Xu Hướng 3/2024 # Hiệu Ứng Quang Điện Là Gì? Sự Ra Đời Của Hiệu Ứng Quang Điện # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Hiệu Ứng Quang Điện Là Gì? Sự Ra Đời Của Hiệu Ứng Quang Điện được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hiệu ứng quang điện là gì? Sự ra đời của hiệu ứng quang điện

Hiệu ứng quang điện là một hiện tượng điện – lương tử, trong đó các điện tử được thoát ra khỏi nguyên tử (quang điện trong) hay vật chất (quang điện thường) sau khi hấp thụ năng lượng từ các photon trong ánh sáng làm nguyên tử chuyển sang trạng thái kích thích làm bắn electron ra ngoài. Hiệu ứng quang điện đôi khi được người ta dùng với cái tên Hiệu ứng Hertz, do nhà khoa học Heinrich Hertz tìm ra.

Việc nghiên cứu hiệu ứng quang điện đưa tới những bước quan trọng trong việc tìm hiểu về lượng tử ánh sáng và các electron, cũng như tác động đến sự hình thành khái niệm lưỡng tính sóng hạt.

1. Hiện tượng quang điện

Ở một số chất khác, khi được chiếu sáng với tần số vượt trên tần số ngưỡng, các điện tử không bật ra khỏi bề mặt mà thoát ra khỏi liên kết với nguyên tử, trở thành điện tử tự do chuyển động trong lòng của khối vật dẫn, và ta có hiệu ứng quang điện trong. Hiệu ứng này dẫn đến sự thay đổi về tính chất dẫn điện của vật dẫn, do đó, người ta còn gọi hiệu ứng này là hiệu ứng quang dẫn.

2. Sự ra đời của hiệu ứng quang điện

Năm 1887, Heinrich Hertz quan sát thấy hiệu ứng quang điện ngoài đối với các kim loại. Một trong các công trình nghiên cứu của Albert Einstein xuất bản trên tạp chí Annel der Physik đã lý giải một cách thành công hiệu ứng quang điện cũng như các định luật quang điện dựa trên mô hình hạt ánh sáng. tìm hiểu ánh sáng

Heinrich Rudolf Hertz (1857 – 1894)

Theo Thuyết lượng tử vừa được công bố vào năm 1900 của Max Planck, các công trình này đã dẫn đến sự công nhận về bản chất hạt của ánh sáng và sự phát triển của lý thuyết lưỡng tính sóng – hạt của ánh sáng.

Người ta ứng dụng hiệu ứng quang điện vào đời sống của nhân loại để chế tạo ra pin mặt trời, photodiode, phototransistor, các cảm biến ghi ảnh, cảm biến quang học, đèn nhân quang điện, phổ quang điện tử,…

Hồ Quang Điện Là Gì? Ứng Dụng Và Tác Hại Của Hồ Quang Điện

Hồ quang điện là gì? Tính chất cơ bản. Điều kiện tạo ra hiện tượng phóng điện hồ quang. Ứng dụng, tác hại của hồ quang điện và cách phòng tránh. Quá trình phát sinh và dập tắt hồ quang điện.

Dòng điện chạy qua khí giữa 2 cực chủ yếu là dòng electron đi từ cathode tới anode. Nhưng cũng có 1 phần là dòng ion dương đi theo chiều ngược lại. Các ion âm và electron tới va chạm vào anot làm cho anot nóng lên, nhiệt độ có thể lên tới 3500 độ C. Do đó, anot phát sáng mạnh, do hầu hết vật liệu bị nóng chảy và thậm chí là bay hơi. Nên anot bị lõm vào làm cho mạch điện bị nối tắt. Còn các inon dương khi tới đập vào các catot thì cũng sẽ làm cho catot duy trì được trạng thái nóng đỏ ban đầu và phát ra khi các electron (phát xạ nhiệt e). Chất khí giữa 2 cực ở nhiệt độ cao nên bị ion hóa và dẫn điện tốt, nhờ đó điện trở của khí trong hồ quang điện là rất nhỏ. Cường độ dòng điện trong mạch có thể khá lớn, đạt tới hàng chục ampe, hiệu điện thế thấp.

