hóa nước tiểu ( que thử ) + Hóa chất xét nghiệm miễn dịch + Hóa chất xét nghiệm điện giải + Hóa chất xét nghiệm khí máu + Hóa chất xét nghiệm đông máu + Hóa chất xét nghiệm HbA1C

Hóa chất xét nghiệm

– Hóa chất thông thường: là hóa chất dùng để xét nghiệm thông thường như các dung dịch và các chất tẩy rửa,sát trùng.

+ Hóa chất xét nghiệm thông thường: dụng dịch KOH, NaOH, Acidacetic, Logul…

+ Hóa tẩy tẩy rửa, sát trùng: rửa tay, ngâm rửa dụng cụ, vệ sinh phòng dịch…

– Sinh phẩm xét nghiệm : sinh phẩm y tế là các loại hóa chất được đóng gói theo thông số để chuẩn đoán nhanh như : que thử thai,que thử ma túy ,HIV,…

Các loại vật tư y tế

+ Thường là các loại hóa chất đóng gói riêng theo từng thông số, để chuẩn đoán nhanh

+ Các loại test chẩn đoán nhanh ( quik test ): thử thai viêm gan B, HIV, ma túy…

+ Các khoanh, test làm kháng sinh đồ

+ Các loại test thử an toàn thực phẩm

Hệ Thống Y Tế Cơ Sở: Chưa Hiệu Quả

Theo định nghĩa của Bộ Y tế, y tế cơ sở là mạng lưới y tế từ tuyến huyện đến tuyến xã, là tuyến y tế gần dân nhất, có vai trò chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân với chi phí thấp.

Theo Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đánh giá tại hội nghị tham vấn đề án tăng cường y tế cơ sở giai đoạn 2024-2025 : “Y tế cơ sở đã góp phần thiết thực làm giảm tỉ lệ mắc và tỉ lệ chết của nhiều bệnh dịch nguy hiểm. Nhiều nội dung chăm sóc sức khoẻ ban đầu và nâng cao sức khoẻ đã được triển khai rộng khắp và đạt hiệu quả thiết thực như tiêm chủng mở rộng, phòng chống suy dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, giám sát dịch bệnh… Nhờ đó, các chỉ số sức khoẻ của người dân đã được cải thiện rõ rệt, phần lớn các chỉ tiêu tổng quát về sức khoẻ của nước ta đều vượt các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người”.

Y tế cơ sở là “xương sống” của hệ thống y tế Việt Nam

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, y tế cơ sở còn rất nhiều bất cập, khó khăn mà ngay cả Bộ trưởng Bộ Y tế cũng phải thừa nhận, đặc biệt là về chất lượng khám, chữa bệnh. Theo thống kê, tính đến nay, mặc dù 100% trạm y tế xã, phường, thị trấn trên cả nước đã có cán bộ y tế nhưng chỉ 60% đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã, còn tới 40% xã chưa đạt do hạn chế về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu. 90% thôn, bản có cán bộ y tế nhưng tỷ lệ được đào tạo theo quy định mới chỉ đạt ở khoảng 69%.

Tổ chức JICA của Nhật Bản đã dẫn chứng có những bệnh rất thông thường như viêm họng, nhưng cơ sở y tế tuyến huyện cũng phải chuyển bệnh nhân lên tuyến trên do không điều trị được vì thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn. Hay ở xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, nằm ngay trên địa bàn thủ đô, trung tâm y tế xã hầu như… đóng cửa vì chẳng có bệnh nhân nào đến khám, chữa bệnh. Tại các quận nội thành, phòng y tế cũng không khả quan hơn khi bệnh nhân vắng đến mức trầm trọng, đến nỗi nếu không có những đợt dịch bệnh xảy ra, nếu nhân viên y tế không phải đi khảo sát, tìm hiểu, vận động người dân đi tiêm phòng… thì không ai biết đến phòng y tế tại các quận, huyện. Nhiều nhân viên y tế tuyến cơ sở công việc chính nhiều ngày là “ngồi chơi xơi nước”. Khác hẳn với sự tấp nập, bận rộn không kịp thở của các bác sĩ, thầy thuốc ở các bệnh viện tuyến trên.

