Xu Hướng 3/2024 # Một Số Suy Nghĩ Về Thuật Ngữ Thị Trường Dịch Vụ Tài Chính # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Một Số Suy Nghĩ Về Thuật Ngữ Thị Trường Dịch Vụ Tài Chính được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

TS. VŨ THỊ MINH HẰNG

1. Khái niệm học thuật về thị trường dịch vụ tài chính?

b – Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (không kể dịch vụ bảo hiểm).

c – Các dịch vụ tài chính khác.

Ở VN, thuật ngữ DVTC đã xuất hiện khá thường xuyên trên các diễn đàn kinh tế và trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội từ 2001-2010 của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã nêu rõ:

– Mở rộng các dịch vụ tài chính- tiền tệ như tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán…

– Từng bước hình thành các trung tâm dịch vụ tài chính lớn trong khu vực.

Về phương diện nghiên cứu hiện nay có quan điểm cho rằng : “ Thị trường dịch vụ tài chính là một bộ phận của thị trường tài chính nơi diễn ra các hoạt động giao dịch tạo ra sự luân chuyển các dòng tài chính trong nền kinh tế ’’. ( “Phát triển thị trường dịch vụ tài chính VN trong tiến trình hội nhập” – PGS. TS. Thái Bá Cẩn tr 13).

Theo chúng tôi quan điểm trên chỉ xem xét hoạt động DVTC trên góc độ gắn kết với hoạt động của thị trường tài chính là chưa đủ thuyết phục, cụ thể :

Về mặt lý luận thị trường tài chính chỉ là một bộ phận của hệ thống tài chính, đây là thị trường các công cụ tài chính ngắn hạn như thương phiếu, tín phiếu… trung, dài hạn như cổ phiếu, trái phiếu… ngoài ra, còn là các sản phẩm phái sinh. Như vậy, nếu chiếu theo các loại dịch vụ tài chính phân nhóm theo WTO thì thị trường dịch vụ tài chính theo quan điểm trên là quá hẹp khi các ngân hàng chỉ huy động vốn qua phát hành chứng từ có giá hay các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ tham gia trên thị trường này như một chủ thể đầu tư?

Theo chúng tôi cần xem xét khái niệm thị trường dịch vụ tài chính với góc nhìn đầy đủ hơn, đó là một bộ phận của thị trường dịch vụ của nền kinh tế. Song hoạt động tài chính mang nét đặc trưng vốn có là tạo nên các dòng lưu chuyển tiền tệ từ nơi thừa đến nơi thiếu xác lập sự kết nối cung – cầu các dòng vốn trên thị trường. Sự kết nối này được thực hiện rất linh hoạt thông qua các định chế tài chính trung gian như ngân hàng thương mại, bảo hiểm thương mại và các doanh nghiệp tài chính khác như công ty chứng khoán. Chính trong quá trình hoạt động của mình các doanh nghiệp đã cung cấp cho khách hàng hàng loạt các sản phẩm dịch vụ vừa mang nét đặc trưng của loại hình doanh nghiệp (như dịch vụ nhận tiền gửi, dịch vụ tín dụng, dịch vụ thanh toán… của các ngân hàng, các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ của các công ty bảo hiểm, dịch vụ môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư, phát hành hộ chứng khoán… của các công ty chứng khoán…) vừa mang tính liên kết, hợp tác như dịch vụ bancassurance. Ngoài ra, để góp phần giúp cho việc đánh giá hiệu quả các hoạt động tài chính trên thị trường đồng thời góp phần giảm những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình đầu tư tài chính thì các dịch vụ kế toán – kiểm toán và tư vấn tài chính cũng có thể xem là một bộ phận phụ trợ quan trọng của thị trường dịch vụ tài chính.

Mặt khác, để đưa ra một khái niệm đầy đủ về thị trường DVTC, phải nhận diện các đặc tính của DVTC đó là:

+ Tính vô hình: Đây là điểm phân biệt cơ bản với các sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất.

+ Tính không thể tách biệt hay không chia cắt: phát sinh do quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời và không có sản phẩm dỡ dang, dự trữ lưu kho. Sản phẩm tài chính được cung cấp trực tiếp cho khách hàng khi có nhu cầu và đáp ứng được những điều kiện quy định của doanh nghiệp tài chính.

+ Tính không ổn định và khó xác định vì một sản phẩm dịch vụ tài chính dù lớn hay nhỏ về quy mô đều đồng nhất về thời gian, cách thức, điều kiện thực hiện vì vậy rất khó xác định. Mặt khác chất lượng của sản phẩm DVTC được cấu thành bởi nhiều yếu tố như uy tín của doanh nghiệp cung cấp, công nghệ, trình độ,… mà các yếu tố này lại thường xuyên biến động nên rất khó luợng hoá.

Vấn đề tiếp theo cần lưu ý là các sản phẩm DVTC lại mang nét đặc thù riêng không giống như những hoạt động dịch vụ khác vì bản chất của dịch vụ tài chính là hỗ trợ sự lưu chuyển nhanh mà hiệu quả các nguồn tài chính. Ở đâu tập trung nhiều nguồn lực tài chính ở đó có nhiều thuận lợi để phát triển dịch vụ tài chính.

Từ những phân tích trên, theo chúng tôi: thị trường DVTC là một bộ phận của thị trường dịch vụ trong nền kinh tế nơi cung cấp các sản phẩm nhằm đáp ứng những lợi ích tài chính cho khách hàng phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

2.  Một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến thị trường dịch vụ tài chính.

2.1. Các chủ thể tham gia trên thị trường DVTC.

Đứng trên góc độ thị trường chúng tôi đề cập đến hai nhóm chủ thể cơ bản tạo nên cung – cầu trên thị trường DVTC đó là: Các chủ thể cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính và các chủ thể có nhu cầu tiếp cận với các sản phẩm DVTC hay đơn giản là khách hàng – những chủ thể hưởng thụ các sản phẩm DVTC.

a. Đối với chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính.

Cung cấp các loại dịch vụ tài chính trên thị trường là các doanh nghiệp tài chính hoạt động trên các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, tư vấn đầu tư… cùng với xu hướng phát triển của nền kinh tế các chủ thể này hoạt động với nhiều hình thức sở hữu, cơ chế tạo vốn linh hoạt. Đặc biệt, các doanh nghiệp tham gia trong lĩnh vực này luôn bị áp lực bởi yếu tố tài chính cụ thể như: vốn điều lệ phải đạt tối thiểu so với vốn pháp định mà luật pháp quy định. Điều này, do thấy tính chất nhạy cảm của loại hình kinh doanh dịch vụ tài chính so với các doanh nghiệp khác, bắt nguồn từ đặc trưng cuả những sản phẩm dịch vụ tài chính là vô hình nhưng lại tạo nên những quan hệ tài chính phụ thuộc dây chuyền với nhiều chủ thể. Từ đó, luật pháp kiểm soát chặt chẽ bằng các quy định về điều kiện kinh doanh và các chỉ số an toàn tài chính khác trong suốt quá trình hoạt động. Ngoài ra, sức mạnh về tài chính còn mang yếu tố quyết định đến quá trình đầu tư nâng cấp về cơ sở vật chất cần thiết nhằm nâng cao chất lượng cho các sản phẩm tài chính, đầu tư mở rộng mạng lưới hoạt động nhằm gia tăng sự tiện ích cho khách hàng, đầu tư phát triển nguồn lực của doanh nghiệp…

Cũng như các doanh nghiệp khác, các doanh nghiệp tài chính cũng phải cạnh tranh với nhau qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp với các yếu tố như chất lượng sản phẩm, chủng loại, chất lượng phục vụ biểu hiện qua sự hài lòng của khách hàng được đo lường qua mối quan hệ giữa nhân viên với khách hàng nhằm tăng cường sự tin cậy của khách hàng. Trong đó, vấn đề chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng. Chất lượng của một sản phẩm dịch vụ tài chính thể hiện ở khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng trong suốt quá trình sử dụng dịch vụ đó. Chất lượng của dịch vụ tài chính phụ thuộc vào tiềm lực tài chính của chủ thể cung cấp thông qua việc đầu tư phát triển, nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới, ứng dụng công nghệ hiện đại để tạo sự tiện ích cho khách hàng, khả năng tiếp thị marketing về sản phẩm dịch vụ tài chính trên thị trường…

Mặt khác, trong xu thế tự do hoá tài chính, trong những thập niên gần đây các doanh nghiệp tài chính không giới hạn trong lónh vöïc cung cấp dịch vụ truyền thống của mình mà còn được mở rộng trên cơ sở liên kết, hợp tác với các đối thủ cạnh tranh tạo nên các dòng sản phẩm dịch vụ tài chính mới đưa đến sự hình thành các tập đoàn tài chính đa năng.

b. Đối với các khách hàng là các chủ thể thụ hưởng các sản phẩm dịch vụ tài chính.

Trên thị trường DVTC các đối tượng khách hàng tạo ra nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ tài chính bao gồm công chúng, doanh nghiệp và cả nhà nước. Không có nhu cầu khách hàng thì sẽ không có dịch vụ phát sinh, mặt khác, chất lượng dịch vụ tài chính cao hay thấp không chỉ phụ thuộc vào bản thân dịch vụ mà còn do kỹ năng của người cung cấp dịch vụ và khả năng cảm thụ dịch vụ khách hàng. Do vậy, để phát triển thị phẩn dịch vụ cung cấp của mình các doanh nghiệp không chỉ nâng cao uy tín, độ tin cậy, khả năng tài chính mà còn phải nắm bắt nhu cầu khách hàng thông qua việc thường xuyên khảo sát thị trường. Nói cách khác, xây dựng chính sách marketing để hoàn thiện và nâng cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính sẵn có đồng thời dự định cho ra đời những sản phẩm dịch vụ mới luôn là nhu cầu cần thiết khách quan đăc biệt trong lĩnh vực cung cấp DVTC.

Như vậy, khả năng tiếp cận các DVTC của các chủ thể trong nền kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả từ phía người cung cấp, người sử dụng dịch vụ và môi trường vĩ mô (như luật pháp, cơ chế, chính sách…). Thị trường DVTC càng phát triển thì việc tiếp cận các DVTC của các chủ thể trong nền kinh tế càng thuận lợi và bình đẳng hơn.

