Xu Hướng 3/2024 # Phơi Sáng (Exposure) Trong Nhiếp Ảnh, Những Khái Niệm Cơ Bản # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phơi Sáng (Exposure) Trong Nhiếp Ảnh, Những Khái Niệm Cơ Bản được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đã bao giờ trong lúc trà chanh chém gió với bạn bè thì bạn bất chợt gặp phải thuật ngữ “phơi sáng” (exposure) và không hiểu nó nghĩa là gì? Bài viết này sẽ giúp bạn có được một số khái niệm cơ bản về “phơi sáng”, một trong những kiến thức cần phải nắm khi mới bước chân vào lĩnh vực chụp ảnh.

01. Khái niệm về Phơi sáng (Exposure)

Trong nhiếp ảnh, phơi sáng là lượng ánh sáng đi đến cảm biến máy ảnh hoặc phim của bạn, quyết định hình ảnh của bạn sáng hay tối.

02. Phơi sáng ngắn (Short Exposure) và Phơi sáng dài (Long Exposure)

Tùy vào mục đích của người chơi mà họ sẽ điều khiển được thời gian phơi sáng của máy ảnh bằng việc tùy chỉnh tốc độ màn trập (shutter speed).

Ở hình trên, do thời gian phơi sáng ngắn nên đã tạo hiệu ứng mọi thứ như ngưng đọng, chủ thể trong hình là con chim ruồi hiện lên sắc nét đến từng chi tiết.

Với cùng 1 góc chụp, nhiếp ảnh gia đã áp dụng cùng lúc kỹ thuật phơi sáng ngắn và phơi sáng dài để thể hiện 2 cảm xúc khác nhau cho hình ảnh của mình.

Ở tấm ảnh đầu tiên, ta có thể cảm nhận được sự sống động, dữ dội của những con sóng cuộn vào vách đá.

Ở tấm thứ hai, kỹ thuật phơi sáng dài đã làm mờ (blur) đi sự chuyển động của những con sóng, giúp chúng trở nên hiền hòa, thơ mộng hơn. đồng thời khiến người xem có được cảm giác thư giãn, thanh bình êm ả.

03. Kiểm soát độ phơi sáng trong nhiếp ảnh

Hầu hết các máy ảnh kỹ thuật số ngày nay đều được trang bị một loạt các chế độ chụp tự động (auto mode) mà máy ảnh sẽ quyết định về độ phơi sáng cho bạn. Bằng thuật toán, máy ảnh sẽ tự tính toán, cộng trừ nhân chia các thể loại để giúp bạn có được một tấm ảnh ĐÚNG SÁNG.

Vậy là việc chụp ảnh trở nên quá đơn giản cho những ai mới làm quen, bạn chỉ cần giơ máy lên, canh khung và chụp giống như chụp điện thoại vậy (chỉ khác là máy ảnh nặng hơn rất nhiều ^__^)

Tuy nhiên, bạn có đồng ý là tấm ảnh bên phải (khi được chụp cùng với một góc độ và điều kiện ánh sáng) mới tạo ấn tượng mạnh và truyền tải cảm xúc nhiều hơn? Ảnh này tác giả đã tự điều chỉnh thông số theo ý mình bằng kỹ thuật bù trừ EV mà không dùng chế độ chụp tự động của máy ảnh.

Sau bài viết này, việc cần làm tiếp theo là bạn hãy tìm hiểu thêm về tam giác phơi sáng (exposure triangle) để không còn lệ thuộc vào chế độ auto của máy ảnh mà bạn có thể tự tin chụp ở chế độ phơi sáng thủ công (Manual Mode), sáng tạo nên vẻ đẹp riêng cho tấm ảnh của mình.

Biên tập: wowphoto.vn

Những Điểm Cơ Bản Về Máy Ảnh #4: Bù Phơi Sáng

Bù phơi sáng là một chức năng bạn có thể sử dụng để thay đổi mức phơi sáng do máy ảnh cài đặt (mức phơi sáng đúng do máy ảnh quyết định) thành mức bạn thích. Ở đây, chúng ta tìm hiểu thêm về chức năng này, và tìm hiểu cách xác định các đối tượng cần bù phơi sáng dương hoặc âm. (Người trình bày: Tomoko Suzuki)

Bù phơi sáng được sử dụng để thay đổi độ sáng của ảnh (“phơi sáng đúng”) do máy ảnh cài đặt

Những điểm cần lưu ý

– Mức phơi sáng phụ thuộc và độ phản quang của đối tượng. – Sử dụng bù phơi sáng dương khi đối tượng phản chiếu ánh sáng rất tốt, và bù phơi sáng âm khi đối tượng không phản chiếu ánh sáng tốt.

Bù phơi sáng là một chức năng cho phép bạn thay đổi độ sáng so với mức phơi sáng đúng do máy ảnh quyết định. (Để tìm hiểu thêm về vấn đề này, hãy tham khảo Những Điểm Cơ Bản về Máy Ảnh #3: Phơi sáng). Để hiểu hơn về điểm đó, chúng ta hãy xem máy ảnh đo sáng như thế nào.

Máy ảnh có đồng hồ đo sáng tích hợp, quyết định mức phơi sáng “đúng” dựa trên lượng ánh sáng mà đối tượng phản chiếu (có nghĩa là “độ phản quang của đối tượng”). Quy trình này được gọi là “đo sáng”. Có một vài cách khác nhau để đo sáng, nhưng chế độ đo sáng thường được sử dụng nhất được gọi là “đo sáng đánh giá”. Ở chế độ này, hệ thống đo sáng chia toàn bộ khu vực ảnh thành một số vùng và đo độ sáng của mỗi vùng để tìm mức trung bình. Đo sáng đánh giá là hiệu quả để tìm mức phơi sáng đúng do máy ảnh quyết định ở hầu hết các cảnh.