Bộ Y tế cũng đã thống kê chất lượng điều trị các cơ sở y tế thuộc tuyến huyện, xã… không đủ thuyết phục và tạo niềm tin cho người đến khám, chữa bệnh. Có tới 70% bệnh nhân vượt tuyến ở trung ương trong khi bệnh có thể điều trị ở tuyến dưới; 81,8% bệnh nhân vượt tuyến ở tỉnh có thể điều trị ở huyện, xã và 67,9% bệnh nhân vượt tuyến ở huyện có thể điều trị ở ngay tuyến xã.

Có không ít phòng khám tuyến cơ sở, thiết bị y tế giá trị nhất chỉ là chiếc máy siêu âm nhưng cũng chỉ thuộc “đời cũ”. Còn lại không có thiết bị gì hiện đại ngoài tai nghe tim, phổi, kim tiêm, xi lanh, máy đo huyết áp. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến thừa nhận: “Hệ thống y tế cơ sở nước ta hiện nay bộc lộ nhiều bất cập, khó khăn. Cụ thể như mạng lưới y tế cơ sở còn cồng kềnh, chưa thống nhất, thiếu thốn về cơ sở, vật chất, cán bộ chuyên môn, quản lý chồng chéo… Trong khi đó đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ y tế tuyến xã, tuyến huyện vẫn còn chưa được chú trọng nên còn hạn chế về chất lượng chuyên môn, chưa tạo được niềm tin cho người dân”.

Giải pháp “2 trong 1”

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam yêu cầu Bộ Y tế tiếp tục xây dựng đề án quy hoạch mạng lưới y tế cơ sở Việt Nam, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm: Xác định rõ vai trò, phạm vi của mạng lưới y tế cơ sở và mối quan hệ giữa y tế cơ sở và hệ thống bác sĩ gia đình. Xác định những dịch vụ kỹ thuật được cung cấp tại tuyến y tế cơ sở, đồng thời chuẩn hóa và có hệ thống đánh giá nghiêm ngặt các dịch vụ kỹ thuật này. Đào tạo, chú trọng nâng cao năng lực cho cán bộ y tế cơ sở làm việc tại cộng đồng, nghiên cứu, đề xuất chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp cho cán bộ y tế cơ sở trên toàn quốc. Đồng thời, phải đẩy mạnh công tác truyền thông, chăm sóc sức khỏe ban đầu, an toàn, vệ sinh thực phẩm và môi trường.

Để giải quyết vấn đề trên, Bộ Y tế xác định, các phòng khám, trung tâm y tế tại xã, huyện… sẽ thay đổi cơ chế hoạt động không chỉ khám, chữa bệnh đơn thuần mà gồm cả dự phòng để nâng cao năng lực, vai trò của hệ thống. Cụ thể là thí điểm, mở rộng mô hình theo dõi, quản lý, chăm sóc sức khỏe cho cá nhân và hộ gia đình; lồng ghép, bổ sung nhiệm vụ của phòng khám bác sĩ gia đình vào trạm y tế tuyến xã để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe liên tục, gắn kết giữa chăm sóc sức khỏe tại nhà, tại cộng đồng với trạm y tế và bệnh viện, đặc biệt là với các bệnh không lây nhiễm, bệnh mạn tính.

Tuy nhiên với mô hình “2 trong 1” này, vấn đề đặt ra là nguồn nhân lực. Nếu hệ thống y tế cơ sở hoạt động với mô hình “2 trong 1” thì chắc chắn cần phải có đội ngũ nhân viên y tế không những đủ về số lượng mà còn phải giỏi chuyên môn. Vậy, nguồn nhân lực này sẽ tìm ở đâu? Trong khi trình độ của nhân viên y tế ở hệ thống y tế cơ sở vẫn được đánh giá còn yếu. Người giỏi thì không về công tác tại tuyến y tế cơ sở do mức lương thấp, chỉ 5-6 triệu đồng/tháng, trong khi nếu làm việc cho các bệnh viện tư ở những thành phố lớn, mức lương có thể gấp 4 lần. Như vậy, nhân lực vẫn là câu hỏi khó cho ngành y. Mà câu hỏi này nếu chưa trả lời được thì nâng cao chất của hệ thống y tế cơ sở vẫn nằm… ngoài tầm với của các nhà quản lý.