Hồ quang điện có nhiều ứng dụng trong kỹ thuật. Nhờ nhiệt độ cao của các cặp điện cực, người ta sử dụng hồ quang điện trong việc hàn điện: mỗi cực của hồ quang điện chính là 1 tấm kim loại cần hàn, còn được gọi là que hàn. Do nhiệt độ cao giữa 2 cực nên que hàn nóng chảy và lấp chỗ cần hàn lên tấm kim loại.

Tia hồ quang có sức mạnh rất lớn. Khi chúng ta nhìn vào thì nó làm chết các tế bào niêm mạc mắt, dẫn tới đau mắt hàn. Nếu như bạn không trang bị bảo hộ mặt trong quá trình hàn thì có thể làm bong da mặt, nguyên nhân do chết hết những tế bào bên ngoài.

Ứng dụng của hồ quang điện

Nhờ nhiệt độ cao của các cặp điện cực, người ta sử dụng hồ quang điện trong việc hàn điện. Một cực của hồ quang điện chính là tấm tim loại cần hàn, còn cực kia chính là que hàn. Do nhiệt độ cao giữa 2 cực, que hàn nóng chảy và lấp chỗ cần hàn lên tấm kim loại.

Không những thế, hồ quang điện còn được ứng dụng trong các lò luyện phôi nhiệt, nấu kim loại,…

Tác hại của hồ quang điện

Hiện tượng phóng hồ quang điện sẽ làm cho các thiết bị điện bị phá hủy. Nguyên nhân chính là do sự thay đổi điện áp đột ngột, ngắn mạch hệ thống cục bộ. Cụ thể, các tiếp điểm động lực bị đánh mòn, hỏng hóc dưới nền nhiệt tăng cao.

Phải thay thế các thiết bị đóng cắt hàng năm, có thể với số lượng lớn sẽ gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp

Phòng hồ quang điện có thể gây cháy nổ, hỏa hoạn làm ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng con người.

Tia hồ quang điện có sức mạnh rất lớn. Khi chúng ta nhìn vào thì tia hồ quang làm chết các tế bào niêm mạc mắt, dẫn tới đau mắt hàn. Nếu như không trang bị bảo hộ mặt trong quá trình hàn thì có thể bị bong da mặt do chết hết các tế bào ngoài da.

Cách phòng ngừa những tai nạn do hồ quang điện gây ra Quá trình phát sinh và dập tắt hồ quang điện

Tiếp điểm có dòng điện bé, khoảng cách ban đầu giữa chúng rất nhỏ, trong khi điện áp đặt vào có trị số nhất định nên sẽ sinh ra điện trường có cường độ lớn trong khoảng không gian này và điện tử ừ cathode có thể bật. Hiện tượng này còn gọi là phát xạ tự động điện tử hay còn gọi là phát xạ điện nguội. Khi số điện tử này càng ngày càng nhiều thì chuyển động dưới tác dụng của điện trường sẽ làm ion hóa không khí gây nên hiện tượng hồ quang điện.

Tiếp điểm có dòng điện lớn, quá trình phát sinh hồ quang điện sẽ phức tạp hơn. Ban đầu, khi mở tiếp điểm, lực ép giữa chúng có trị số khá nhỏ nên số tiếp điểm tiếp xúc để dòng điện đi qua ít. Sự tăng đáng kể của mật độ dòng điện có thể lên tới hàng chục nghìn A/ cm2 nên tại các tiếp điểm đó thì nhiệt độ của cầu chất lỏng sẽ tăng tiếp tục. Sau đó bốc hơi và hồ quang điện xuất hiện trong không gian giữa 2 tiếp điểm.

Quá trình này cần những điều kiện ngược lại so với quá trình phát sinh hồ quang, cụ thể là:

Hạ thấp nhiệt độ hồ quang bằng cách sử dụng hơi khí hoặc dầu làm nguội, sử dụng vách ngăn để hồ quang cọ xát.

Kéo dài hồ quang bằng cách sử dụng vách ngăn chia thành nhiều phần nhỏ rồi thổi khí dập tắt

Chia hồ quang thành nhiều đoạn nhỏ

Sử dụng năng lượng của hồ quang hoặc năng lượng bên ngoài để dập tắt nó.