2.2 Giá cả DVTC

Giá cả là một trong những nội dung cơ bản của thị trường DVTC. Giá cả đối với các DVTC có thể mang nhiều tên gọi khác nhau tùy theo loại dịch vụ cung cấp như: Lãi suất, phí bảo hiểm, phí chuyển tiền, hoa hồng môi giới, phí tư vấn…

Giá cả DVTC là nhân tố ảnh hưởng nhiều đến lợi nhuận, doanh thu của doanh nghiệp tài chính. Đặc biệt, giá cả còn là một trong những vấn đề hàng đầu ảnh hưởng đến chiến lược cạnh tranh thị trường cũng như biểu hiện chất lượng cao của dịch vụ.

Căn cứ quan trọng để xác định giá dịch vụ của các doanh nghiệp tài chính là vấn đề chi phí. Chi phí để cung cấp một đơn vị dịch vụ là mức giá thấp nhất có thể chấp nhận đối với nhà cung cấp trong dài hạn. Điều này tuỳ thụôc vào tình hình cạnh tranh trên thị trường và cơ chế quản lý giá DVTC của Nhà nước. Biên độ dao động giữa mức giá cao nhất và thấp nhất sẽ là vùng lựa chọn giá của doanh nghiệp.

Đối với các loại DVTC mới khi xây dựng chiến lược giá các doanh nghiệp thường phải giải quyết vấn đề: dịch vụ cung cấp có ưu điểm gì ? Là loại DV hoàn toàn mới trên thị trường? Khi đó, nhà cung cấp sẽ đứng ở vị trí thế độc quyền. Hay chỉ là sản phẩm dịch vụ mới của doanh nghiệp nhưng đã có mặt trên thị trường? đây là cơ sở để hình thành hai chiến lược định giá khác nhau.

* Chiến lược giá hớt phần ngọn (Skimming Pricing)

Áp dụng đối với DV hoàn toàn mới chưa xuất hiện trên thị trường

– Đối tượng cần tập trung khai thác, doanh nghiệp sẽ phân loại các nhóm khách hàng cho chiến lược này. Đầu tiên sẽ là những khách hàng ưa đổi mới thích thay đổi thói quen tiêu dùng sản phẩm và sẽ giảm dần khả năng tiêu dùng sản phẩm cho đến nhóm cuối cùng cần tác động là những khách hàng bảo thủ chỉ chấp nhận dịch vụ mới khi nó đã trở nên phổ biến hay giá cả đã giảm.

Xu hướng của chiến lược này sẽ có mục tiêu đạt mức giá cao nhất từ nhóm khách hàng ưa đổi mới và giá sẽ giảm dần cho các nhóm khách hàng sau:

* Chiến lược định giá bão hòa (Saturation pricing)

Nếu DVTC mới không có nét đặc thù nào so với các DV đang có trên thị trường thì chiến lược giá thấp ban đầu sẽ được áp dụng để thu hút khách hàng (mặc dù có thể họ đang sử dụng DV của các đối thủ cạnh tranh) sau đó có thể tăng giá để giảm bớt phần lỗ và thu được lợi nhuận.

Tóm lại: giá cả DVTC cần linh hoạt, phù hợp với cung cầu về DVTC trên thị trường. Giá cả có sức cạnh tranh cao trên cơ sở chi phí để sản xuất và quản lý dịch vụ thấp là điều kiện để sản phẩm DVTC phát triển và có sức cạnh tranh.

2.3. Sự can thiệp của nhà nước đối với sự ổn định và phát triển của thị trường dịch vụ tài chính..

Thị trường DVTC phát triển chính phủ các nước còn xúc tiến các dự án nhằm kiến tạo cơ sở hạ tầng tài chính như nâng cấp mạng thông tin, viễn thông, hệ thống thanh toán, đào tạo nguồn nhân lực hỗ trợ cho lĩnh vực này..

Trong những thập niên gần đây chính phủ các nước còn chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hóa dịch vụ tài chính – một lĩnh vực nhạy cảm và trọng yếu của nền kinh tế, từ đó cùng với chính sách mở cửa tạo điều kiện loại bỏ dần những rào cản về dịch vụ tài chính nhà nước cũng tăng cường cơ chế giám sát các dòng vốn một cách hiệu quả hơn nhằm hạn chế thấp nhất những nguy cơ khủng hoảng tài chính dây chuyển.

2.4. Xu thế quốc tế hóa thị trường DVTC

DVTC tạo nên những dòng lưu chuyển tiền tệ nên xu thế quốc tế hóa thị trường DVTC được xem là một trong những yếu tố chiến lược nhằm phát triển thị trường này.

Điều này xuất phát từ yêu cầu thực tế của quá trình hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế. tuy nhiên, vấn đề đặt ra là mỗi quốc gia cần phải có sự chủ động, có kế hoạch và lộ trình để hợp nhập hiệu quả trong lĩnh vực tài chính. Hội nhập quốc tế không chỉ thể hiện ở việc cho phép các nhà cung cấp DVTC nước ngoài cạnh tranh bình đẳng hoặc được phép cung cấp DV ở thị trường trong nước mà còn thể hiện qua việc áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế tốt nhất trong lĩnh vực này. Khi một quốc gia ngày càng hội nhập vào hệ thống tài chính quốc tế, cơ cấu hệ thống tài chính có những thay đổi rõ rệt biểu hiện qua một số thước đo cụ thể như:

– Mức độ sở hữu nước ngoài tại các doanh nghiệp tài chính trong nước.

– Thị phần của các doanh nghiệp tài chính nước ngoài.

– Thị phần của các công ty đa quốc gia hoạt động trên lĩnh vực này có mặt trên thị trường trong nước.

– Mức độ áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

– Các loại DVTC được cung cấp cho người tiêu dùng trong nước.

Từ đó, cho thấy quá trình quốc tế hóa thị trừơng DVTC vừa thúc đẩy các chính sách vĩ mô nâng cao hiệu quả vừa tạo cơ hội để các doanh nghiệp tài chính vươn ra thế giới. Ngoài ra, xu thế quốc tế hóa thị trường DVTC còn được xem là một tín hiệu tốt nhất gởi đến các nhà đầu tư quốc tế cho thấy quốc gia đó đang hướng đến việc dỡ bở những rào cản trong quá trình cung cấp DVTC, qua đó, góp phần thu hút các dòng vốn đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, việc mở cửa thị trường này dễ dẫn đến một số bất lợi nếu doanh nghiệp tài chính trong nước chưa đủ lực, bối cảnh cạnh tranh làm cho những phân khúc thị trường sẽ gay gắt và ẩn chứa nhiều rủi ro hơn…

Vì vậy, sẽ là cần thiết nếu quá trình quốc tế hóa DVTC được thực hiện thận trọng, về trình tự cải cách và lộ trình mở cửa, phù hợp với tình hình ở mỗi quốc gia.

   3. Vai trò của thị trường DVTC

Thứ nhất, thị trường DVTC góp phần tăng trưởng kinh tế .

Bảng : Dự báo tăng trưởng dịch vụ %/ GDP

Quốc gia phân theo trình độ phát triển

% DV /GDP thực tế

% DV/ GDP dự báo

1998

2003

2010

2024

-Thu thập thấp

-Thu thập trung bình thấp

-Thu nhập trung bình cao

-Thu nhập cao

-Thế giới

38

52

57

65

61

50

48

61

71

68

52

53

63

75

71

56

60

65

80

75

Nguồn: Viện kinh tế chính trị thế giới (2005)

Lịch sử thế giới đã chứng kiến sự bùng nổ của thời kỳ phát triển DVTC tại các nước phát triển vào cuối thế kỷ XIX đến nay. Với sự đa dạng của các sản phẩm DVTC đã thúc đẩy quá trình chu chuyển vốn từ đó, không chỉ góp phần đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp với các loại dịch vụ như DV ngân hàng, DV chứng khoán, tham gia bảo toàn vốn với các dịch vụ bảo hiểm, đáp ứng nhu cầu giao dịch thanh toán như các DV thanh toán qua ngân hàng … mà còn giải quyết nhu cầu đầu tư cho ngân sách quốc gia khi các doanh nghiệp tài chính luôn là các khác hàng lớn với nhiều tiềm năng tham gia trên thị trường trái phiếu chính phủ. Mặt khác, các thị trường DVTC còn là nơi mang lại ngùôn thu đáng kể cho ngân sách quốc gia, tại các trung tâm tài chính lớn trên thế giới như: Hồng Kông, New York hàng năm đóng góp 1/3 nguồn thu thuế cho ngân sách thành phố. Ngoài ra, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế , nhiều nước đặt khu vực dịch vụ vào vị trí mũi nhọn trong chiến lược phát triển từ đó, sự phát triển của thị trường DVTC sẽ góp phần đáng kể vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp tương thích cho nền kinh tế hiện đại và phát triển ngày nay.

Thứ hai, thị trường DVTC góp phần gia tăng tiện ích trong đời sống xã hội.

Xã hội càng phát triển, thu nhập của người dân được nâng cao nhu cầu về quản lý tài sản cá nhân, bảo hiểm rủi ro cho sinh mạng và tài sản đã trở thành một nhu cầu khách quan trong đời sống của công chúng. Từ đó, những dịch vụ thanh toán, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ quản lý tài sản, các dòng sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ… ngày càng được đa dạng hơn để đáp ứng yêu cầu của người dân.

Để nâng cao tiện ích của các DVTC phục vụ cho nhu cầu xã hội trong những thập niên vừa qua những thành tựu khoa học công nghệ đã được ứng dụng nhiều nhất trong lĩnh vực DVTC từ quản lý rủi ro, quản trị điều hành, thanh toán điện tử, công nghệ thẻ đến các giao dịch ngân hàng online, Internet Banking, Home Banking, Mobile Banking… góp phần nâng cao chất lượng các DVTC ngày càng hoàn hảo theo nhu cầu ngày càng cao của công chúng.

Mặt khác, các loại DVTC còn giúp cho công chúng cải thiện đời sống vật chất cũng như giải quyết những khó khăn tạm thời về tài chính.

Thông qua thị trường DVTC năng động còn góp phần kích thích ý thức tiết kiệm hình thành tập quán đầu tư sinh lợi từ những đồng vốn nhàn rỗi trong dân.