Tuy nhiên, mức phơi sáng đúng do máy ảnh quyết định không phải lúc nào cũng mang đến độ sáng tối ưu cho cảnh. Nếu một đối tượng có màu đen (hoặc gần với màu đen), hầu hết các máy ảnh sẽ có xu hướng dư sáng, dẫn đến ảnh rất sáng. Ngược lại, nếu một đối tượng có màu trắng (hoặc gần với màu trắng), hầu hết các máy ảnh sẽ có xu hướng thiếu sáng, dẫn đến ảnh bị tối. Điều này là vì màu sáng có độ phản quang cao (phản chiếu nhiều ánh sáng), trong khi màu đen có độ phản quang thấp (phản chiếu ít ánh sáng).

Đây là trường hợp bạn có thể sử dụng bù phơi sáng để điều chỉnh độ sáng theo cách thủ công đến mức lý tưởng hơn. Thông thường, bù phơi sáng được cài đặt đến vị trí “0”, nhưng bạn có thể điều chỉnh mức đó bằng bánh xe hoặc nút bù phơi sáng. Chúng ta thường bù về phía “+” đối với các đối tượng có độ phản quang cao, và về phía “-” đối với các đối tượng có độ phản quang thấp. Như vậy, không có đúng hay sai khi nói đến bù phơi sáng, do đó bạn cũng có thể sử dụng nó để tinh chỉnh độ sáng của ảnh cho phù hợp với ý định hoặc ưu tiên sáng tạo.

Các cảnh cần bù phơi sáng

Bù phơi sáng dương (+) Các đối tượng chụp ngược sáng, các đối tượng có độ phản quang cao (màu trắng hoặc gần với màu trắng) và các cảnh sáng sẽ dẫn đến ảnh có vẻ tối hơn so với xuất hiện trên thực tế qua mắt thường. Trong những trường hợp như thế, hãy sử dụng bù phơi sáng dương.

Bù phơi sáng âm (-) Các đối tượng có độ phản quang thấp (màu đen hoặc gần với màu đen) và các cảnh tối sẽ dẫn đến ảnh có vẻ sáng hơn so với xuất hiện trên thực tế qua mắt thường. Điều này có thể làm mất chi tiết màu, nhất là khi bạn chụp các cảnh có môi trường xung quanh tối, chẳng hạn như hoàng hôn. Sử dụng bù phơi sáng dương sẽ giúp bạn khôi phục màu sắc.

Phơi sáng thường được biểu diễn bằng đơn vị EV Phạm vi bù phơi sáng khác nhau tùy máy ảnh, nhưng thường nằm trong khoảng từ EV-5,0 đến EV+5,0. Cài đặt bù phơi sáng 1 EV về phía dương (EV+1,0) sẽ tăng độ sáng lên hai lần mức ban đầu, trong khi cài đặt 1 EV về phía âm (EV-1,0) dẫn đến độ sáng bằng một nửa mức ban đầu. 1 EV tương đương 1 f stop.

Khái niệm 1: “+” đối với màu trắng, “-” đối với màu đen

Các đối tượng màu trắng hoặc ngả trắng chẳng hạn như các bãi biển có cát nhạt màu hoặc cảnh tuyết có độ phản quang cao, có nghĩa là chúng có thể có vẻ tối nếu bạn chụp ở chế độ tự động phơi sáng. Đối với những đối tượng như thế, hãy sử dụng bù phơi sáng dương (+). Nếu các vùng màu trắng bao phủ phần lớn khu vực ảnh, bạn sẽ có khả năng phải cài đặt đến giá trị bù phơi sáng dương rất cao.

Bù phơi sáng: EV±0

Bù phơi sáng: EV+1,0

Trái: EOS 5D Mark III/ EF50mm f/1.4 USM/FL: 50mm/ Aperture-priority AE (f/1.4, 1/200 giây, EV±0)/ ISO 100/ WB: Manual Phải: EOS 5D Mark III/ EF50mm f/1.4 USM/ FL: 50mm/ Aperture-priority AE (f/1.4, 1/100 giây, EV+1,0)/ ISO 100/ WB: Manual

Ngược lại, các đối tượng có màu đen hoặc gần với màu đen, chẳng hạn như cảnh đêm có nhiều vùng tối, có xu hướng được chụp như ảnh có vẻ sáng hơn và nhạt hơn cảnh thực tế được thấy qua mắt thường. Nếu bạn muốn làm cho cảnh có vẻ trang nghiêm hơn, hãy áp dụng đủ mức bù phơi sáng âm (-) để cho phần sáng nhất của ảnh có vẻ tối hơn một chút. Bù phơi sáng âm cũng hiệu quả trong việc làm cho màu sắc có vẻ mạnh hơn-hãy thử khi bạn chụp ảnh hoàng hôn vào lần sau.

Bù phơi sáng: EV±0

Bù phơi sáng: EV-1,0

Trái: EOS M/ EF-M22mm f/2 STM/ FL: 22mm (tương đương 35mm)/ Aperture-priority AE (f/2, 1/50 giây, EV±0)/ ISO 100/ WB: Daylight Phải: EOS M/ EF-M22mm f/2 STM/ FL: 22mm (tương đương 35mm)/ Aperture-priority AE (f/2, 1/100 giây, EV-1,0)/ ISO 100/ WB: Daylight

Khái niệm 2: Auto Exposure Bracketing

Đối với các cảnh khó xác định mức phơi sáng, hãy sử dụng chức năng Auto Exposure Bracketing (AEB). Nó cho phép bạn tự động chụp 3 tấm (trở lên) cùng cảnh, mỗi tấm ở một mức phơi sáng khác nhau. Mức chênh lệch phơi sáng giữa từng cảnh phụ thuộc vào máy ảnh, nhưng bạn có thể chụp các tấm khác nhau ở mức 1/3 f stop. Khi chụp xong, bạn có thể chọn tấm có mức phơi sáng lý tưởng.

Thiết lập này cho phép bạn chụp 2 tấm cách nhau EV±2,0.