Tiêu thụ năng lượng hồ quang bằng cách mắc điện trở Shunt

Hàn hồ quang điện chính là công nghệ hàn phổ biến nhất hiện nay để nối. Tháo rời chác chi tiết bằng nguồn nhiệt dùng để hàn, nguồn nhiệt này là hồ quang điện.

Trong công nghệ hàn hồ quang điện, hồ quang tập trung trên 1 điểm của vật hàn. Nhiệt lượng tương đối tập trung, vật hàn sẽ dễ dàng bị nóng chảy tức thì, nhiệt lượng này không truyền ra rộng nên sự biến dạng của vật hàn không trầm trọng như hàn khí. Thao tác hàn hồ quang điện tương đối là khó, nhưng với nơi có điện tì nó khá thuận tiện và rẻ.

Hàn hồ quang điện hiện được phát triển rộng rãi, ngoài ra trong tương lai còn áp dụng rộng rãi hơn cả phương pháp hàn khí.

Qua bài viết này, EvnBamBo hy vọng bạn đã có hiểu biết nhiều hơn về hồ quang điện. Khi đã biết được hồ quang điện là gì, ứng dụng của nó. Những tác hại của hồ quang điện và cách phòng tránh để có thể sử dụng được khi cần thiết đồng thời đảm bảo được an toàn cho bản thân mình và những người xung quanh. Nếu như bạn còn vấn đề gì thắc mắc có thể liên hệ với EvnBamBo để được giải đáp.

Ngoài ra, Evnbambo là địa chỉ tin cậy cung cấp các sản phẩm về dây cáp điện, thiết bị điện cho khách hàng trong nhiều năm qua như:

Dây cáp điện Cadisun Dây cáp điện Cadivi Thiết bị điện Ls

Những Ứng Dụng Của Hồ Quang Điện

Bên cạnh những mặt tiêu cực thì Hồ quang điện cũng có nhiều điểm lợi, và người ta đã ứng dụng rất nhiều trong đời sống dân sinh và trong các lĩnh vực công nghiệp, và nếu Không có Hồ quang điện thì cũng rất khó để thực hiện.

Ứng dụng hồ quang điện:

Khi xuất hiện hồ quang điện xung quang nó tạo ra nhiệt độ rất cao và phát ra lượng ánh sáng rất lớn, đây là những đặc điểm để ứng dụng.

Dùng hồ quang điện trong hàn kim loại: Một cực của hồ quang là tấm kim loại cần hàn, còn cực kia là que hàn. Do nhiệt độ cao giữa hai cực, que hàn nóng chảy và lấp chỗ cần hàn lên tấm kim loại.

Dùng hồ quang điện trong lò luyện thép, luyện kim loại: là loại lò dùng năng lượng của hồ quang điện làm nóng và đun chảy loại vật liệu chất vào lò.

Dùng hồ quang điện làm đèn phát sáng: đèn tạo ra ánh sáng bằng hồ quang điện (còn gọi là hồ quang điện). Ánh sáng hồ quang carbon, bao gồm một vòng cung giữa các điện cực carbon trong không khí

Đèn hồ quang điện:

Đèn hồ quang hoặc đèn hồ quang là đèn tạo ra ánh sáng bằng hồ quang điện (còn gọi là hồ quang điện). Ánh sáng hồ quang carbon, bao gồm một vòng cung giữa các điện cực carbon trong không khí, được phát minh bởi Humphry Davy trong thập kỷ đầu tiên của thập niên 1800, là ánh sáng điện thực tế đầu tiên. Nó được sử dụng rộng rãi bắt đầu từ những năm 1870 cho chiếu sáng đường phố và tòa nhà lớn cho đến khi nó được thay thế bởi ánh sáng sợi đốt vào đầu thế kỷ 20. Nó tiếp tục được sử dụng trong các ứng dụng chuyên biệt hơn, nơi cần nguồn sáng cường độ cao, chẳng hạn như đèn rọi và máy chiếu phim cho đến sau Thế chiến II. Đèn hồ quang carbon hiện đã lỗi thời cho hầu hết các mục đích này, nhưng nó vẫn được sử dụng như một nguồn ánh sáng cực tím cường độ cao.