Thứ ba, thị trường DVTC góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư.

Chính sự phong phú của các loại DVTC đã giúp cho nhà đầu tư trên thị trường có nhiều cơ hội lựa chọn nhằm phân tán rủi ro trong kinh doanh. Ngoài ra, thông qua những dịch vụ tư vấn tài chính của các doanh nghiệp TC giúp cho người đầu tư có thêm nguồn thông tin nhằm khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường, nâng cao hiệu quả đầu tư. Bên cạnh đó, với dịch vụ tư vấn kế toán – kiểm toán không chỉ góp phần quan trọng trong quá trình nâng cao hiệu quả quản lý tài chính cho các doanh nghiệp mà còn góp phần đảm bảo độ tin cậy cho các báo cáo tài chính được minh bạch trước thị trường hỗ trợ cho các hoạt động đầu tư TC.

Nhìn lại những đổi mới có tính cách mạng trong hệ thống DVTC của các nước phát triển trong vòng 3 thập kỷ qua có thể thấy rằng, với tốc độ tiến triển của lĩnh vực DVTC trong tương lai, thị trường này còn có nhiều thay đổi mạnh mẽ đóng góp vào quá trình toàn cầu hóa hoạt động tài chính của thế giới.

Tài liệu tham khảo:

1. Tài liệu hội thào ‘Tập huấn về đàm phán dịch vụ tài chính trong GATS ” do Đại sứ quán Canada và Bộ Thương mại phối hợp tổ chức 2/2003.

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư –UNDP (2006), Khuôn khổ chung cho chiến lược quốc gia phát triển khu vực dịch vụ ở VN đến năm 2024, Báo cáo tháng 6.

3. Viện Kinh tế và Chính trị thế giới (2005), Một số lựa chọn và kiến nghị cho chiến lược quốc gia phát triển khu vực dịch vụ ở VN trong bối cảnh hội nhập, Báo cáo sơ bộ.

4. Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (2006) , Các văn kiện gia nhập WTO của VN, NXB Chính trị quốc gia –Hà Nội.

5. chúng tôi Thái Bá Cẩn- ThS. Trần Nguyên Nam, Phát triển thị trường dịch vụ tài chính VN trong tiến trình hội nhập, NXB Tài Chính -2004.

6. TS.Đinh văn Ân- Hoàng Thu Hòa , Phát triển khu vực dịch vụ, NXB Thống kê- 2007

7. WTO, Special Studies, 22/12/1997, Opening Markets in Financial Services and the Role of the GATS.

8. Mark Jscher, Postol savings and the provision of financial services: Policy issues and Asian experiences in the use of the postol infrastructure for savings mobilization, 12/2001

9. ING, Worldwide landscape of postol Financial services- Country case Vietnam, 10/2004.

NGUỒN: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 11/2008

Bình chọn

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Một Số Suy Nghĩ Về Tội Gây Ô Nhiễm Môi Trường

Phạm Văn Beo*

Trước thực trạng các hành vi gây ô nhiễm môi trường xảy ra ngày càng nhiều và nghiêm trọng ở nước ta, ngày 21/12/1999, Quốc hội đã thông qua toàn văn Bộ luật Hình sự năm 1999 và dành 10 điều luật trong Phần các tội phạm để quy định các hành vi phạm tội trong lĩnh vực môi trường tại Chương XVII. Trong đó, 03 hành vi trực tiếp gây ô nhiễm môi trường là: Tội gây ô nhiễm không khí (Điều 182), Tội gây ô nhiễm nguồn nước (Điều 183) và Tội gây ô nhiễm đất (Điều 184).

Tuy nhiên, kể từ khi ra đời, các điều luật này chưa từng được áp dụng mặc dù trên thực tế, những hành vi gây ô nhiễm môi trường vẫn thường xuyên diễn ra, nếu không muốn nói là diễn ra hết sức nghiêm trọng. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, phần lớn hệ thống xử lý nước thải trong khu công nghiệp ở nước ta không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, xả trực tiếp vào nguồn tiếp nhận, 70% khu công nghiệp không có hệ thống xử lý nước thải. Năm 2007, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức 250 lượt kiểm tra, phát hiện hơn 80% doanh nghiệp bị kiểm tra có hành vi gây ô nhiễm môi trường. Thế nhưng, các cơ quan chức năng đã không thể khởi tố cá nhân về các tội gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí1.

Sở dĩ các vụ gây ô nhiễm môi trường nói trên không thể xử lý hình sự là vì Bộ luật Hình sự quy định các Tội gây ô nhiễm nguồn nước, Tội gây ô nhiễm không khí hoặc Tội gây ô nhiễm đất cần phải có dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” mà còn cố tình vi phạm mới cấu thành tội phạm. Theo pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường, khi các cơ sở sản xuất (công ty/pháp nhân) có hành vi gây ô nhiễm môi trường, việc xử phạt hành chính sẽ được tiến hành đối với pháp nhân đó. Trong khi đó, Bộ luật Hình sự chỉ coi cá nhân là chủ thể của tội phạm. Do đó, khi các cơ quan chức năng muốn khởi tố người đứng đầu pháp nhân hoặc người trực tiếp điều hành việc xả thải gây ô nhiễm môi trường thì hành vi của anh ta không đủ yếu tố cấu thành tội phạm vì dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính” chưa được thỏa mãn.

Vụ gây ô nhiễm môi trường của công ty Vedan và hàng loạt các doanh nghiệp khác trong cả nước đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh các nhà lập pháp lẫn áp dụng pháp luật hình sự. Quả nhiên, tình hình tội phạm môi trường ở Việt Nam đã và đang ngày càng hết sức tinh vi, đa dạng và càng trở nên nghiêm trọng. Thực tế đó đã đặt ra cho các nhà lập pháp hình sự với hai phương án lựa chọn: (1) Quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm hoặc; (2) Sửa đổi cấu thành tội phạm của các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Ngày 19-6-2009, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2010), trong đó có sửa đổi, bổ sung một số quy định các tội phạm về môi trường. Một sửa đổi quan trọng nhất là việc các nhà lập pháp đã gộp các Tội gây ô nhiễm không khí, Tội gây ô nhiễm nguồn nước, Tội gây ô nhiễm đất thành Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Điều 182 quy định:

“1. Người nào thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a. Có tổ chức;

b. Làm môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng khác.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Về bản chất, cấu thành tội phạm của Tội gây ô nhiễm môi trường đã được sửa đổi khác so với cấu thành tội phạm của ba hành vi gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa được sửa đổi, bổ sung. Đó là việc các nhà làm luật đã bỏ đi dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính” mà còn vi phạm. Chỉ cần việc xả thải ra môi trường nước, không khí và đất “vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác” thì hành vi đã cấu thành tội phạm. Đây rõ ràng là một tiến bộ vượt bậc về mặt lập pháp. Nó khắc phục được hạn chế về cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự các cá nhân gây ô nhiễm môi trường.

Tuy nhiên, kể từ khi Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa dổi, bổ sung năm 2009 có hiệu lực, vẫn chưa có một báo cáo nào cho thấy một cá nhân nào bị khởi tố về Tội gây ô nhiễm môi trường, mặc dù thực trạng ô nhiễm môi trường vẫn ngày đêm tiếp diễn. Sở dĩ như vậy là vì việc áp dụng Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 1999 còn khá nhiều vướng mắc.

Trước hết, dấu hiệu về mặt khách quan của Tội gây ô nhiễm môi trường là phải có hành vi “thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ”. Hành vi này chỉ cấu thành tội phạm khi kèm theo một trong ba trường hợp sau:

– Vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng, hoặc;

– Làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, hoặc;

– Gây hậu quả nghiêm trọng.

– Có từ 02 (hai) thông số ô nhiễm thông thường vượt tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường cho phép từ 05 (năm) lần trở lên;

– Có từ 02 (hai) thông số ô nhiễm nguy hại vượt tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường cho phép từ 03 (ba) lần trở lên;

– Có một thông số ô nhiễm thông thường vượt tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường cho phép từ 05 (năm) lần trở lên và 01 (một) thông số ô nhiễm nguy hại vượt tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường cho phép từ 03 (ba) lần trở lên;

– Có giá trị trung bình của 02 (hai) thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường cao nhất từ 06 (sáu) lần trở lên;

– Có từ 02 (hai) thông số vượt tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường trở lên và có ít nhất 01 (một) thông số ô nhiễm thông thường vượt tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường từ 10 (mười) lần trở lên;

– Có từ 02 (hai) thông số vượt tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường trở lên và có ít nhất 01 (một) thông số ô nhiễm thông thường vượt tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường từ 05 (năm) lần trở lên;

– Có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt mức cho phép;

– Có nhiệt độ nước thải lớn hơn 450C.

Tuy nhiên, cũng chưa thể đồng nhất được khái niệm “làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng” được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và khái niệm “cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng” trong Thông tư 07. Ngoài văn bản này ra, chưa có một văn bản nào khác hướng dẫn thế nào là “thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng, làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, gây hậu quả nghiêm trọng”. Đó là chưa kể, tại Điểm b Khoản 2 Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định: “Làm môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng khác”. Các dấu hiệu (tình tiết định khung) này cũng chưa được hướng dẫn. Do vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng rất khó để có thể khởi tố về Tội gây ô nhiễm môi trường vì không có cơ sở pháp lý một cách rõ ràng.

Về tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, hiện tại, có một số văn bản hướng dẫn đối với từng nhóm tội phạm trong từng lĩnh vực cụ thể. Chẳng hạn, Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC – VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật Hình sự năm 1999; Thông tư liên tịch só 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-9-2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999; Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT/BNN & PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 08-3-2007 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Tuy nhiên, không thể lấy “hậu quả” đã được hướng dẫn đối với các tội phạm trong các lĩnh vực khác để áp dụng cho Tội gây ô nhiễm môi trường.