Bù phơi sáng: EV+1,0 EOS 5D Mark III/ EF70-200mm f/4L IS USM/ FL: 200mm/ Program AE (f/8, 1/320 giây, EV+1,0)/ ISO 400/ WB: Daylight

Bù phơi sáng: EV±0 EOS 5D Mark III/ EF70-200mm f/4L IS USM/ FL: 200mm/ Program AE (f/8, 1/1250 giây, EV-1,0)/ ISO 400/ WB: Daylight

Bù phơi sáng: EV-1.0 EOS 5D Mark III/ EF70-200mm f/4L IS USM/ FL: 200mm/ Program AE (f/8, 1/1250 giây, EV-1,0)/ ISO 400/ WB: Daylight Tôi chụp một cảnh ngược sáng dùng AEB ở khoảng EV±1,0. Mức phơi sáng tối ưu cho ảnh này là EV+1,0. Cài đặt các khoảng AEB thành 1/3 hoặc 1/2 stop cho phép tôi chụp được những tấm có sự chênh lệch nhỏ hơn về phơi sáng, và sau đó chọn ra tấm thích hợp nhất.

Nhận thông tin cập nhật mới nhất về tin tức nhiếp ảnh, thủ thuật và mẹo bằng cách đăng ký với chúng tôi!

Phơi Sáng Là Gì Và Chế Độ Chụp Phơi Sáng Của Máy Ảnh

Nhập Couponcho đơn hàng từkhi đơn hàng có sản phẩm sau: Remote điều khiển từ xa Sony (Sony, Nex, alpha…)

Chắc chắn đã không ít lần bạn nghe về từ chụp ảnh phơi sáng hay phơi đêm. Vậy chụp phơi sáng là gì và chế độ chụp phơi sáng của máy ảnh là gì? Phơi sáng và bù phơi sáng

Phơi sáng là lượng ánh sáng đi vào máy khi chụp ảnh. Lượng ánh sáng này do khẩu độ và tốc độ màn trập quyết định. Kết hợp hai thông số này với độ nhạy sáng ISO, độ sáng tối của ảnh sẽ được ấn định.

Trong các chế độ chụp tự động và chế độ P/A/S, tính năng phơi sáng tự động (AE) được kích hoạt để máy ảnh đánh giá mức phơi sáng tối ưu và thiết đặt khẩu độ, tốc độ màn trập và độ nhạy sáng ISO phù hợp. Thông qua việc sử dụng tính năng phơi sáng tự động (AE) này, bạn có thể chụp ảnh với độ sáng phù hợp do máy ảnh tự động điều chỉnh.

Trong những trường hợp như thế này, bạn nên dùng bù phơi sáng. Bù phơi sáng là điều chỉnh độ phơi sáng được máy ảnh đánh giá là phù hợp để làm cho hình ảnh có độ sáng tối giống với ý muốn của bạn nhất. Như trong ví dụ trên, độ sáng phù hợp của ảnh khác nhau tùy theo cảnh hoặc sở thích cá nhân của bạn. Nếu bạn muốn ảnh sáng hơn, hãy chỉnh mức độ sáng sang phía dấu + và ngược lại, nếu bạn muốn hình tối hơn, hãy chỉnh sang phía dấu -. Với máy ảnh kỹ thuật số, bạn có thể kiểm tra kết quả chụp ngay tại chỗ. Chỉnh bù sáng nhiều lần để đạt được độ sáng mong muốn.

Độ nhạy sáng (ISO Sensitivity)

Ở máy ảnh kỹ thuật số, độ nhạy sáng ISO là chỉ báo cho biết lượng ánh sáng từ ống kính đi vào được khuyếch đại nhiều đến mức nào. Lượng ánh sáng đi vào máy ảnh do khẩu độ và tốc độ màn trập quyết định. Từ lượng đi vào này, ánh sáng được khuyếch đại để tạo hình ảnh phơi sáng tốt. Độ nhạy sáng ISO đại diện cho mức độ khuyếch đại này dưới hình thức chữ số. Chẳng hạn như, ISO200 nhạy sáng gấp hai lần ISO100. Điều này có nghĩa là thiết đặt ISO200 cho phép bạn chụp được hình ảnh có độ sáng ngang với ISO100 dù lượng ánh sáng đi vào chỉ bằng một nửa. Quả thật, trong hầu hết mọi chế độ, độ nhạy sáng ISO đều do máy ảnh xác định tự động tùy theo điều kiện chụp. Tuy nhiên, trong chế độ P/A/S/M, bạn có thể thiết đặt độ nhạy sáng bằng tay tùy theo nhu cầu của mình. Khi độ nhạy sáng được thiết đặt cao hơn, bạn có thể chụp với tốc độ nhanh hơn ngay cả trong điều kiện ánh sáng yếu để giảm mức độ nhòe mờ do việc rung lắc máy gây ra khi chụp chủ thể trong điều kiện thiếu sáng hoặc chủ thể đang chuyển động trong chụp ảnh thể thao. Tuy nhiên, vì ánh sáng được khuyếch đại bằng điện nên ảnh chụp với độ nhạy sáng ISO cao có khuynh hướng bị nhiễu (hạt mè) nhiều hơn hoặc giảm sắc nét.

Hai ảnh chụp đêm ở trên được chụp bằng cách dùng tay giữ cố định máy ảnh và được thiết đặt ở độ nhạy sáng lần lượt là ISO3200 đối với ảnh [1] và ISO800 đối với ảnh [2]. Bằng cách thiết đặt độ nhạy sáng cao, ảnh không bị nhòe mờ nhưng tòa nhà trong ảnh bên trái bị nhiễu (hạt mè).