Thuật ngữ này hiện được sử dụng cho đèn phóng khí, tạo ra ánh sáng bởi một vòng cung giữa các điện cực kim loại thông qua một khí trơ trong bóng đèn thủy tinh. Đèn huỳnh quang phổ biến là đèn hồ quang thủy ngân áp suất thấp. Đèn hồ quang xenon, tạo ra ánh sáng trắng cường độ cao, hiện được sử dụng trong nhiều ứng dụng trước đây sử dụng hồ quang carbon, như máy chiếu phim và đèn rọi.

Một phóng điện hồ quang hoặc đèn phát ra ánh sáng từ các điện cực của nó. Nó từng được sử dụng làm nguồn sáng cho máy chiếu 35 mm, máy in kế hoạch và đèn tìm kiếm, nhưng giờ đây nó có thể được coi là một di tích của thế kỷ trước. Kể từ khi phát minh ra đèn hồ quang carbon của H. Davy của Anh vào năm 1808 như là nguồn sáng đầu tiên để sử dụng điện, PN Yabrochkov của Nga đã đưa nó vào sử dụng thực tế và chiếu sáng đường phố Paris năm 1976. Tại Nhật Bản, tại Đại học Kỹ thuật Toranomon thứ 79 Lễ khai mạc của Thính phòng của Cục Điện báo Trung ương, dưới sự hướng dẫn của British Air Airton, các sinh viên từ Fujioka Ichisuke, Nakano Hatsuko, Asano Yosuke Aso 50 sinh viên đã thành công trong ánh sáng đầu tiên của đèn hồ quang kiểu Dubosk do Pháp sản xuất và để tưởng niệm Ngày 25 tháng 3, một kỷ niệm điện được thành lập sau năm 1928. Lần xuất hiện chung đầu tiên là vào ngày 1 tháng 11 năm 1882, khi 2000 đèn hồ quang carbon kiểu nến của Pháp được thắp trước mặt nhóm Okura ở Ginza. Takashi It

Lò hồ quang điện:

Lò hồ quang điện – electric arc furnace (EAF) là loại lò dùng năng lượng của hồ quang điện làm nóng và đun chảy loại vật liệu chất vào lò.[1]

Các lò hồ quang điện có công suất từ nhỏ xấp xỉ 1 tấn (dùng trong các xưởng đúc để sản xuất gang thỏi) đến cỡ 400 tấn dùng để luyện thép thứ cấp. Các lò hồ quang điện dùng trong phòng thí nghiệm hay các cơ sở nha khoa có công suất chỉ vài chục gram. Các lò hồ quang điện công nghiệp có thể đạt đến nhiệt độ 1.800 °C (3.272 °F) còn các lò trong phòng thí nghiệm có thể đạt trên 3.000 °C (5.432 °F).

Lò hồ quang điện khác với lò cảm ứng điện từ. Trong lò hồ quang điện, vật liệu tiếp xúc trực tiếp với hồ quang và dòng điện của điện cực đi qua vật liệu. Còn lò cảm ứng điện từ, dùng nguyên lý khi cấp nguồn điện cho các vòng dây quấn quanh tường lò sẽ làm xuất hiện từ thông biến thiên bên trong nồi lò. Kim loại trong lò nằm trong vùng từ thông biến thiên sẽ phát sinh dòng điện chạy bên trong, chính dòng điện này sẽ nung nóng và làm chảy kim loại.

Chất Quang Dẫn Là Gì? Hiện Tượng Quang Điện Trong Ứng Dụng Quang Điện Trở Và Pin Quang Điện

– Chất quang dẫn là chất dẫn điện kém khi không bị chiếu sáng và trở thành chất dẫn điện tốt khi bị chiếu sáng thích hợp.

– Một số chất bán dẫn như Ge, Si, PbS, CdS, PbSe,… là chất quang dẫn.

– Hiện tượng quang điện trong là hiện tượng ánh sáng giải phóng các electron liên kết để cho chúng trở thành electron dẫn, đồng thời cũng tạo ra các lỗ trống cùng tham gia vào quá trình dẫn điện.

– Hiện tượng quang điện trong được ứng dụng trong quang điện trở và pin quang điện.

– Quang điện trở là một điện trở làm bằng chất quang dẫn, có cấu tạo gồm một sợi dây bằng chất quang dẫn gắn trên một đế cách điện.