Khó khăn thứ hai xuất phát từ chủ thể của tội phạm này. Một số quan điểm đã băn khoăn cho rằng câu chữ của điều luật quy định Tội gây ô nhiễm môi trường ghi: “Người nào xả thải” thì nhiều khả năng chúng ta chỉ bắt được người trực tiếp mở van xả thải chứ không bắt được người chỉ đạo mở van đó, thậm chí chỉ đạo xây dựng đường ống ngầm đó thì cũng không bị xử lý được. Do đó, Bộ luật Hình sự nên quy định trách nhiệm hình sự đối với người đứng đầu pháp nhân xa thải2. Luật Hình sự Việt Nam quy định chỉ có cá nhân mới là chủ thể của tội phạm. Tuy nhiên, luật không chỉ quy định trách nhiệm hình sự của những người trực tiếp phạm tội mà còn truy cứu trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm. Khoản 1 Điều 20 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Trong đồng phạm có 04 loại người là: Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức. Như vậy, trong trường hợp một người không trực tiếp thực hiện hành vi xả thải gây ô nhiễm môi trường nhưng tham gia với tư cách là người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức thì tùy tính chất, mức độ của hành vi cũng sẽ bị xử lý hình sự với vai trò là đồng phạm.

Tuy nhiên, một thực tế đang diễn ra khiến các cơ quan tiến hành tố tụng gặp không ít lúng túng là trường hợp những người đứng đầu pháp nhân bị thay đổi. Người đứng đầu mới của pháp nhân vừa được thay thế, nên lấy lý do là “không biết” sự việc xả thải của pháp nhân mình vào thời điểm trước đó và đổ lỗi cho người tiền nhiệm. Nếu các cơ quan tiến hành tố tụng không có giải pháp tốt thì sẽ bỏ lọt tội phạm.

Nguyên tắc trách nhiệm cá nhân chỉ ra rằng, chỉ người nào có hành vi phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Mặt khác, những người đứng đầu pháp nhân có lỗi cố ý đối với việc xả thải và hậu quả ô nhiễm môi trường sẽ bị định tội với vai trò đồng phạm theo các quy định về đồng phạm của Bộ luật Hình sự hiện hành. Xuất phát từ những luận điểm này, khi có vấn đề thay đổi người đứng đầu pháp nhân có hành vi gây ô nhiễm môi trường xảy ra, các cơ quan tiến hành tố tụng nên tiến hành các công việc sau:

– Xác định rõ thời điểm xảy ra hành vi gây ô nhiễm môi trường. Đây là việc làm bình thường giống như tất cả các hành vi phạm tội khác. Khi xác định được thời điểm phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ biết được vào thời điểm đó, người nào đứng đầu pháp nhân và khởi tố người đó. Điều đó là hiển nhiên. Chẳng hạn, sau khi bán nhà, người ta phát hiện trong căn nhà đó có tàng trữ chất ma túy được xác định là có từ thời ông chủ nhà chưa bán nhà. Dĩ nhiên, người chủ cũ phải chịu trách nhiệm trước tiên về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

– Làm rõ vấn đề của người đứng đầu mới của pháp nhân gây ô nhiễm môi trường. Trong trường hợp anh ta không có lỗi hoặc có lỗi vô ý đối với hậu quả gây ô nhiễm môi trường thì xem như anh ta có chứng cứ ngoại phạm. Trong trường hợp người này có lỗi cố ý (dù là cố ý trực tiếp hay gián tiếp) thì có thể bị khởi tố cũng về hành vi gây ô nhiễm môi trường với hậu quả được xác định trong phạm vi thời gian anh ta đứng đầu pháp nhân. Chẳng hạn, trở lại trường hợp ông chủ nhà tàng trữ trái phép chất ma túy. Ông này bán căn nhà cho người chủ mới nhưng không mang chất ma túy đó đi. Người chủ mới biết được và tiếp tục tàng trữ chất ma túy đó và coi nó như của mình. Dĩ nhiên, ông chủ mới sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vấn đề sau cùng khiến tác giả bài viết này băn khoăn là tâm lý của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xử lý hình sự đối với người có hành vi gây ô nhiễm môi trường. Liệu họ có thẳng tay truy cứu trách nhiệm hình sự những người có hành vi gây ô nhiễm môi trường đã cấu thành tội phạm theo Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009? Kể từ khi được quy định trong Bộ luật Hình sự cho đến thời điểm này, các hành vi trực tiếp gây ô nhiễm môi trường chưa từng được xử lý hình sự. Hơn thế nữa, cấu thành tội phạm của tội phạm này cũng chưa được làm sáng tỏ. Thế nên, các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ hết sức dè dặt trong việc xử lý hình sự đối với các hành vi này.

Có lẽ thấy trước được vấn đề, ngày 08-7-2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2010/NĐ-CP quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường. Tại Khoản 3, 4 Điều 3 Nghị định này nêu rõ:

– Phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, nhanh chóng và có hiệu quả.

– Cơ quan, tổ chức, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tổ chức, người nước ngoài cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật về môi trường và yêu cầu của cơ quan, cán bộ chuyên trách phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường trong khi thi hành công vụ.

Hy vọng các cơ quan có thẩm quyền, các cơ quan chuyên môn sớm ban hành các văn bản hướng dẫn những dấu hiệu về mặt khách quan của Tội gây ô nhiễm môi trường, như: “Vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng”, “làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng”, “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Trên cơ sở đó, các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng triệt để quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về Tội gây ô nhiễm môi trường theo tinh thần của Nghị định số 72/2010/NĐ-CP. Có như thế, các hành vi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng mới dần được khống chế, tạo môi trường trong sạch cho Việt Nam phát triển kinh tế bền vững.

*  TS., Trưởng Bộ môn Luật Tư pháp, Khoa Luật – Đại học Cần Thơ.

Nguồn: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2011

Một Số Thuật Ngữ Và Khái Niệm Về Môi Trường

2-Thành phần môi trường là các yếu tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác.

3-Tiêu chuẩn môi trườnglà những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường.

4-Đánh giá tác động môi trườnglà quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, y tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp về bảo vệ môi trường.

5-Quan trắc môi trườnglà quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường.

6-Thông tin về môi trườngbao gồm số liệu, dữ liệu về các thành phần môi trường; về trữ lượng, giá trị sinh thái, giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên thiên nhiên; về các tác động đối với môi trường; về chất thải; về mức độ môi trường bị ô nhiễm, suy thoái và thông tin về các vấn đề môi trường khác.

7-Đánh giá môi trường chiến lượclà việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm bảo đảm phát triển bền vững.

8-Sức chịu tải của môi trườnglà giới hạn cho phép mà môi trường có thể tiếp nhận và hấp thụ các chất gây ô nhiễm.

9-Hoạt động bảo vệ môi trườnglà hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học.

10-Phát triển bền vữnglà phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.

11-Chất thảilà chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc trong các hoạt động khác. Chất thải có thể ở dạng rắn, khí, lỏng hoặc các dạng khác.

12-Quản lý chất thảilà hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải.

13-Phế liệulà sản phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để dùng làm nguyên liệu sản xuất.

14-Chất gây ô nhiễmlà những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại. Nói cách khác, chất gây ô nhiễm là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm.

15-Ô nhiễm môi trườnglà sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường.

16-Suy thoái môi trườnglà sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên.

17-Sự cố môi trườnglà các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng. Sự cố môi trường có thể xảy ra do:

a- Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun, mưa a xit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác.

b- Hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng.

c- Sự cố trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại cơ sở lọc hóa dầu và các cơ sở công nghiệp khác.

d- Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa phóng xạ.

Trong một số văn liệu, khái niệm sự cố môi trường được hiểu như tai biến môi trường.

18-Khí thải gây hiệu ứng nhà kínhlà các loại khí tác động đến sự trao đổi nhiệt giữa trái đất và không gian xung quanh làm nhiệt độ của không khí bao quanh bề mặt trái đất nóng lên.

20-Hệ sinh tháilà hệ quần thể sinh vật trong một khu vực địa lý tự nhiên nhất định cùng tồn tại và phát triển, có tác động qua lại với nhau.

21-Đa dạng sinh họclà sự phong phú về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái.

22-Môi trường địa chất(Geological Environment) là phần trên cùng của vỏ Trái đất, bao gồm lớp thổ nhưỡng, nham thạch, khoáng sản, nước dưới đất cùng những trường vật lý hình thành trong đó, nơi bị con người khai phá để sinh sống và tiến hành các hoạt động kinh tế, kỹ thuật, nơi trực tiếp chịu ảnh hưởng (tốt hoặc xấu) của các hoạt động nhân sinh và ngược lại cũng tác động trở lại với con người, chi phối điều tiết một cách tự nhiên, tạo thuận lợi hoặc trở ngại cho cuộc sống và hoạt động của con người.

23-Địa chất môi trường(Environmental Geology) là lĩnh vực khoa học địa chất nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa con người với địa chất môi trường như một bộ phận cấu thành môi trường sống của giới hữu sinh. Địa chất môi trường vận dụng cơ sở lý thuyết và phương pháp luận cùng những tri thức của Địa chất học vào việc phát hiện, giải thích, đánh giá bản chất, quy luật hình thành tiến hóa của các hiện tượng và quá trình địa chất phát sinh, hoặc dự báo có thể phát sinh, do tác động qua lại giữa địa chất môi trường với con người và những hoạt động nhân sinh; từ đó đề xuất các biện pháp để một mặt phòng ngừa, chế ngự những tác động tiêu cực, mặt khác tận dụng, phát huy những tác động tích cực từ cả hai phía nhằm bảo vệ, cải tạo, hoàn thiện và sử dụng tối ưu địa chất môi trường vì sự an ninh sinh thái và sự phát triển bền vững của xã hội loài người

24-Thiên tai hoặc sự cố môi trường gây ra thiệt hại nghiêm trọngđược gọi là thảm hoạ môi trường.

26-Rủi ro (risk)là sự ước lượng giá trị thiệt hại của tai biến thông qua đánh giá xác suất xảy ra sự cố. W. Smith (1996) định nghĩa rủi ro là sự phơi bày các giá trị (tài sản, tính mạng) của con người trước tai biến và thường được coi là tổ hợp giữa xác suất (xảy ra sự cố) và sự mất mát. Do đó, chúng ta có thể xác định tai biến là nguyên nhân, là sự đe doạ tiềm tàng đến tính mạng và tài sản của con người. Rủi ro là hậu quả của các dự báo về thiệt hại một khi có sự cố xảy ra do một quá trình tai biến nào đó

Một Số Thuật Ngữ Tiếng Anh Trong Tài Chính Cho Nhà Đầu Tư

Nếu bạn đang có ý định đầu tư kinh doanh thì chắc hẳn phải bổ sung rất nhiều kiến thức chuyên môn và một list từ vựng, thuật ngữ tiếng Anh chuyên ngành tài chính. Đó cũng chính là lý do để Aroma chia sẻ các thuật ngữ tiếng Anh trong tài chính dành cho nhà đầu tư và những ai đang quan tâm đến lĩnh vực này.