Chế độ M (Phơi sáng bằng tay)

Trong chế độ M (Phơi sáng bằng tay), người chụp ảnh có thể điều chỉnh khẩu độ, tốc độ chụp và độ nhạy sáng. Trong các chế độ P, A và S, máy ảnh sẽ xác định độ phơi sáng tối ưu (độ sáng hình ảnh), nhưng trong chế độ M, các cài đặt của người dùng sẽ quyết định độ phơi sáng. Chế độ chụp này rất hữu ích khi bạn muốn kiểm soát cả khẩu độ và tốc độ chụp hay khi bạn muốn chụp pháo hoa, bầu trời sao, hoặc các chủ thể đặc biệt khác.

Tùy thuộc vào model, một số máy ảnh cho phép độ nhạy sáng được thiết đặt tự động ngay cả trong chế độ M. Khi độ nhạy sáng được thiết đặt thành tự động, độ nhạy sáng sẽ tự động thay đổi để cung cấp độ phơi sáng thích hợp theo khẩu độ và tốc độ chụp đã thiết đặt. Ngoài ra, tính năng bù sáng có thể cũng được sử dụng.

Chế độ chụp bulb (đóng mở cửa trập thủ công)

Có một tính năng khác ngoài chế độ M là chế độ chụp bulb. Trong chế độ chụp bulb, màn trập sẽ duy trì trạng thái mở khi bạn nhấn nút chụp. Điều này rất hữu ích khi bạn muốn giữ cho màn trập mở trong 30 giây hoặc lâu hơn, ví dụ, khi bạn muốn chụp chiều dài của các vệt sáng pháo hoa. Để sử dụng chế độ chụp bulb, hãy đặt tốc độ chụp thành [BULB]. Quay vòng xoay theo hướng tăng qua mức [30″] để hiển thị [BULB]. Việc nhấn nút chụp trên máy ảnh bằng ngón tay của bạn có khuynh hướng làm ảnh chụp bị mờ, vì vậy hãy đảm bảo sử dụng chân máy và điều khiển từ xa trong chế độ chụp bulb.

Để biết về các cài đặt chi tiết và các lưu ý khi sử dụng chế độ chụp bulb, hãy xem Sổ tay và Tài liệu hướng dẫn sử dụng dành cho model của bạn.

Tổng hợp Sony.net

Những Điều Cần Biết Về Độ Nhạy Sáng Iso Trong Nhiếp Ảnh

Thuật ngữ ISO được dùng khi nói về giá trị nhạy sáng trong nhiếp ảnh. Đây là từ viết tắt của cụm từ International Standards Organization (Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế), một tổ chức chuyên ban hành các thiết lập tiêu chuẩn trên bình diện quốc tế. Cơ quan này ấn định tiêu chuẩn cho tất cả mọi thứ, từ việc giám sát chất lượng không khí phải thực hiện như thế nào cho đến cách đo lường hàm lượng chất béo trong thực phẩm.

Trong ngành nhiếp ảnh phim, việc sử dụng từ tắt ISO có nghĩa là loại phim được sử dụng có giá trị nhạy sáng phải hợp với giá trị theo chuẩn ISO. Thí dụ, loại phim rất nhạy sáng có giá trị ISO 1.600 hay 3.200 cần ít ánh sáng hơn để tạo ra hình ảnh so với phim có độ nhạy sáng thấp ISO 100 hay 50. Mỗi cuộn phim chỉ có một giá trị ISO cố định duy nhất. Còn đối với máy ảnh kỹ thuật số, tùy mức độ cao cấp của máy mà dải ISO có thể cao hay thấp. Các giá trị ISO ngày nay được dùng để mô tả thiết lập độ nhạy sáng trên máy ảnh kỹ thuật số.

Cũng giống như trường hợp điều chỉnh tốc độ màn trập hay khẩu độ trong khi chụp ảnh, việc điều chỉnh độ nhạy sáng một đơn vị phơi sáng (một stop) sẽ làm tăng gấp đôi hay giảm một nửa thời gian phơi sáng cần thiết để tạo hình ảnh. Điều này giúp chúng ta dễ hiểu hơn về mối quan hệ giữa tốc độ, khẩu độ và độ nhạy sáng. Nếu tốc độ chụp hay khẩu độ thay đổi một stop, độ nhạy sáng có thể thay đổi một stop theo chiều ngược lại để bù trừ. Có nghĩa là, ISO thấp thường được dùng trong điều kiện ánh sáng mạnh hoặc dùng để chụp phơi sáng, còn ISO cao dùng khi chụp thiếu sáng hoặc tốc độ cao.

Một trong những lợi điểm tuyệt vời của nhiếp ảnh kỹ thuật số là độ nhạy sáng có thể thay đổi giữa các ảnh chụp khác nhau. Người chụp ảnh không bị ràng buộc phải quyết định chọn tốc độ phim ngay từ đầu và phải bám vào tốc độ này cho đến khi chụp hết 24 hay 36 “pô” ảnh giống như trong nhiếp ảnh phim.

Tuy nhiên, dù hầu hết các mẫu máy ảnh kỹ thuật số hiện đại ngày nay có nhiều thiết lập độ nhạy sáng thì thực tế là độ nhạy sáng của bộ cảm biến được ấn định chỉ bằng một giá trị gốc, thường là ISO 100 hay 200. Trong khi đó, các giá trị khác có thể đạt được bằng cách khuếch đại tín hiệu. Vấn đề là khuếch đại tín hiệu có thể làm ảnh bị nhiễu, là những đốm nhỏ thấy được trong ảnh có độ nhạy sáng cao.

Các hãng sản xuất máy ảnh thường thiết kế sản phẩm của họ có một phạm vi độ nhạy sáng ISO chuẩn (hay còn gọi là dải ISO “cài đặt sẵn trong máy”), gồm các giá trị từ khoảng 100 hay 200 cho đến 6.400 hay đôi khi cao hơn.

Đây là những giá trị mà hãng cho là sẽ tạo được ảnh với chất lượng ưng ý. Ảnh tạo ra ở giá trị độ nhạy sáng cao hơn sẽ bị nhiễu hơn so với ảnh chụp với ISO thấp hơn, nhưng hãng sản xuất xem hiện tượng đó còn nằm trong giới hạn chấp nhận được và họ hài lòng khi các thiết lập này được sử dụng thường xuyên.