Trước câu hỏi trên, Bộ Y tế khẳng định phải bảo đảm chế độ đãi ngộ đối với các bác sĩ có chuyên môn tốt công tác ở tuyến y tế cơ sở. Đồng thời, trong giai đoạn 2024-2024, phấn đấu mỗi cán bộ y tế cơ sở được dự ít nhất 1-2 lớp tập huấn; luân chuyển, điều động bác sĩ y tế xã với bệnh viện và ngược lại để phát huy hiệu quả nguồn nhân lực. Ngoài ra, tăng cường đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các bệnh viện, trung tâm y tế ở các huyện, trạm y tế xã với tổng kinh phí ước tính hơn 28 nghìn tỷ đồng. Tất cả các giải pháp này phải thực hiện một cách đồng bộ và quyết liệt để đạt hiệu quả.

Xuân Tùng

Nguồn :

Quy Định Về Bảo Hiểm Y Tế Tại Việt Nam

BHYT là một hình thức bảo hiểm theo đó người tham gia được chi trả thay một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh.

Đối tượng tham gia BHYT gồm 5 nhóm: nhóm do NSDLĐ đóng; nhóm do BHXH đóng; nhóm do ngân sách nhà nước đóng; nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ; nhóm tham gia BHYT tự nguyện.

Nơi mua BHYT phụ thuộc vào từng đối tượng tham gia, có thể là tại trường học, cơ quan, doanh nghiệp, UBND xã, điểm bưu điện xã (đối với người mua BHYT tự nguyện),…

Mức hưởng BHYT đúng tuyến gồm các mức: 100% chi phí KCB có hoặc không áp dụng giới hạn tỷ lệ thanh toán; 95% chi phí KCB; 80% chi phí KCB.

Cơ sở pháp lý

Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Nghị định số 146/2024/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế;

Quyết định số 595/QĐ-BHXH Ban hành quy trình thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế.

Bảo hiểm y tế là gì?

Bảo hiểm y tế là một hình thức bảo hiểm theo đó người mua bảo hiểm y tế sẽ được cơ quan bảo hiểm trả thay một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế cũng như chi phí mua thuốc men khám chữa bệnh.

Ngoài ra, hiện nay theo quy định tại khoản 1.2 Điều 2 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014:

Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện.

Vậy, bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm mục đích chăm sóc sức khỏe. Người mua bảo hiểm y tế khi đi khám bệnh, chữa bệnh sẽ được quỹ bảo hiểm y tế chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí.

Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế 2024 và mức đóng của các đối tượng

Căn cứ theo Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Nghị định 146/2024/NĐ-CP có 06 nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm y tế 2024 với mức đóng cũng như mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước khác nhau.

Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng

Theo quy định tại Điều 1 Nghị định 146/2024/NĐ-CP quy định về nhóm do người lao động và người sử dụng lao động bao gồm:

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người quản lý doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và người quản lý điều hành hợp tác xã hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức. Mức đóng bảo hiểm y tế hàng tháng hàng tháng của đối tượng này bằng 4,5 mức tiền lương tháng của người lao động.

Người lao động trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày trở lên trong tháng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội thì không phải đóng bảo hiểm y tế nhưng vẫn được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế;

Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật. Mức đóng hàng tháng. Mức đóng bảo hiểm y tế hàng tháng của đối tượng này bằng 4,5% mức lương cơ sở.

Nhóm do cơ quan bảo hiểm xã hội đóng

Đối tượng thuộc nhóm do cơ quan bảo hiểm xã hội đóng bao gồm:

Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng. Mức đóng bảo hiểm y tế hàng tháng bằng 4,5% tiền lương hưu, trợ cấp mất sức lao động.

Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng. Mức đóng bảo hiểm y tế hàng tháng của đối tượng này bằng 4,5% mức lương cơ sở.

Người lao động trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. Mức đóng bảo hiểm y tế hàng tháng của đối tượng này bằng 4,5% tiền lương tháng của người lao động trước khi nghỉ thai sản.

Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp. Mức đóng bảo hiểm y tế hàng tháng của đối tượng này bằng 4,5% tiền trợ cấp thất nghiệp.

Nhóm do ngân sách nhà nước đóng

Các đối tượng do ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế 2024 được quy định tại Điều 3 Nghị định số 146/2024 như sau:

1. Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước.