Nhà phân tích: Chuyên gia nghiên cứu các dữ liệu tài chính (về tín dụng, chứng khoán, kinh doanh hoặc mô hình tài chính…) và đề xuất phương hướng kinh doanh phù hợp.

Thị trường theo chiều giá xuống: Một điều kienj của thị trường trong đó giá các chứng khoán đang giảm hoặc dự kiến sẽ giảm.

Công ty nổi tiếng: Công ty hoạt động tốt với thu nhập tốt và chia cổ tức thường xuyên.

Trái phiếu (hình thức cho vay nợ): Một khoản nợ mà một nhà đầu tư cho vay tiền một thực thể (công ty hoặc chính phủ) trong một khoảng thời gian nhất định với lãi suất cố định.

Thị trường theo chiều giá lên: Một nhóm cổ phiếu trong thị trường chứng khoán có giá đang tăng hoặc được kỳ vọng sẽ tăng.

Vốn: Tài sản tài chính hoặc giá trị tài sản tài chính như tiền.

Tính lãi kép: Là quá trình mà lãi suất nhận được từ cả tiền gốc – số tiền bạn gửi và bất kỳ khoản lãi nào đã có trước đó.

Đa dạng hóa đầu tư: là hành vi đầu tư vào nhiều tài sản khác nhau chứ không chỉ là một số ít nhằm giảm thiểu rủi ro.

Chia cổ tức: Việc trả cho các cổ đông dựa trên dựa trên cơ sở mỗi cổ phần trong tổng thu nhập của công ty.

Hoạt động kinh doanh: Sản cuất và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ.

Chứng khoán cho thu nhập cố định: Một khoản đầu tư mang lại một khoản hoàn trả dưới hình thức thanh toán định kỳ và hoàn trả gốc khi đáo hạn.

Đầu tư tăng trưởng: Loại hình đầu tư mà bạn mua và nắm giữ, nắm giữ nó sẽ tăng giá trị theo thời gian.

Báo cáo kết quả kinh doanh: Tóm tắt về thu nhập và chi phí trong một khoảng thời gian cụ thể, còn được biết đến như báo cáo lãi lỗ.

Lãi suất: Một khoản phí cố định để vay tiền

NASDAQ: Sàn giao dịch chứng khoán Quốc gia lớn nhất nước Mỹ

Rủi ro: Một thay đổi mang lại kết quả chưa xác định.

Quỹ tiết kiệm: Đưa tiền vào một cách có hệ thống giúp đạt được mục tiêu tài chính.

Cổ phần: một giấy chứng nhận quyền sở hữu cổ phần trong công ty.

Biến động: Dễ dàng thay đổi

Một Số Suy Nghĩ Về Tình Yêu Và Hôn Nhân Gia Đình

Vài nét hiểu về gia đình

Gia đình được xây dựng trên cơ sở hôn nhân. Gia đình bao gồm vợ-chồng, bố mẹ – con cái. Nói đến quan hệ gia đình là nói tới hai quan hệ trên. Các quan hệ khác về gia đình đều quy vào đây.

Gia đình là một tế bào cơ bản của xã hội. Không có gia đình, không có hạnh phúc trong gia đình thì không có hạnh phúc xã hội.

Gia đình là một trong những hình thức của đời sống nhân loại, là một lãnh vực biểu hiện của đời sống đạo đức.

Theo “Luật Hôn nhân và Gia đình” tháng 6-2014:

Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.

 “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.

Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột”.

Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời.

Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.

Quan hệ tình cảm tâm lý (hôn nhân) và quan hệ huyết thống (cha, mẹ và con cái…) là hai mối quan hệ cơ bản của gia đình. Gia đình còn là tổng hoà của các quan hệ khác, cho nên, nó vừa là tổ chức cộng đồng tình cảm – huyết thống, vừa là cộng đồng kinh tế, văn hóa-giáo dục, có một cơ cấu-thiết chế và cách thức vận động riêng.

Gia đình là một giá trị văn hóa của xã hội. Văn hóa gia đình luôn gắn bó, tương tác với văn hóa cộng đồng dân tộc, giai cấp và tầng lớp xã hội trong mỗi thời kì lịch sử nhất định của mỗi quốc gia dân tộc và thế giới. Đồng thời do góc độ xem xét khác nhau, cách tiếp cận của các khoa học khác nhau dẫn đến cách phân loại gia đình, chính sách hay Luật về gia đình có những nét khác nhau.

Gia đình hình thành từ rất sớm và trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Lịch sử nhân loại có những hình thức hôn nhân kế tiếp như tạp hôn, đối ngẫu, một vợ – một chồng, đồng thời cũng có các hình thức gia đình: tập thể, cặp đôi, cá thể và cũng có các loại gia đình như gia đình một thế hệ, hai thế hệ và nhiều thế hệ.

Dù đã và đang có những sự biến đổi “nhưng về nguyên tắc thì gia đình bao giờ cũng còn lại sự liên hiệp tự nguyện tự giác giữa người đàn ông và người đàn bà với mục đích tổ chức cuộc sống hạnh phúc chung và nuôi nấng con cái” (Trg.190 đạo đức học, tập II).

Vài suy nghĩ về đạo đức trong tình yêu

Tình yêu là sự phát triển cao nhất của tình cảm nam nữ. Ở đây chúng tôi muốn nói tới tình yêu nam – nữ để hướng tới hôn nhân và tình yêu vợ chồng trong gia đình. (Tình yêu gia đình, nói khái quát, là tình yêu giữa cha – mẹ và tình yêu cha mẹ với con cái).  Tình yêu là cơ sở của hạnh phúc gia đình, là một nội dung quan trọng nhất của quan hệ đạo đức trong quan hệ gia đình.

Tình yêu được nảy sinh trên cơ sở:

– Sự ham mê tình dục.

– Sự quyến luyến với nhau do tình cảm thẩm mỹ.

– Lý tưởng đạo đức chung, những thị hiếu và xu hướng chung là ngọn nguồn cơ bản của tình yêu.

– Tình bạn cũng là một cơ sở vững chắc của tình yêu.

– Sự  thủy chung với nhau là một ngọn nguồn cơ bản của tình yêu.

Trước hết xin bàn luận về sự ham mê tình dục trong khuôn khổ của những tập quán hợp lý, lành mạnh và hợp với lợi ích xã hội. Tình yêu đi đến hôn nhân thông thường bắt đầu nảy nở từ sự ham muốn tình dục của hai người. Sự ham muốn và có thể đáp ứng được về tình dục là lý do đầu tiên tiên để tiến tới tình yêu. Trong một chừng mực nào đó thì đây là một cơ sở để phân biệt tình yêu với tình bạn.

Sự quyến luyến với nhau do tình cảm thẩm mỹ. Thẩm mỹ là cái đẹp. Tình cảm thẩm mỹ là những rung cảm của con người do sự hiểu biết, thưởng thức cái đẹp. Bắt đầu từ sự tạo được ấn tượng (cặp mắt xinh, nụ cười đẹp, dáng hoa hậu, dáng rất đàn ông, cặp dò đẹp, nhanh nhẹn, thông minh v.v.. 80% đàn ông, trong cái nhìn, thì đầu tiên họ để ý đến vòng 1 của phụ nữ), từ những việc làm tốt tạo được tình cảm của “đối phương” thì những ghi nhớ, những biểu tượng về người bạn tốt dần dần xuất hiện. Tình bạn với những nét khác thường dần dần hình thành. Tần suất biểu tượng về bạn xuất hiện ngày càng nhiều trong đời sống tinh thần của “đối phương” chính là những biểu hiện đầu tiên của sự nhớ nhung, sự quyến luyến. Những ghi nhớ, những biểu tượng về người bạn trong “đối tượng” nếu được củng cố, nhất là “lửa gần rơm” thì “lâu ngày cũng bén”. Cặp đôi bắt đầu trao nhau những lời nói yêu thương, những nụ hôn ngọt ngào, những sự quyến luyến nhau trở nên hiện thực hơn. Theo hướng như thế thì ngay từ đầu sự quyến luyến nhau đã bao hàm tình cảm thẩm mỹ.

Sự quyến luyến nhau do sự gần gũi nhau về thân thể giữa hai người, xét ở góc độ thuần tuý, thì đó là hiện tượng cặp đôi bẩm sinh vốn có ở động vật. Cho nên, nếu chỉ có ham mê tình dục thì sự ham mê này nói chung chẳng khác gì động vật. Nam, nữ ngay từ cái nhìn đầu tiên đã có thể quyến luyến nhau bởi họ thích nhau về một số khía cạnh nào đó về ngoại hình, tài năng là chuyện bình thường. Nhưng nếu trong nó đã bao hàm tình cảm thẩm mỹ về phẩm chất, đạo đức thì đó là cái nhìn đầu tiên để đi đến tình yêu đúng đắn. Ví dụ: Bạn gái thích “cặp dò” của bạn trai không phải thuần tuý là cặp dò đẹp mà chính vì anh ta ghi được nhiều bàn thắng. Người ghi được nhiều bàn thắng là do được đồng đội kiến tạo. Đó là biểu hiện của một phong cách tập thể, tính tập thể, sự đoàn kết, biểu hiện một phẩm chất đạo đức cần có và cao quý trong đời sống xã hội nhất là trong thời hiện đại. Mặc dù bạn gái chưa định hình được nhưng thực chất bạn đó đã bị trinh phục bởi phẩm chất của bạn trai.