Nhiều hãng sản xuất cũng thiết kế máy ảnh DSLR có các thiết lập “mở rộng” độ nhạy sáng, với những giá trị ISO nằm ngoài phạm vi có sẵn trong máy. Khi các giá trị này được dùng thì ảnh sẽ không có cùng chất lượng như những ảnh được tạo ra trong phạm vi độ nhạy sáng có sẵn. Hãng sản xuất cung cấp các giá trị này chủ yếu để giúp chụp ảnh trong các trường hợp khác thường hơn.

Ảnh chụp với thiết lập mở rộng thấp như ISO 64 hay ISO 50 không bị mức độ nhiễu quá mức như trường hợp ảnh chụp với giá trị ISO rất cao, từ 51.200 hay cao hơn. Tuy nhiên, những ảnh này thường không sánh được với chất lượng của ảnh chụp với các giá trị độ nhạy sáng chuẩn như ISO 100 hay 200.

Mức độ chi tiết trong những ảnh này thường thấp hơn một chút so với ảnh chụp với thiết lập có sẵn thấp nhất và dải tần nhạy sáng (dynamic range) thường hơi bị hạn chế. Cho nên, bạn có thể thấy rằng vùng sáng dễ bị cháy và vùng tối dễ bị che hơn. Trừ khi cần dùng thiết lập nhạy sáng rất thấp để chụp ảnh rộng hay làm mờ chuyển động, trong hầu hết các trường hợp thì bạn nên dùng các thiết lập ISO có sẵn trong máy như đã đề cập trong phần trên để đạt chất lượng hình ảnh tốt nhất.

Các kết cấu nhỏ tình cờ xuất hiện trong một bức ảnh có thể gọi là nhiễu trong ảnh kỹ thuật số hay các hạt li ti trên ảnh chụp bằng phim. Đối với loại phim nhựa, hạt li ti là kết quả của các phần tử hóa học không nhận đủ ánh sáng. Trong các bộ cảm biến hình ảnh kỹ thuật số, nhiễu là kết quả của các tín hiệu thừa tạo ra bởi hệ mạch kỹ thuật số của máy ảnh. Hiện tượng này xảy ra do lượng nhiệt vượt mức gây ra hay do khả năng xử lý của bộ cảm biến đối với tín hiệu rối loạn trong sóng không khí.

Khi tăng độ nhạy sáng, hiện tượng bị nhiễu ảnh càng thấy rõ nhất là trong các vùng tối hơn. Loại nhiễu ảnh này thấy rõ trong hai dạng: nhiễu màu (hay nhiễu sắc độ) và nhiễu độ sáng. Đó là những biến đổi về màu sắc và độ sáng của điểm ảnh. Nhiễu màu, biểu thị qua hiện tượng bị đốm màu, thường là hiện tượng khó chịu và khó giải quyết nhất vì nó trông không bình thường. Trong khi đó, nhiễu độ sáng thường ít thấy rõ hơn.

Trong nhiều trường hợp, không ai muốn xảy ra hiện tượng nhiễu trong ảnh màu. Tuy nhiên, đối với ảnh đen trắng, một số nhiếp ảnh gia cố tình tạo ra hiện tượng bị hạt nhằm thêm nét đặc sắc cho ảnh của họ chứ không phải là một lỗi tiêu cực.

Hệ thống giảm nhiễu trong máy ảnh kỹ thuật số ngày càng tinh vi nhờ áp dụng các giải thuật phức tạp để phân tích hình ảnh, nhận dạng nhiễu và giảm thiểu ảnh hưởng của nhiễu. Tuy nhiên, khi xử lý nhiễu màu, kết quả có thể là độ bão hòa màu sẽ bị giảm toàn bộ. Đồng thời, việc giải quyết nhiễu độ chói có thể làm mờ các chi tiết ảnh.

Khi cố điều chỉnh hiện tượng mờ, một số mẫu máy ảnh áp dụng tính năng làm sắc cạnh ở mức độ khá cao. Trong vài trường hợp, phương pháp này đưa đến kết quả là một hiệu ứng màu nước thấy rất rõ khi xem ảnh ở độ phóng đại 100%. Điều đó có nghĩa là nét bên ngoài rất rõ xung quanh các thành phần hình ảnh có sắc độ đều đặn ở bên trong.

Nếu có thể, tốt nhất là bạn nên chụp ảnh với độ nhạy sáng cao theo định dạng RAW và JPEG cùng một lúc. Định dạng JPEG cho phép có thể xuất ảnh ngay sau khi chụp, trong khi tập tin RAW chứa tất cả dữ liệu để chỉnh sửa sau khi chụp. Định dạng RAW cho phép tìm được đúng cân bằng giữa độ nét chi tiết, độ giảm thiểu nhiễu và thường được các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp ưa dùng.

Nguồn: Huy Thắng – Thế giới vi tính online (http://www.pcworld.com.vn)

Kiến Thức Nhiếp Ảnh Cơ Bản “Khẩu Độ

Mỗi ống kính được tạo bởi nhiều thấu kính và một cửa điều sáng có thể điều chỉnh to hay nhỏ. Kích thước của cửa điều sáng được hiểu là khẩu độ, nó có nhiệm vụ chính là kiểm soát lượng ánh sáng đi vào ống kính. Khi mở khẩu thì lượng ánh sáng nhiều hơn sẽ đi vào ống kính, và ngược lại, khi khép khẩu, lượng ánh sáng ít hơn có thể đi vào ống kính.

Các số f tiêu chuẩn là: f/1.4, f/2, f/2.8, f/4, f/5.6, f/8… Khẩu độ quyết định tới độ sâu trường ảnh. Nếu bạn muốn độ sâu trường ảnh thấp nhằm làm nổi bật đối tượng và để cảnh nền nhòe, có thể chọn khẩu độ rộng như f2/8. Ngược lại, nếu chọn đối tượng ảnh là cảnh nền, hãy tùy chỉnh khẩu độ hẹp, chẳng hạn f/22.