3. Người có công với cách mạng theo quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.

4. Cựu chiến binh, gồm:

Cựu chiến binh tham gia kháng chiến từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước theo quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 2 Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh cựu chiến binh (sau đây gọi tắt là Nghị định số 150/2006/NĐ-CP), được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 157/2024/NĐ-CP ngày 24 tháng 11 năm 2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh cựu chiến binh (sau đây gọi tắt là Nghị định số 157/2024/NĐ-CP).

Cựu chiến binh tham gia kháng chiến sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh cựu chiến binh và tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 157/2024/NĐ-CP ngày 24 tháng 11 năm 2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 150/2006/NĐ-CP của Chính phủ, gồm:

Quân nhân, công nhân viên quốc phòng đã được hưởng trợ cấp theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Căm-pu-chi-a, giúp bạn Lào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc (sau đây gọi tắt là Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg);

Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Căm-pu-chia, giúp bạn Lào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 chuyên ngành về làm việc tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (không được hưởng trợ cấp theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg);

Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ tại ngũ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã phục viên, nghỉ hưu hoặc chuyển ngành về làm việc tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp;

Dân quân, tự vệ đã tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã được hưởng trợ cấp theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg .

5. Người tham gia kháng chiến và bảo vệ Tổ quốc, gồm:

Người tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã được hưởng trợ cấp theo một trong các văn bản sau:

b. Người đã được hưởng trợ cấp theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg nhưng không phải là cựu chiến binh theo trường hợp trên;

c. Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương đã được hưởng trợ cấp theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương;

d. Thanh niên xung phong đã được hưởng trợ cấp theo Quyết định số 170/2008/QĐ-TTg ngày 18 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bảo hiểm y tế và trợ cấp mai táng phí đối với thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Quyết định số 40/2011/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến và Nghị định số 112/2024/NĐ-CP ngày 06 tháng 10 năm 2024 của Chính phủ quy định về chế độ, chính sách đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965 – 1975;

6. Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm.

7. Trẻ em dưới 6 tuổi.

8. Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng theo quy định của pháp luật về người cao tuổi, người khuyết tật, đối tượng bảo trợ xã hội.

9. Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo và một số đối tượng khác, cụ thể:

Người thuộc hộ gia đình nghèo theo tiêu chí về thu nhập, người thuộc hộ nghèo đa chiều có thiếu hụt về bảo hiểm y tế quy định tại Quyết định số 59/2024/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2024 – 2024 và các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế chuẩn nghèo áp dụng cho từng giai đoạn;

Người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

Người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

Người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

11. Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ.

12. Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng trên, gồm:

Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ trên 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng của các đối tượng: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; thương binh, bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

Con đẻ từ đủ 6 tuổi trở lên của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học bị dị dạng, dị tật do hậu quả của chất độc hóa học không tự lực được trong sinh hoạt hoặc suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt được hưởng trợ cấp hàng tháng.

13. Thân nhân của sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ, sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an, gồm:

14. Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật về hiến ghép mô tạng.

15. Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bổng từ ngân sách của Nhà nước Việt Nam.

16. Người phục vụ người có công với cách mạng sống ở gia đình, gồm:

17. Người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Mức đóng bảo hiểm y tế hàng tháng bằng 4,5% mức lương cơ sở,tiền lương hàng tháng làm căn cứ đóng theo từng nhóm đối tượng.

Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng

Các đối tượng thuộc nhóm ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng được quy định tại Điều 4 Nghị định 146/2024/NĐ-CP như sau:

Người thuộc hộ gia đình cận nghèo theo tiêu chí chuẩn cận nghèo theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Người thuộc hộ gia đình nghèo đa chiều không thuộc trường hợp do ngân sách nhà nước đóng.

Hai đối tượng trên được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng tối thiểu 70% mức lương cơ sở. Trường hợp ối với người thuộc hộ gia đình cận nghèo đang sinh sống tại các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững và các huyện được áp dụng cơ chế, chính sách theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP sẽ được ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% mức lương cơ sở.

Học sinh, sinh viên.

Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Hai đối tượng trên được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng tối thiểu 30% mức lương cơ sở.

Trường hợp một người thuộc nhiều đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng thì được hưởng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế theo đối tượng có mức hỗ trợ cao nhất.