Nếu chỉ thấy tình yêu là sự ham mê tình dục và sự quyến luyến đơn thuần về thể xác thì đó là một tình yêu ngay từ đầu đã mang tính vụ lợi, là sai lầm. Tình yêu kiểu đó không thể tồn tại lâu bền, bởi vì không phải lúc nào người bạn tình cũng đáp ứng được điều đó, hơn nữa chúng sẽ giảm đi theo thời gian vì tuổi tác và sức khoẻ. Các nhà ly hôn học đã tổng kết: sự đòi hỏi thái quá của bạn tình là một trong những nguyên nhân dẫn đến ly hôn. Vì vậy sự ham mê tình dục và sự quyến luyến phải trong khuôn khổ của những tập quán hợp lý, lành mạnh và hợp với lợi ích xã hội, phải được xây dựng trên tình cảm đẹp, tình cảm thẩm mĩ. Để liên tưởng vấn đề này, bạn hãy thử so sánh nụ hôn của một cô gái thất học, ước mộng giàu sang, với một người chồng nước ngoài nhờ mối lái, với nụ hôn của một cô gái gặp người yêu bảo vệ Trường Sa hoàn thành nhiệm vụ trở về có gì khác nhau? Nếu trong ham mê tình dục, sự quyến luyến có được cùng với tình cảm thẩm mĩ, có sự chiều chuộng, có sự biết ơn nhau, có sự tôn trọng và thủy chung thì ham mê tình dục có thể suy giảm nhưng giá trị tinh thần của nó không giảm.

Trong tình yêu thường rất hiếm hoi có sự thích nhau do sự “hoàn hảo”, bởi “nhân vô thập toàn”, bởi “nồi tròn thì đậy vung tròn, nồi méo vung méo xoay quanh cũng vừa. Đặc biệt người ta thích thú nhau về “cái nết” chứ không phải vì “cái đẹp”, vì “cái nết đánh chết cái đẹp”, “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Cho nên bạn đừng bao giờ ảo tưởng tới mức đòi hỏi một ai đó phải hoàn hảo trong tập thể, trong tình yêu, gia đình. Mỗi người có thế mạnh, có yếu điểm nên họ cần được bổ sung, được bổ khuyết để tạo nên sự hoàn hảo trong cuộc sống chung.

Lý tưởng đạo đức chung, những thị hiếu và xu hướng chung là ngọn nguồn cơ bản của tình yêu. Trong tình yêu, trong tình cảm vợ chồng, điều làm họ có thể gắn bó với nhau suốt cuộc đời đó là vì họ có chung những lợi ích tinh thần: Lý tưởng đạo đức, thị hiếu và xu hướng chung.

Nói như thế không phải coi thường vật chất. Những lợi ích vật chất chung là rất quan trọng, vì “có thực mới vực được đạo”, vì nó là một nền tảng cho tình yêu, cho duy trì cuộc sống chung. Nhưng nếu “Thuận vợ, chuận chồng” thì “biển Đông tát cạn”, nếu không “thuận” thì sẽ vô vàn những rạn nứt, những bất hạnh trong cuộc sống chung. Người làm ra của cải nhưng ở đây là “Thuận,” cả hai mới làm ra của cải.

Những nhu cầu vật chất thực chất, cũng như ở động vật, là nhu cầu để tồn tại. Cái nhu cầu mang tính PHÁT TRIỂN, mang tính NGƯỜI, mang bản chất xã hội, là nhu cầu tinh thần, tình yêu, là sự bình yên trong đời sống tinh thần. Trong chế độ ta, theo một nghĩa chân chính, ai rồi cũng có việc làm, có gia đình, rồi mọi gia đình đều sẽ đầy đủ về vật chất: một mái nhà, một cái xe, vài bữa ăn trong ngày v.v. Bạn hãy cảm nhận hạnh phúc là những thành quả do thuận vợ thuận chồng tạo nên. Đừng ảo vọng về những cái mình không thể có được. Bạn có bình yên trong tư tưởng không nếu của cải vật chất không phải do bàn tay bạn tạo ra. Bạn có hạnh phúc không nếu có nhà cao cửa rộng, xe con lộng lẫy… do bạn tình của bạn đưa lại, nhưng bạn là người thất học, không nghề nghiệp, hoàn toàn sống lệ thuộc, mất tự do. Nhớ câu thơ Bác Hồ: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng, cay đắng nào bằng mất tự do”.

Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, tình yêu khác nhau về giới hạn. Nhu cầu vật chất trong gia đình, theo một nghĩa nào đó, chỉ có giới hạn. Bạn đang khát nước, bạn sẽ uống được được vài ly là thoả mãn. Nhu cầu cho đời sống tinh thần, tình yêu thì lại khác, nó là vô hạn. (Nền tảng của đời sống tinh thần là sự bình yên trong gia đình, trong tâm hồn mỗi người để nuôi – dạy, vui vầy cùng con cái, là vợ chồng chăm sóc nhau, vui cùng con cháu lúc tuổi già. Đó là nhu cầu thường xuyên, là tối cao, là hạnh phúc là đích đến đích thực của nhiều thế hệ. Tất nhiên mọi cái đều có những biến đổi theo thời gian). Tài sản vật chất của gia đình nhìn chung chỉ có hạn, có thể vơi cạn, có thể phân chia khi ly hôn. Tài sản, nhu cầu tinh thần thì vô hạn, không mất đi mà ngày càng nâng cao về số và chất lượng. Dù có ly hôn thì những lợi ích, những tài sản tinh thần do tình yêu, hôn nhân đã đưa lại vẫn mãi mãi trường tồn, không bị sẻ chia.

Sự thiếu thốn về vật chất trong một thời điểm nào đó không phải là điều đáng sợ. Cái đáng sợ nhất trong đời sống con người đó là thiếu tình yêu. Sự thiếu thốn vật chất thường là nguyên nhân của những sự xung đột, sự strees. Nhưng điều đó sẽ không xảy ra nếu bạn không nghèo nàn, không thiểm cận về thị hiếu thẩm mỹ, về tình yêu.

Nếu lý tưởng đạo đức chung, những thị hiếu thẩm mỹ của hai người mà không “phù hợp”, không hài hoà với nhau, không bổ sung cho nhau, đối lập nhau thì cuộc sống sẽ là sự chịu đựng, mất tự do về tinh thần, nó sẽ trở thành nguyên nhân âm ỉ của những xung đột, những stress, hậu quả là có thể dẫn đến tình yêu tan vỡ, đến ly hôn. Tất nhiên ly hôn hợp lý là tốt đẹp cho cả hai người, cho xã hội.

Cái tạo nên lý tưởng đạo đức chung, những thị hiếu thẩm mỹ là trình độ văn hóa và trí tuệ. Văn hóa và trí tuệ lại là kết quả phát triển của hai quá trình: “tổng hoà mối quan hệ xã hội” và văn minh của nhân loại. Trong phần này chỉ xin nêu lên một khía cạnh nào đó của hai quá trình nêu trên, đó là sự hoà hợp với nhau trên cơ sở bình đẳng. Điều này thể hiện:

– Mỗi người đều TỰ NGUYỆN giảm cá tính, bổ khuyết, bổ sung, cống hiến cho nhau tạo nên sự HOÀ HỢP. Khi mới yêu nhau người ta thường được quấn hút bởi tiếng gọi đồng nhịp của “con tim”, người đàn ông hết lòng chiều chuộng bạn gái. Theo thời gian, cặp đôi dần dần giáp mặt với từng chân tơ kẽ tóc của cuộc sống, với các quan hệ hiện thực (mà thường thì nó rất khác với nhận thức của tuổi trẻ, lúc chưa có vợ hoặc chồng); tính gia trưởng của người đàn ông, những cá tính, tính ích kỷ của mỗi người bộc lộ, những nhu cầu mới dần dần xuất hiện. Chúng thử thách và đòi hỏi sự điều chỉnh cá tính, sự bổ sung những khiếm khuyết để tạo nên sự hoà hợp với nhau, cho nhau. Khoảng 70% cặp đôi tan vỡ trong các cặp đôi ly hôn là trong 10 năm đầu sau hôn nhân là do không thể điều chỉnh cá nhân tạo nên sự hoà hợp.

– Phải biết ơn nhau, vì nhau. Cũng như cấu tạo của một hệ thống, bao giờ cũng có những yếu tố quan trọng có yếu tố ít quan trọng v.v. Nhưng trong hệ thống cũng như trong tình yêu, trong gia đình, vai trò quan trọng của yếu tố này là do yếu tố kia mang lại, do yếu tố kia quy định. Mỗi người không nên nói ai quan trọng hơn ai, ai có công nhiều hơn ai. Cây Trầu và Cau quấn quýt tạo nên cặp đôi. Nhưng trong tình yêu, hôn nhân không thể nói ai là Trầu, ai là Cau, ai phải quấn quanh ai, mà chúng có sự chuyển hoá, thay đổi cho nhau về vị trí vai trò trong những quan hệ cụ thể. (Thực tế chỉ ra: không có Trầu thì người ta chặt Cau đi, lúc đó Cau đừng tự phụ mình làm trụ cột cho trầu quấn quanh).

Mặt khác vai trò của các yếu tố, của mỗi người, luôn có sự thay đổi do môi trường thay đổi. Lúc này yếu tố này là quan trọng nhưng trong lúc khác, hoàn cảnh khác thì yếu tố kia lại quan trong hơn. Vậy nên rất cần sự biết ơn, cần vì nhau trong cuộc sống chung.

– Cần nhận rõ nguồn gốc của những sự thay đổi trong quan hệ gia đình, của sự bình đẳng. Yếu tố quyết định sự thay đổi của tình yêu, của quan hệ trong gia đình là sự biến đổi, văn minh hơn lên của môi trường xã hội, chế độ xã hội. Trong xã hội nông nghiệp, thì tài sản chính của gia đình là ruộng đất, ở nông thôn. Người phụ nữ về nhà chồng hoàn toàn phụ thuộc vào tài sản của nhà chồng, do đó họ cũng lệ thuộc, yếu thế, gắn với nhiều quy phạm đạo đức phù hợp với hoàn cảnh thời đó. Khi xã hội dần chuyển sang xã hội công nghiệp thì tài sản của thế hệ trẻ để chuẩn bị kiến lập một gia đình chuyển dần dần sang tri thức, nghề nghiệp, nhiều người chuyển dần ra thành thị. Sự thực hiện bình đẳng nam nữ trong gia đình được xây dựng trên cơ sở kinh tế mới là nền tảng căn bản làm nhiều quan hệ gia đình và xã hội dần dần thay đổi. Việc thay đổi nhanh hay chậm trong mỗi gia đình tuỳ thuộc vào họ ở nông thôn hay thị trấn, huyện lị, tỉnh lị, hay đô thị lớn, vào thu nhập cao hay thấp và một số yếu tố cụ thể khác của mỗi gia đình. (18 thôn vườn trầu rộng lớn, nổi tiếng ở TP HCM hiện nay đã không còn tồn tại do điều kiện kinh tế, xã hội thay đổi).