Những điểm cần lưu ý về khẩu độ – Khẩu độ càng lớn (có nghĩa là số f càng nhỏ), thì hiệu ứng bokeh càng lớn. – Khẩu độ càng nhỏ (có nghĩa là số f càng lớn), thì độ sâu trường ảnh càng lớn. – Lượng ánh sáng đi vào cảm biến có thể được kiểm soát bằng cách mở/khép khẩu. Những điểm cần lưu ý đối với tốc độ cửa trập – Tốc độ cửa trập cao hơn sẽ đóng băng đối tượng đang chuyển động. – Tốc độ cửa trập thấp hơn sẽ tạo ra hiệu ứng nhòe chuyển động từ chuyển động của đối tượng. Những điểm cần lưu ý đối với ISO – ISO càng cao, độ nhạy sáng càng cao, độ nhiễu hạt càng nhiều. Thông số ISO tham khảo – ISO càng thấp, độ nhạy sáng càng thấp, ảnh càng mịn. – Cố gắng nếu có thể giữ ISO Tăng ISO khi muốn chụp tốc độ màn trập rất cao như 1/1600s, 1/3200s hay 1/4000s chẳng hạn để bắt dính một chuyển động nhanh, hoặc muốn ảnh nhiễu hạt theo ý thích.100 – 400 là mức tốt nhất. – Bạn có thể điều chỉnh lượng ánh sáng bằng cách mở/đóng cửa trập.

Tốc độ cửa trập (thời gian phơi sáng) là thời gian khi cửa trập được mở và ánh sáng có thể đi vào cảm biến bên trong máy ảnh. Tốc độ cửa trập được hiển thị dưới dạng 1s, 1/2, 1/4, 1/8, 1/15, 1/30, 1/60, 1/125, 1/250, 1/500, 1/1000, 1/2000, 1/4000, 1/8000.

Tốc độ cửa trập không chỉ cho phép bạn điều chỉnh lượng ánh sáng, mà nó còn có thể làm thay đổi cách chuyển động của đối tượng được chụp lại như thế nào. Cụ thể, khi tốc độ cửa trập cao bạn có thể đóng băng hoàn toàn chuyển động của đối tượng. Ngược lại, khi bạn sử dụng tốc độ cửa trập chậm hơn, bạn có thể làm nhòe đối tượng theo hướng chuyển động. Nói cách khác, tốc độ cửa trập quyết định đối tượng ảnh di chuyển mờ hay rõ. Tốc độ chậm sẽ làm ảnh mờ hơn và ngược lại.

ISO là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới độ sáng, tối của một bức ảnh. Bạn chỉ cần hiểu, ISO càng cao thì ảnh càng sáng và dễ xảy ra hiện tượng nhiễu màu và hạt càng tăng. Vì vậy, xu hướng khi chụp là cố gắng giữ ISO ở mức thấp nhất. Sau khi đã mở khẩu độ tối đa cũng như giảm tốc độ cửa chập xuống hết mức cho phép mà ảnh vẫn không đủ sáng người ta mới phải dùng đến việc tăng độ nhạy ISO, như là một giải pháp cuối cùng. Và nâng ISO lên từ từ luôn được ưu tiên, bạn cứ nâng thông số này sao cho ảnh có lượng sáng đủ như ý muốn.

Hiểu Về Độ Nhạy Sáng Iso Trong Nhiếp Ảnh

Thiết lập độ nhạy sáng (ISO) của máy ảnh là một phần quan trọng để mang lại những bức ảnh đẹp. Hình bạn chụp có sáng & nét không? Phần lớn phụ thuộc vào cách thiết lập ISO. Vậy nên hiểu được bản chất của độ nhạy sáng là việc quan trọng để có hình đẹp. 

Khái niệm

ISO là viết tắt của cụm từ International Standards Organization (Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế), một cơ quan của Châu Âu chuyên ban hành các tiêu chuẩn cho nhiều loại sản phẩm khác nhau. Sở dĩ dùng tên gọi này là vì các nhiếp ảnh gia và hãng sản xuất muốn có một tên gọi chuẩn mực cho giá trị độ nhạy sáng trên tất cả các dòng máy ảnh. Trước đây, ISO còn được biết đến dưới tên gọi ASA (American Standards Association) – Hiệp hội tiêu chuẩn Hoa Kỳ. Những người mê máy ảnh chụp phim chắc hẳn vẫn còn nhớ những loại phim ASA 50, 100, 200, 800, và 1600.

Độ nhạy sáng ISO kiểm soát mức nhạy của cảm biến máy ảnh đối với ánh sáng đi vào cảm biến. Thiết lập ISO càng cao sẽ làm cho cảm biến máy ảnh càng nhạy sáng, cho phép bạn chụp ảnh ở nơi tối, thiếu sáng. Tuy nhiên ISO càng cao thì ảnh của bạn càng nhiễu

Minh họa về ảnh hưởng của ISO lên chất lượng ảnh, ISO càng cao, ảnh càng sáng, nhưng sẽ càng bị nhiễu

ISO cùng với tốc độ màn trập và khẩu độ là ba giá trị thông số quan trọng nhất quyết định đến kết quả phơi sáng và chất lượng của một tấm hình. Ngày nay, dải ISO thường dao động trong khoảng 25 cho tới 12800 (và còn hơn thế nữa) trên các dòng máy ảnh phổ thông. Giá trị này càng thấp thì phim hoặc cảm biến càng ít nhạy với ánh sáng và ngược lại. Điều này có nghĩa, ISO thấp thường được dùng trong điều kiện sáng mạnh, hoặc khi phơi sáng, còn ISO cao dùng khi chụp thiếu sáng hoặc tốc độ cao.