– Điện trở của quang điện trở có thể thay đổi từ vài MΩ khi không được chiếu sáng xuống đến vài chục Ω khi được chiếu ánh sáng thích hợp.

– Pin quang điện là một nguồn điện chạy bằng năng lượng ánh sáng. Nó biến đổi trực tiếp quang năng thành điện năng.

– Hiệu suất của pin quang điện chỉ vào khoảng trên dưới 10%

– Cấu tạo và hoạt động:

+ Pin có một tấm bán dẫn loại n, bên trên có phủ một lớp mỏng bán dẫn loại p. Trên cùng là một lớp kim loại rất mỏng, dưới cùng là một đế kim loại, các kim loại này đóng vai trò là các điện cực.

+ Giữa bán dẫn loại n và bán dẫn loại p hình thành một lớp tiếp xúc p-n. Lớp này ngăn không cho electron khuếch tán từ n sang p và lỗ trống khuếch tán từ p sang n. Vì vậy, người ta gọi lớp tiếp xúc này là lớp chặn.

+ Khi chiếu ánh sáng có bước sóng ngắn hơn giới hạn quang điện vào lớp kim loại mỏng trên cùng thì ánh sáng sẽ đi xuyên qua lớp này vào lớp loại p, gây ra hiện tượng quang điện trong và giải phóng ra các cặp electron và lỗ trống. Electron dễ dàng qua lớp chặn xuống bán dẫn loại n còn lỗ trống thì bị giữ lại trong lớp p. Kết quả là điện cực kim loại mỏng ở trên sẽ nhiễm điện dương và trở thành điện cực dương của pin, còn đế kim loại ở dưới sẽ nhiễm điện âm và trở thành điện cực âm của pin.

+ Suất điện động của pin quang điện nằm trong khoảng từ 0,5V đến 0,8V.

– Pin quang điện được ứng dụng trong: Nguồn điện ở vùng sâu, vùng xa, nguồn điện trong máy tính bỏ túi, nguồn điện ở các tàu vũ trụ và các máy đo ánh sáng,…

IV. Bài tập về hiện tượng quang điện trong

* Bài 1 trang 162 SGK Vật lý 12: Chất quang dẫn là gì?

° Lời giải bài 1 trang 162 SGK Vật lý 12:

– Chất quang dẫn là chất dẫn điện kém khi không được chiếu sáng và trở thành chất dẫn điện tốt khi được chiếu ánh sáng thích hợp.

* Bài 2 trang 162 SGK Vật lý 12: Hiện tượng quang điện trong là gì ? Giải thích tính quang dẫn của một chất.

° Lời giải bài 2 trang 162 SGK Vật lý 12:

– Hiện tượng quang điện trong là hiện tượng ánh sáng làm bứt các electron liên kết thành các electron dẫn.

– Giải thích tính quang dẫn của một chất :

+ Khi không bị chiếu sáng, các electron trong chất quang dẫn đều ở trạng thái liên kết với ion ở nút mạng tinh thể. Không có electron tự do nên chất quang dẫn cách điện.

+ Khi chiếu sáng chất quang dẫn, mỗi photon của ánh sáng kích thích sẽ truyền toàn bộ năng lượng của nó cho một electron liên kết. Nếu năng lượng mà electron nhận được đủ lớn thì electron đó được giải phóng khỏi liên kết trở thành electron dẫn. Mặt khác, mỗi electron liên kết được giải phóng để lại một lỗ trống. Lỗ trống này cũng tham gia vào quá trình dẫn điện. Kết quả là chất nói trên dẫn điện.

* Bài 3 trang 162 SGK Vật lý 12: Trình bày cấu tạo và hoạt động của một pin quang điện.

° Lời giải bài 3 trang 162 SGK Vật lý 12:

* Cấu tạo của pin quang điện:

+ Pin có một tấm bán dẫn loại n, bên trên có phủ một lớp mỏng bán dẫn loại p. Trên cùng là một lớp kim loại rất mỏng, dưới cùng là một đế kim loại, các kim loại này đóng vai trò là các điện cực.