Những yếu tố ảnh hưởng trong ngắn hạn như người phụ nữ mang bầu, nuôi con nhỏ, người chồng bị ốm nặng một thời gian v.v. đều được giải quyết trên cơ sở bình đẳng trong trách nhiệm của mỗi thành viên gia đình. Người phụ nữ cần khắc phục dần, huỷ bỏ sự tự ty rằng: cần nương tựa vào một người đàn ông. Ngược lại người đàn ông cũng phải từ bỏ quan niệm về vai trò duy nhất mình là trụ cột gia đình, từ bỏ tính gia trưởng. Mỗi người không phải lệ thuộc nhau mà vì nhau, phục vụ nhau nương tựa nhau trên tình trung thuỷ, tình nghĩa vợ – chồng. Đến một độ nào đó của tuổi già, không còn sức khoẻ phục vụ nhau, thì một trong những nơi mơ ước của họ có thể là một trung tâm chăm sóc cho người già.

– Đừng đơn giản trong đánh giá nguyên nhân – kết quả trong quan hệ gia đình. Khi nhìn kết quả ta không thể nhìn một kết quả do một nguyên nhân mà là do nhiều nguyên nhân. Nếu tách riêng ra thì ta có thể cho rằng cái này là kết quả, cái kia là nguyên nhân, nhưng khi đặt cúng trong một hệ thống có sự vận động liên tục thì kết quả và nguyên nhân luôn chuyển hoá cho nhau, cái này là kết quả nhưng nó lại là nguyên nhân tạo ra cái kia. Trong đời sống gia đình cũng vậy, đừng vội vã kết luận nguyên nhân xảy ra một việc gì đó là một và chỉ là một cái gì đó. Hãy biết ơn nhau để vì nhau, đừng chỉ thấy mình là người đưa lại hạnh phúc cho người kia.

– Đừng đòi trả ơn, hãy từ bỏ tính vũ phu, gia trưởng. Khi đã nói hai người phải bổ khuyết cho nhau, cũng như trong tình bạn, trong tình yêu, gia đình cũng đừng đòi hỏi người khác phải trả ơn, phải yêu mình. Bởi lẽ, cuộc sống gia đình đó là tình cảm, là sự tự nguyện. Bạn phải là người làm những việc tốt một cách tự nguyện, thì bạn sẽ được đền ơn bằng sự tự nguyện. Điều đáng trách nhất của không ít người đàn ông là có tính vũ phu, là gia trưởng. Đó là thói xấu được “di truyền” ở những thế hệ đàn ông kể từ khi có chế độ phụ hệ. Ngay khi mới “chiếm” được tình yêu của bạn gái là thói xấu đó đã có thể bộc lộ ở không ít người. Đó là điều đàn ông cần từ bỏ. Mặt khác mỗi người phụ nữ hãy khôn ngoan, nên trở thành một chiếc “điều hoà nhiệt độ” trong tình yêu, trong gia đình. Người phụ nữ không nên “cương” lên khi thói xấu của người đàn ông bộc lộ (chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa), đừng mong ai thắng, ai thua. Nếu xảy ra xung đột, cả hai vợ chồng đều thua.

Tóm lại, tình yêu nếu biết hoà hợp với nhau trên cơ sở bình đẳng (tự nguyện giảm cá tính, bổ khuyết, bổ sung, cống hiến cho nhau tạo; biết ơn nhau, vì nhau; nhận rõ nguồn gốc của những biến đổi, của sự bình đẳng trong quan hệ gia đình; đừng đơn giản trong đánh giá nguyên nhân – kết quả; đừng đòi trả ơn, hãy từ bỏ tính vũ phu, gia trưởng), không bị ràng buộc bởi những lợi ích vật chất và tình dục đơn thuần, của sự mê tín, thì đó chính là cơ sở đạo đức của hôn nhân chính đáng.

Phần viết tiếp theo sẽ nêu lên suy nghĩ về yêu trung thuỷ, trong sạch, chân thành, sự phù hợp về tính cách.

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Bàn Thêm Về Một Số Thuật Ngữ Triết Học, Chính Trị

Bài viết của tôi “Về một số thuật ngữ triết học, chính trị-xã hội có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài” đăng trên Tạp chí Triết học, số 4, 4-2009 đã được một số trang web đăng lại. Bài viết đã nhận được nhiều ý kiến nhận xét của độc giả, khen nhiều nhưng chê thì cũng có. Nhìn chung các độc giả hoan nghênh và khuyến khích tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề này.

Trong bài viết này tôi đi sâu hơn về các thuật ngữ chỉ tên và hình thức nhà nước; cách đặt tên của các học thuyết, trường phái, qua đó làm rõ nguồn gốc của chúng, chỉ ra một số bất cập trong việc phiên dịch các thuật ngữ này trong tiếng Việt. Tuy biết rằng không thể thay đổi những thuật ngữ đã quá quen thuộc trong tiếng Việt, nhưng việc tìm hiểu nguồn gốc, thực chất của chúng sẽ giúp chúng ta tránh được cách hiểu đơn giản, sai lệch.như từ trước đến nay.

1. Về các thuật ngữ chỉ tên và các hình thức nhà nước

Chúng tôi nhận thấy một số tên nhà nước trên thế giới được dịch ra tiếng Việt thiếu chính xác, hoặc đã thay đổi rồi nhưng chúng ta vẫn cứ gọi theo tên cũ.

Nước “Mỹ” là cách gọi không khớp với tên của nhà nước đó hiện nay là United States of America (USA). Đây là một nhà nước liên bang gồm 50 tiểu bang hợp nhất lại. Từ “states” có nghĩa là tiểu bang; “united” có nghĩa là thống nhất, hợp nhất lại. Trong tiếng Việt, nước Mỹ còn có tên gọi là “Hoa Kỳ” (cờ hoa), nhưng thực ra, lá cờ nước Mỹ gồm “sao và vạch” (stars and stripes) chứ không phải là “hoa”. Trên lá cờ Mỹ có 13 vạch đỏ và trắng đại diện cho 13 xứ thuộc địa của Anh đã nổi dậy giành độc lập trong cuộc cách mạng 1776 và 50 ngôi sao năm cánh đại diện cho 50 tiểu bang hiện nay ở Mỹ.

Nhiều nhà nước trên thế giới được tổ chức theo hình thức liên bang; tên nhà nước có thể có từ “liên bang”, như Liên bang Nga, Cộng hoà Liên bang Đức, Cộng hoà Liên Bang Nigiêria… Nhưng cũng có những nhà nước liên bang không dùng từ federation hoặc federal mà dùng từ “united” (hợp nhất, thống nhất lại, cũng có nghĩa là là liên bang, liên minh), như trường hợp United Sates, United Kingdom, United Arab Emirates. “Unnited Kingdom” (UK), tên đầy đủ là “Unnited Kingdom of Great Britain and Northern Irland”, tiếng Việt gọi là “Vương quốc Anh”. Thật ra, nó không chỉ có nước Anh mà còn có ba nước khác nữa: là Bắc Ailen, Xcôtlen (Scotland) và Wales. “Tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất” (United Arab Emirates) là một liên bang gồm 7 tiểu vương quốc (emirate) hợp nhất lại.

Nước “Dân chủ Hy Lạp” (tiếng Hy Lạp phiên âm latin: Elleniki Demokratia) là tên gọi chính thức của nhà nước này, nhưng trong nhiều thứ tiếng khác trên thế giới nó có tên gọi là “Cộng hòa Hy Lạp” (tiếng Anh: Hellenic Republic). Dân chủ và cộng hòa có gì khác nhau? Đây là những hình thức nhà nước trong lịch sử. Thuật ngữ “dân chủ” (tiếng Anh: democracy, tiếng Hy Lạp phiên âm latin: demokratia) bắt nguồn từ hai từ Hy Lạp: demos (nhân dân) và kratos (sự cai trị, sức mạnh), gộp lại có nghĩa là sự cai trị của nhân dân. Thuật ngữ “cộng hòa” (tiếng anh: republic) có nguồn gốc từ hai từ Hy Lạp “res” (công việc) và “publika” (chung). Thuật ngữ này hàm ý: nhà nước cộng hoà là “công việc chung”, khác với chế độ quân chủ (tiếng Anh: monarchy có nguồn gốc tiếng Hy Lạp: monos (một) và arkhos (người cai trị). Cộng hoà và dân chủ trong thời cổ đại Hy Lạp là hai hình thức nhà nước khác nhau. Platôn phản đối nhà nước dân chủ Aten và chủ trương xây dựng một nhà nước cộng hoà lý tưởng. Nhà nước cộng hoà của Platôn là “công việc chung” của đẳng cấp nhà triết học, chứ không phải là công việc chung của nhân dân, vì theo Platôn, số đông nhân dân thì không có tri thức để cai trị nhà nước. Ngày nay, cộng hoà cũng có nghĩa là dân chủ, vì nhà nước cộng hoà là công việc chung của nhân dân. Cộng hoà là hình thức nhà nước phổ biến hiện nay trên thế giới, mặc dù có nhiều nước vẫn gọi nhà nước của họ là “vương quốc”, hoặc chẳng dùng từ cộng hòa để gọi tên nhà nước của họ.

2. Về cách đặt tên cho một học thuyết, một trường phái

Để đặt tên cho một học thuyết, một trường phái triết học, chính trị-xã hội, người ta thường có mấy cách.

Cách phổ biến thứ hai trong việc đặt tên cho một học thuyết và cũng là cách gây ra lắm sự rắc rối cho người nghiên cứu là lấy khái niệm trung tâm trong học thuyết đó để đặt tên cho nó. Thí dụ, Đạo gia là một trường phái triết học ở Trung Quốc cổ đại do Lão Tử sáng lập; khái niệm trung tâm của học thuyết này là “Đạo”. Khái niệm này thật khó phiên dịch, nên ngay cả phương Tây cũng phải gọi nó là Daoism hoặc Taoism.