Tốc độ cửa chập tăng cùng với độ nhạy sáng ISO

Việc tăng độ nhạy sáng ISO cho phép bạn chụp ảnh rõ ngay cả ở các điều kiện thiếu sáng. Không những thế, việc chọn một độ nhạy sáng ISO cao ở điều kiện sáng cho phép cảm biến hình ảnh chụp được lượng ánh sáng lớn trong một khoảng thời gian ngắn, nhờ đó cho phép bạn sử dụng tốc độ cửa trập cao hơn so với thiết lập độ nhạy sáng ISO thấp. Trong chụp ảnh thể thao, người ta thường sử dụng tốc độ cửa chập nhanh cộng với ISO 400 khi chụp vào ban ngày.

ISO và độ sạn của ảnh 

Với ảnh phim, nếu là loại có ISO thấp, sau khi chụp xong, ngay khi soi dưới ánh sáng bạn đã có thể thấy phim rất mịn, và lúc in ảnh ra cũng vậy. Nhưng với loại ISO cao thì khác, các hạt sạn lấm tấm có thể thấy rõ bằng mắt thường dù là trên phim hay khi ảnh ra. Với máy ảnh số, nguyên lý cũng tương tự. Khi đủ sáng, độ nhạy ISO thấp, cảm biến máy ảnh không cần làm việc nhiều, do đó ảnh rất mịn. Ngược lại, khi không đủ sáng vào cảm biến, bộ phận này phải làm việc nhiều hơn để dựng lên một bức ảnh đầy đủ chi tiết, do đó sẽ xuất hiện những hạt sạn “kỹ thuật số”. Vậy khái niệm sạn “số” này là gì?

Cảm biến trong máy ảnh số sẽ tiếp nhận ánh sáng đi qua từ thấu kính và tái tạo chúng thành file ảnh. Trước tiên, ánh sáng sau khi qua ống kính sẽ tới màng lọc màu, hiện nay đa phần máy ảnh sử dụng màng lọc theo kiểu Bayer với 3 màu cơ bản là đỏ, lục, và lam. Mỗi sensor gồm hàng triệu các ô nhỏ (pixel), mỗi ô của Sensor phát ra lượng điện được nạp tương ứng với phần ánh sáng đập vào (thực chất là các lượng tử ánh sáng – photon). Tùy vào số lượng photon ánh sáng tới từng ô mà máy sẽ phân tích đưa ra số liệu về màu sắc của từng ô. Tất cả chúng tạo thành một ma trận điểm ảnh, vi xử lý của máy sẽ có nhiệm vụ chuyển đổi các tín hiệu điện thu nhận được này thành một file ảnh và ghi vào thẻ nhớ. Khi lượng ánh sáng đến cảm biến là quá nhỏ, không đủ để tạo thành các dòng tín hiệu điện, tức là có nhiều ô không nhận được photon ánh sáng, chúng sẽ không có màu sắc riêng biệt, mà chỉ là các chấm đen li ti, mà ta gọi là sạn. Lúc này vi xử lý hình ảnh phải dựa vào dữ liệu từ những điểm ảnh gần nhất để nội suy ra giá trị của ô đó, cho nên màu có vẻ hơi khác so với thực tế.

Trong ngành nhiếp ảnh phim, việc sử dụng từ tắt ISO có nghĩa là loại phim được sử dụng có giá trị nhạy sáng phải hợp với giá trị theo chuẩn ISO. Thí dụ, loại phim rất nhạy sáng có giá trị ISO 1.600 hay 3.200 cần ít ánh sáng hơn để tạo ra hình ảnh so với phim có độ nhạy sáng thấp ISO 100 hay 50. Mỗi cuộn phim chỉ có một giá trị ISO cố định duy nhất. Còn đối với máy ảnh kỹ thuật số, tùy mức độ cao cấp của máy mà dải ISO có thể cao hay thấp. Các giá trị ISO ngày nay được dùng để mô tả thiết lập độ nhạy sáng trên máy ảnh kỹ thuật số. 

ISO thấp thường được dùng trong điều kiện ánh sáng mạnh hoặc dùng để chụp phơi sáng, còn ISO cao dùng khi chụp thiếu sáng hoặc tốc độ cao.

 Trong ví dụ này, chuyển động của diễn viên bị ‘đóng băng’ bằng cách sử dụng tốc độ cửa trập cao, không flash, để tránh làm ảnh hưởng không khí của ảnh. Đây là một cảnh thiếu sáng điển hình có thể chụp bằng độ nhạy sáng ISO cao. Manual exposure (1/800 giây, f/4)/ ISO 6400 F/5.6.

Thiết lập gốc 

Một trong những lợi điểm tuyệt vời của nhiếp ảnh kỹ thuật số là độ nhạy sáng có thể thay đổi giữa các ảnh chụp khác nhau. Người chụp ảnh không bị ràng buộc phải quyết định chọn tốc độ phim ngay từ đầu và phải bám vào tốc độ này cho đến khi chụp hết 24 hay 36 “pô” ảnh giống như trong nhiếp ảnh phim.

Ảnh chụp ở ISO cao thường sẽ sáng hơn nhưng bị nhiễu hạt nhiều hơn so với ảnh chụp ở ISO thấp hơn.

Tuy nhiên, dù hầu hết các mẫu máy ảnh kỹ thuật số hiện đại ngày nay có nhiều thiết lập độ nhạy sáng thì thực tế là độ nhạy sáng của bộ cảm biến được ấn định chỉ bằng một giá trị gốc, thường là ISO 100 hay 200. Trong khi đó, các giá trị khác có thể đạt được bằng cách khuếch đại tín hiệu. Vấn đề là khuếch đại tín hiệu có thể làm ảnh bị nhiễu, là những đốm nhỏ thấy được trong ảnh có độ nhạy sáng cao.