Nhóm tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình

Nhóm tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện theo hộ gia đình gồm người có tên trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú trừ các đối tượng thuộc các nhóm trên. Ngoài ra, các đối tượng sau đây được tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình:

Chức sắc, chức việc, nhà tu hành;

Người sinh sống trong cơ sở bảo trợ xã hội trừ các nhóm đối tượng trên mà không được ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế.

Mức đóng của nhóm đối tượng này như sau:

Vậy mức đóng của người tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình sẽ phụ thuộc vào mức tiền lương cơ sở mà nhà nước quy định cho mỗi năm.

Theo Nghị định số 72/2024/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang từ ngày 1/7/2024 đến ngày 30/06/2024 thì mức lương cơ sở điều chỉnh tăng lên 1.390.000 đồng/ tháng theo đó mức đóng bảo hiểm y tế tự nguyện như sau:

Người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện có thể đóng bảo hiểm y tế theo hình thức 03 tháng, 06 tháng, 12 tháng. Việc giảm trừ mức đóng bảo hiểm y tế theo quy định tại điểm này được thực hiện khi các thành viên tham gia bảo hiểm y t ế theo hộ gia đình cùng tham gia trong năm tài chính.

Mua bảo hiểm y tế ở đâu?

Về nơi mua bảo hiểm y tế thì tùy thuộc vào từng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế cụ thể như sau:

Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình

Đối với đối tượng tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình thì cách mua bảo hiểm y tế là người đại diện hộ gia đình trực tiếp nộp tiền đóng bảo hiểm y tế cho cơ quan bảo hiểm xã hội cấp quận huyện hoặc đại lý thu bảo hiểm y tế tại cấp xã theo định kì 3 tháng, 6 tháng hoặc 12 tháng.

Hồ sơ mua bảo hiểm y tế tự nguyện theo hộ gia đình bao gồm:

Tờ khai tham gia BHYT (mẫu số TK1-TS);

Danh sách thành viên hộ gia đình tham gia BHYT (mẫu D01-HGĐ);

Bản chụp và bản chính sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú (để đối chiếu);

Bản chính hoặc bản chụp thẻ BHYT của những người đã có thẻ để xác định việc giảm trừ mức đóng.

Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế là học sinh sinh viên

Với đối tượng tham gia bảo hiểm y tế là học sinh, sinh viên cách mua bảo hiểm y tế là chỉ phải đóng phần thuộc trách nhiệm phải đóng cho nhà trường đang học.

Thủ tục mua bảo hiểm y tế: học sinh, sinh viên chỉ cần thẻ học sinh/sinh viên, chứng minh nhân dân hoặc các giấy tờ tùy thân khác có ảnh.

Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế khác

Người lao động làm việc tại các cơ quan, tổ chức và người được Nhà nước đóng, hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế được mua tại chính cơ quan, đơn vị nơi đang làm việc hoặc tại cơ quan bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

Về thủ tục mua bảo hiểm y tế, người tham gia bảo hiểm y tế 2024 chỉ cần chuẩn bị Tờ khai tham gia BHYT (Mẫu TK1-TS), sau đó thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan, đơn vị.

Mức hưởng bảo hiểm y tế 2024 Mức hưởng theo đối tượng tham gia bảo hiểm y tế 2024

Hiện nay, theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Nghị định số 146/2024/NĐ-CP mức hưởng bảo hiểm y tế 2024 phụ thuộc vào từng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế. Cụ thể:

Đối với các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế 2024 khác mức hưởng sẽ là 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong đó có đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện theo hộ gia đình.

Hiện nay, trên thẻ bảo hiểm y tế có ghi mã thẻ bảo hiểm y tế nhằm mục đích phân loại, thống kê đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, quyền lợi của đối tượng tham gia bảo hiểm y tế khi khám, chữa bệnh phù hợp với yêu cầu quản lý hiện nay và từng bước đáp ứng yêu cầu quản lý bằng công nghệ thông tin. Nhìn vào mã bảo hiểm y tế, người dân có thể biết rõ mình làm việc ngành nghề nào, thuộc nhóm đối tượng nào, mức hưởng BHYT, nơi sinh sống, bệnh viện nơi đăng ký KCB …