Trong triết học, chính trị học, xã hội học hiện đại, khi đặt tên cho học thuyết của mình, tác giả của nó tìm một thuật ngữ phản ánh được bản chất của học thuyết đó. Do đó chúng tôi nhấn mạnh rằng việc tìm hiểu và giải thích đúng tên của một học thuyết hay trường phái có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu cũng như giảng dạy học thuyết đó.

Vì không hiểu khía cạnh này nên nhiều người nghiên cứu và giảng dạy thường ít quan tâm đến tên của học thuyết đó, hoặc chỉ thỏa mãn với cái tên đã được dịch ra tiếng Việt mà không cần quan tâm tìm hiểu nguồn gốc của thuật ngữ.

Thuật ngữ “Pragmatism” là do tác giả của nó Charles Sander Peirce đặt ra. Ông dùng thuật ngữ này có một hàm ý sâu xa của nó. Ta hãy nghe lời phân tích của William James, một trong ba nhà sáng lập chủ nghĩa thực dụng, người đã biến chủ nghĩa thực dụng thành học thuyết lý luận. Trong bài giảng của mình: “What Pragmatism Means” (Chủ nghĩa thực dụng có nghĩa là gì?), James viết:

“Một cái nhìn sơ qua về lịch sử của tư tưởng này sẽ giúp bạn hiẻu tốt hơn thế nào là chủ nghĩa thực dụng. Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “pragma”, có nghĩa là hành động, nó là nguồn gốc của các từ “thực tiễn”, “thực tế” của chúng ta. Thuật ngữ này lần đầu tiên được đưa vào triết học bởi ông Charles Peirce năm 1878″. (1)

Chủ nghĩa thực dụng là một trào lưu triết học ra đời nhằm chống lại các hệ thống triết học duy tâm, kinh viện, giáo điều trước đây. Nó nhấn mạnh vai trò của hành động, của thực tiễn, của kinh nghiệm, của hiệu quả thực tế chứ không phải là của lý luận suông, của những cái trừu tượng, không tưởng, xa rời thực tế. William James nói:

“Nhà thực dụng đại diện cho một thái độ hoàn toàn quen thuộc trong triết học, thái độ kinh nghiệm chủ nghĩa, nhưng hình như đối với tôi, nó đại diện cho thái độ này dưới hình thức vừa triệt để hơn, vừa ít bị phản đối hơn. Nhà thực dụng kiên quyết và vĩnh viễn quay lưng lại với một loạt những thói quen thâm căn cố đế của các nhà triết học chuyên nghiệp. Anh ta xa lánh với sự trừu tượng và sự thiếu bằng chứng, với những giải pháp câu chữ, những lý lẽ tiên nghiệm, với những nguyên lý cố định, những hệ thống khép kín, với những cái được cho là tuyệt đối, là bản nguyên. Nó hướng tới tính cụ thể, sự đầy đủ bằng chứng, tới những sự kiện thực tế, tới hành động, tới sức mạnh”. (2)

Ở nước ta, vì không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với lý luận của học thuyết này, chỉ hiểu qua trung gian các từ điển, các sách được viết ra trong thời kỳ bao cấp ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây nên chủ nghĩa thực dụng chỉ được hiểu ở khía cạnh tiêu cực của nó (tất nhiên, chủ nghĩa thực dụng có mặt tiêu cực của nó), như là “chỉ biết có lợi nhuận”, “lợi ích vật chất trước mắt, không quan tâm đến những mặt khác”, v.v., nhưng mặt tích cực của nó là chống lại tư biện, giáo điều, ảo tưởng, xa rời thực tế; đề cao kinh nghiệm, hiệu quả thực tế … thì không được biết đến. Cần nhắc lại rằng khi gọi tên một học thuyết, chúng ta phải trung thành với tên gốc của nó, không được tự tiện đặt ra một tên khác để gọi học thuyết đó theo cách hiểu sai về thực chất của học thuyết đó, thí dụ, pragmatism (chủ nghĩa hành động, triết học thực tiễn) thì gọi là “chủ nghĩa thực dụng”, conservatism (chủ nghĩa bảo tồn) thì gọi là “chủ nghĩa bảo thủ”, communism (chủ nghĩa cộng đồng) thì gọi là “chủ nghĩa cộng sản”, v.v..

Thuật ngữ “chủ nghĩa hiện sinh” bắt nguồn từ tiếng latin “existentia” do chính ông tổ của trào lưu triết học này (nhà triết học Đan Mạnh Søren Kierkegaard (1813- 1855) sử dụng lần đầu tiên, sau đó được các nhà triết học khác của trường phái này tiếp tục sử dụng. Thuật ngữ “existentia” (latin), “existence” (Pháp, Anh) phản ánh quan điểm cơ bản của trào lưu triết học này, được dịch ra tiếng Việt là “hiện sinh” thì không thoả đáng về ngữ nghĩa, nhưng rất tiếc chưa có nhà nghiên cứu nào đặt vấn đề phải xem xét lại cách dịch thuật ngữ này trong tiếng Việt. Vì thế, chúng tôi cho rằng tuy tên gọi này trong tiếng Việt đã dùng quen rồi khó thay đổi, nhưng cần phải được giải thích thêm mới giúp tránh được cách hiểu lệch lạc về tư tưởng cơ bản của trào lưu triết học này.

Đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh không phải là cổ vũ cho sự “sống gấp” mà là nhấn mạnh tính chủ quan. Đây là đóng góp quan trọng nhất và cũng là sai lầm lớn nhất của trào lưu triết học này. Thuật ngữ “existence” (Anh, Pháp) hay “Dasein” (Đức) là khái niệm nói lên sự tồn tại cá nhân cụ thể, là tồn tại có ý thức , là “tồn tại cho nó” chứ không phải là “tồn tại tự nó”. Ý thức mà chủ nghĩa hiện sinh đề cao là những cảm xúc chủ quan của cá nhân, sự tự do lựa chọn không bị quy định bởi bất cứ cái gì khác ngoài trách nhiệm mà cá nhân tự ý thức được. Luận điểm cơ bản của nó “Hiện sinh có trước bản chất” nói lên đầy đủ quan niệm đó. Chủ nghĩa hiện sinh đề cao sự tự do lựa chọn và trách nhiệm cá nhân, về một phương diện nhất định có thể coi đây là một đóng góp quan trọng, nhưng đồng thời vì nó phủ nhận tính tất yếu và quy luật khách quan nên sự tự do lựa chọn của cá nhân có thể dẫn đến những sai lầm không thể cứu vãn nổi

3. Về một số thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Trung quốc nhưng được hiểu sai trong tiếng Việt

Muốn hiểu được tiếng Việt thì phải có một kiến thức nhất định về thuật ngữ Hán-Việt, cũng giống như muốn đọc tiếng Anh, pháp, Nga … thì phải hiểu nguồn gốc Hy Lạp, Latin của nhiều thuật ngữ trong các thứ tiếng này. Nhiều khi nếu có nghi ngờ về cách hiểu quen thuộc đối với một số thuật ngữ Hán-Việt thì cần tham khảo cách dịch các thuật ngữ này trong các thứ tiếng phương Tây như tiếng Anh. Thí dụ, “tính” là gì trong câu nói của Khổng Tử “Tính tương cận, tập tương viễn”. Nhiều người thường hiểu “tính” là ý thức, là nhân cách, nhưng nếu tham khảo các sách phương Tây thì thấy rằng “tính” tức là bản tính tự nhiên của con người (human nature), mầm mống của nó đã có sẵn khi con người sinh ra không đợi đến giáo dục, học tập mới có. Cách hiểu này không có gì mới lạ nếu ta đọc đoạn trích sau đây từ Tuân Tử: “Phàm là người thì đều giống nhau: đói thì muốn ăn, lạnh thì muốn ấm, mệt thì muốn nghỉ, thích điều có lợi mà không thích điều có hại cho mình. Đấy là cái con người sinh ra vốn đã có, không đợi đến khi học hành mới có”.

“Nho” trong Nho gia có nghĩa là là gì? Có nhiều cách hiểu khác nhau ở Việt Nam, Trung Quốc khó có thể khẳng định cách hiểu nào là chính xác. Ở phương Tây “nho” được dịch là scholar có nghĩa là là “học giả”. Nho gia 儒 家 được dịch là trường phái các học giả (school of the scholars). Từ “giáo” trong “Nho giáo”, “Khổng giáo”, “tam giáo” có nghĩa là gì? Nhiều người thường hiểu “giáo” là tôn giáo. Ở phương Tây, các từ như Nho giáo 儒 教 được dịch là “Study of the Scholars”; Khổng giáo 孔 教 “Teaching of Confucius”; “giáo” là giáo dục, học thuyết, chứ không phải là tôn giáo. Phương Tây thường lấy tên của Khổng Tử (được một nhà truyền giáo phương Tây dịch ra tiếng latin là Confucius) để đặt tên cho trường phái này là Confucianism (chủ nghĩa Khổng Tử, Khổng giáo) (3)

Trước đây ở nước ta đã từng có thời kỳ “tam giáo” được các nhà nước phong kiến lấy làm nội dung học tập, thi cử. Tam giáo (Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo) không có nghĩa là “ba tôn giáo”, mà chỉ là ba học thuyết. Tam giáo được nghiên cứu với tư cách là những học thuyết triết học, đạo đức, chứ không phải ở khía cạnh tôn giáo. Hồ Chí Minh trong khi trả lời một nhà báo Liên Xô đã nói: “Tôi sinh ra trong một gia đình nhà Nho An Nam… Thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo, đồng chí biết chắc Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử”. (4)

Hơn nữa, trong tiếng Việt, nói thiện, ác thì ai cũng hiểu được, cần gì phải dịch ra hiền, dữ làm sai nghĩa đi.

PGS.TS. Nguyễn Tấn Hùng, Đại học Đà Nẵng

Trích từ Tạp chí Triết học số 01 tháng 01 -2010

(1),(2) William James, What Pragmatism Means, có thể đọc bài này ở địa chỉ:

http://www.marxists.org/reference/subject/philosophy/works/us/james.htm hoặc ở nhiều trang web khác.

(3) Confucianism, http://en.wikipedia.org/wiki/Confucianism

(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t. 1, tr. 477

(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.3, tr.283

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Suy Nghĩ Về Thuật Ngữ Thị Trường Dịch Vụ Tài Chính trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!