* Hoạt động của pin quang điện:

– Khi chiếu ánh sáng vào bề mặt lớp p thì trong lớp này xuất hiện rất nhiều các electrôn dẫn. Chúng ngay lập tức khuếch tán sang lớp n khiến lớp bán dẫn p trở nên nhiễm điện dương còn lớp n thừa electrôn trở nên nhiễm điện âm.

– Ở phía trên lớp p có một lớp kim loại mỏng (vừa cho phép ánh sáng đi qua, vừa có tác dụng dẫn điện) nối với một điện cực. Điện cực này là điện cực dương.

– Ở phía dưới lớp n là một đế bằng kim loại đóng vai trò của điện cực âm.

– Nối hai điện cực của pin quang điện với một mạch ngoài thì trong mạch ngoài có dòng điện một chiều chạy từ cực dương sang cực âm. Suất điện động của pin quang điện nằm trong khoảng 0,5V đến 0,8V.

* Bài 4 trang 162 SGK Vật lý 12: Hãy ghép nửa câu ở phần trên với nửa câu tương ứng ở phần dưới để thành một câu có nội dung đúng.

A. Pin hóa học …

B. Pin nhiệt điện …

C. Pin quang điện …

a) … hoạt động dựa vào hiện tượng quang điện trong xảy ra bên cạch một lớp chặn.

b) … hoạt động dựa vào sự hình thành các hiệu điện thế hóa ở hai điện cực

c) … Hoạt động dựa vào sự hình thành hiệu điện thế khi các electron tự do khuếch tán từ đầu nóng sang đầu lạnh của một dây kim loại.

° Lời giải bài 4 trang 162 SGK Vật lý 12:

A. Có giá trị rất lớn

B. Có giá trị rất nhỏ

C. Có giá trị không đổi

D. Có giá trị thay đổi được

° Lời giải bài 5 trang 162 SGK Vật lý 12:

*Chọn đáp án: D. Có giá trị thay đổi được

A. có giá trị rất lớn.

B. có giá trị rất nhỏ.

C. có giá trị không đổi, không phụ thuộc điều kiện bên ngoài.

D. chỉ xuất hiện khi pin được chiếu sáng.

° Lời giải bài 6 trang 162 SGK Vật lý 12:

*Chọn đáp án: D. chỉ xuất hiện khi pin được chiếu sáng.

Hồ Quang Điện Là Gì, Ứng Dụng Và Tác Hại Của Hồ Quang Điện

1. Hồ quang điện là gì? Được sinh ra như thế nào?

Hồ quang điện được dùng để chỉ một dạng plasma sinh ra sự trao đổi điện tích liên tục giữa hai điện cực, quá trình này thường đi kèm với hiện tượng phát sáng và tỏa ra nhiệt lượng mạnh. Hiểu một cách khác thì đây chính là quá trình diễn ra hiện tượng  phóng điện tự lực, xảy ra trong điều kiện chất khí đang ở áp suất thường hoặc ở áp suất thấp giữa hai hiệu điện thế không lớn.

Trong đó Electron là dòng điện chủ yếu chạy qua chất khí giữa hai cực. Dòng điện này đi từ Cathode đến anode. Bên cạnh đó, có số ion dương dịch chuyển theo chiều ngược lại. Khi các ion âm và dương dịch chuyển đến và tạo ra sự va chạm với anode, khiến cho anode nóng lên (nhiệt độ của Anode có thể lên tới 3500 độ C).

Hồ quang điện thường có điện trở khí rất nhỏ, bởi chất khí giữa hai điện cực có nhiệt độ cao nên bị ion hóa. Đồng thời, cường độ dòng điện trong mạch của hồ quang điện cũng khá lớn (có thể lên đến hàng chục ampe).

Điều kiện tạo ra hồ quang điện gồm hai yếu tố sau:

Hai điện cực có hiện tượng nóng đỏ đủ để tạo ra ion

Có một dòng điện trường đủ mạnh ở giữa hai điện cực để tạo ra ion hóa không khí và sinh ra tia lửa điện

2. Tính chất cơ bản của hồ quang điện

Hồ quang điện tại trung tâm có nhiệt độ lớn, trong các dụng cơ khí có ứng dụng hồ quang điện nhiệt độ có thể lên tới  6000 ÷ 80000K

Mật độ dòng điện ở cathode tương đối lớn, rơi vào khoảng 104 ÷ 105 A/cm2.