Như vậy, mức hưởng của người tham gia đã được mã hóa ở ký hiệu in trên thẻ bảo hiểm y tế. Theo đó mã thẻ bảo hiểm y tế gồm 15 ký tự, được chia thành 4 ô. Trong đó, 2 ký tự đầu (ô thứ nhất): Được ký hiệu bằng chữ, là mã đối tượng tham gia BHYT. Ký tự tiếp theo (ô thứ 2): Được ký hiệu bằng số (theo số thứ tự từ 1 đến 5) là mức hưởng BHYT. Trường hợp một người thuộc nhiều đối tượng tham gia BHYT thì mức hưởng BHYT ghi trên thẻ BHYT là mức hưởng của đối tượng có quyền lợi cao nhất.

Ngoài ra, không phụ thuộc vào loại đối tượng, người tham gia bảo hiểm y tế 2024 sẽ được thanh toán 100% chi phí KCB nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

KCB tại tuyến xã.

Chi phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn 15% mức lương cơ sở.

Người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 05 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế trong năm lớn hơn 06 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám chữa bệnh không đúng tuyến.

Trường hợp một người thuộc nhiều đối tượng tham gia bảo hiểm y tế thì được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế theo đối tượng có mức hưởng cao nhất.

Trường hợp người có thẻ bảo hiểm y tế tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến, sau đó được cơ sở nơi tiếp nhận chuyển tuyến đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo mức hưởng khi đi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế trái tuyến trừ các trường hợp sau: cấp cứu; đang điều trị nội trú được phát hiện bệnh khác ngoài phạm vi chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; tình trạng bệnh diễn biến vượt quá khả năng chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Người tham gia bảo hiểm y tế đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại trạm y tế tuyến xã giáp ranh của tỉnh giáp ranh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng và mức hưởng như trên khi đến khám bệnh, chữa bệnh tại trạm y tế tuyến xã giáp ranh của tỉnh giáp ranh.

Trường hợp chuyển đổi mức hưởng bảo hiểm y tế thì mức hưởng bảo hiểm y tế mới được tính từ thời điểm thẻ bảo hiểm y tế mới có giá trị sử dụng.

Mức hưởng bảo hiểm y tế 2024 khi đi khám chữa bệnh không đúng tuyến

Trường hợp người có thẻ bảo hiểm y tế tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán theo mức hưởng của các nhóm đối tượng:

Hiện nay, đã có sự thông tuyến bảo hiểm y tế tuyến xã, tuyến huyện trong cùng một tỉnh: người tham gia bảo hiểm y tế đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện được quyền khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện trong cùng địa bàn tỉnh có mức hưởng theo nhóm đối tượng như trên.

Đối với việc thông tuyến bảo hiểm y tế tuyến huyện trên phạm vi cả nước thì không phải mọi trường hợp đi khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế trái tuyến ở tuyến huyện sẽ được cơ quan bảo hiểm y tế thanh toán theo mức hưởng như đi khám đúng tuyến. Nếu trên thẻ bảo hiểm y tế của bạn ghi nơi đăng ký khám chữa bệnh bảo hiểm y tế là bệnh viện tuyến huyện thì bạn sẽ được đi khám ở bất kỳ bệnh viện nào thuộc tuyến huyện trên toàn quốc, còn nếu thẻ bảo hiểm y tế của bạn ghi rõ nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu là bệnh viện tuyến huyện của một tỉnh nhất định thì trường hợp này bạn sẽ chỉ được khám ở trên địa bàn tỉnh đó.

Người dân tộc thiểu số và người thuộc hộ gia đình nghèo tham gia bảo hiểm y tế đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người tham gia bảo hiểm y tế đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo khi tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với bệnh viện tuyến huyện, điều trị nội trú đối với bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến trung ương và có mức hưởng theo theo mức hưởng của nhóm đối tượng.

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2024, quỹ bảo hiểm y tế chi trả chi phí điều trị nội trú theo mức hưởng của nhóm đối tượng cho người tham gia bảo hiểm y tế khi tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến tỉnh trong phạm vi cả nước.

Cập nhật thông tin chi tiết về Quy Định Về Gói Dịch Vụ Y Tế Cơ Bản Tại Tuyến Y Tế Cơ Sở trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!