Thiết lập có sẵnCác hãng sản xuất máy ảnh thường thiết kế sản phẩm của họ có một phạm vi độ nhạy sáng ISO chuẩn (hay còn gọi là dải ISO “cài đặt sẵn trong máy”), gồm các giá trị từ khoảng 100 hay 200 cho đến 6.400 hay đôi khi cao hơn. Giờ Canon đã có lens siêu đỉnh với ISO 300.000 hay đạt mức 4.000.000

Đây là những giá trị mà hãng cho là sẽ tạo được ảnh với chất lượng ưng ý. Ảnh tạo ra ở giá trị độ nhạy sáng cao hơn sẽ bị nhiễu hơn so với ảnh chụp với ISO thấp hơn, nhưng hãng sản xuất xem hiện tượng đó còn nằm trong giới hạn chấp nhận được và họ hài lòng khi các thiết lập này được sử dụng thường xuyên.

Nhiều hãng sản xuất cũng thiết kế máy ảnh DSLR có các thiết lập “mở rộng” độ nhạy sáng, với những giá trị ISO nằm ngoài phạm vi có sẵn trong máy. Khi các giá trị này được dùng thì ảnh sẽ không có cùng chất lượng như những ảnh được tạo ra trong phạm vi độ nhạy sáng có sẵn. Hãng sản xuất cung cấp các giá trị này chủ yếu để giúp chụp ảnh trong các trường hợp khác thường. 

Thiết lập mở rộng thấpẢnh chụp với thiết lập mở rộng thấp như ISO 64 hay ISO 50 không bị mức độ nhiễu quá mức như trường hợp ảnh chụp với giá trị ISO rất cao, từ 51.200 hay cao hơn. Tuy nhiên, những ảnh này thường không sánh được với chất lượng của ảnh chụp với các giá trị độ nhạy sáng chuẩn như ISO 100 hay 200.

Mức độ chi tiết trong những ảnh này thường thấp hơn một chút so với ảnh chụp với thiết lập có sẵn thấp nhất và dải tần nhạy sáng (dynamic range) thường hơi bị hạn chế. Cho nên, bạn có thể thấy rằng vùng sáng dễ bị cháy và vùng tối dễ bị che hơn. Trừ khi cần dùng thiết lập nhạy sáng rất thấp để chụp ảnh rộng hay làm mờ chuyển động, trong hầu hết các trường hợp thì bạn nên dùng các thiết lập ISO có sẵn trong máy như đã đề cập trong phần trên để đạt chất lượng hình ảnh tốt nhất.

Nhiễu màu và nhiễu độ sáng (Noise)Các kết cấu nhỏ tình cờ xuất hiện trong một bức ảnh có thể gọi là nhiễu trong ảnh kỹ thuật số hay các hạt li ti trên ảnh chụp bằng phim. Đối với loại phim nhựa, hạt li ti là kết quả của các phần tử hóa học không nhận đủ ánh sáng. Trong các bộ cảm biến hình ảnh kỹ thuật số, nhiễu là kết quả của các tín hiệu thừa tạo ra bởi hệ mạch kỹ thuật số của máy ảnh. Hiện tượng này xảy ra do lượng nhiệt vượt mức gây ra hay do khả năng xử lý của bộ cảm biến đối với tín hiệu rối loạn trong sóng không khí. 

Nhiễu hạt thường là một hiệu ứng nhằm thêm nét đặc sắc trong ảnh đen trắng.

Khi tăng độ nhạy sáng, hiện tượng bị nhiễu ảnh càng thấy rõ nhất là trong các vùng tối hơn. Loại nhiễu ảnh này thấy rõ trong hai dạng: nhiễu màu (hay nhiễu sắc độ) và nhiễu độ sáng. Đó là những biến đổi về màu sắc và độ sáng của điểm ảnh. Nhiễu màu, biểu thị qua hiện tượng bị đốm màu, thường là hiện tượng khó chịu và khó giải quyết nhất vì nó trông không bình thường. Trong khi đó, nhiễu độ sáng thường ít thấy rõ hơn.

 Trong nhiều trường hợp, không ai muốn xảy ra hiện tượng nhiễu trong ảnh màu. Tuy nhiên, đối với ảnh đen trắng, một số nhiếp ảnh gia cố tình tạo ra hiện tượng bị hạt nhằm thêm nét đặc sắc cho ảnh của họ chứ không phải là một lỗi tiêu cực.

Giảm nhiễu 

Hệ thống giảm nhiễu trong máy ảnh kỹ thuật số ngày càng tinh vi nhờ áp dụng các giải thuật phức tạp để phân tích hình ảnh, nhận dạng nhiễu và giảm thiểu ảnh hưởng của nhiễu. Tuy nhiên, khi xử lý nhiễu màu, kết quả có thể là độ bão hòa màu sẽ bị giảm toàn bộ. Đồng thời, việc giải quyết nhiễu độ chói có thể làm mờ các chi tiết ảnh.

Khi cố điều chỉnh hiện tượng mờ, một số mẫu máy ảnh áp dụng tính năng làm sắc cạnh ở mức độ khá cao. Trong vài trường hợp, phương pháp này đưa đến kết quả là một hiệu ứng màu nước thấy rất rõ khi xem ảnh ở độ phóng đại 100%. Điều đó có nghĩa là nét bên ngoài rất rõ xung quanh các thành phần hình ảnh có sắc độ đều đặn ở bên trong.

Nếu có thể, tốt nhất là bạn nên chụp ảnh với độ nhạy sáng cao theo định dạng RAW và JPEG cùng một lúc. Định dạng JPEG cho phép có thể xuất ảnh ngay sau khi chụp, trong khi tập tin RAW chứa tất cả dữ liệu để chỉnh sửa sau khi chụp. Định dạng RAW cho phép tìm được đúng cân bằng giữa độ nét chi tiết, độ giảm thiểu nhiễu và thường được các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp ưa dùng.

Tổng hợp

Cập nhật thông tin chi tiết về Phơi Sáng (Exposure) Trong Nhiếp Ảnh, Những Khái Niệm Cơ Bản trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!