Khi dòng điện có trị số lớn mới có thể sinh ra hiện tượng phóng điện hồ quang.

Sụt áp diễn ra ở cathode thường bằng 10 ÷ 20V và đồng thời hiện tượng này không phụ thuộc vào dòng điện.

3. Ứng dụng của hồ quang điện

Hồ quang điện được con người ứng dụng trong những lĩnh vực sau:

Hồ quang điện được ứng dụng rất phổ biến trong lĩnh vực luyện thép (hồ quang điện phải có độ cháy ổn định mới có thể ứng dụng trong lĩnh vực này). 

Ứng dụng trong lĩnh vực hàn, nhờ có nhiệt độ cao hồ quang điện còn được con người ứng dụng để thực hiện các mối hàn. Hiện nay trên thị trường các máy hàn hồ quang điện rất phổ biến.

Bên cạnh đó hồ quang điện còn được ứng dụng tại các lò luyện phôi nhiệt và nấu kim loại.

4. Những tác hại của hồ quang điện

Mặc dù được ứng dụng trong nhiều các ngành công nghiệp song hồ quang điện tồn tại nhiều các tác hại. Cụ thể như sau:

Làm ảnh hưởng đến các thiết bị điện

Các thiết bị điện rất dễ bị phá hủy bởi hiện tượng phóng hồ quang điện. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do có sự thay đổi đột ngột về điện áp, ngắn mạch hệ thống cục bộ.

Điều này khiến cho các doanh nghiệp phải thay thế các thiết bị đóng cắt hàng năm, thậm chí số lượng có thể sẽ rất lớn.

Gây ảnh hưởng đến con người:

Phóng điện hồ quang có thể gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và tính mạng con người. Bởi, hồ quang điện có thể làm cháy nổ.

Hồ quang điện có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của đôi mắt, trong quá trình làm việc nếu nhìn trực tiếp vào tia lửa hồ quang niêm mạc mắt sẽ bị chết (đây chính là nguyên nhân dẫn đến đau mắt hàn). 

Không chỉ gây ảnh hưởng lớn đến mắt, hồ quang điện còn gây ảnh hưởng rất lớn đến da của con người.

5. Cách phòng ngừa tác hại của hồ quang điện

Thực hiện công tác nghiên cứu cải tiến để đưa ra những sản phẩm có chất lượng tốt, có khả năng chịu được tác động của hồ quang điện.

Tại các thiết bị đóng cắt, buồng dập hồ quang hạ thế lắp thêm các module cảm biến cảnh báo hoạt động một cách độc lập.

Trong quá trình làm việc người lao động nên trang bị cho mình một bộ đồ bảo hộ chống tác hại của hồ quang điện cũng như những kiến thức về an toàn khi làm việc.

Bạn có biết:

Rate this post

Quang Hợp Là Gì? Ứng Dụng Của Quang Hợp Trong Đời Sống

Quang hợp là một quá trình tổng hợp lại các chất hữu cơ của các loại thực vật, một số vi khuẩn và tảo nhờ hấp thụ ánh sáng từ năng lượng của mặt trời. Để thực vật có thể quang hợp được thì phải có chất diệp lục có trong lục lạp.

Nhưng có một số vi khuẩn không sử dụng chất diệp lục để quang hợp, mà lại sử dụng một số loại sắc tố khác có tên là bacterochlorophylis. Vậy quang hợp là gì, đây là một quá trình hấp thụ ánh sáng của chất diệp lục có trong lá cây để giải phóng oxy và nước, tổng hợp carbohydrat.

Quá trình quang hợp đóng một vai trò rất quan trọng đối với đời sống của các loại sinh vật trên trái đất. Điều đặc biệt nhất là quá trình quang hợp của cây xanh để tạo ra khí Oxy – là sự sống của tất cả các loại sinh vật.

Tổng hợp các chất hữu cơ: Sản phẩm được quang hợp sản xuất ra các hợp chất hữu cơ để có thể cung cấp nguồn thức ăn cho tất cả các loại sinh vật. Bên cạnh đó, còn được dùng để làm nguyên liệu cho các công nghiệp và làm thuốc để chữa bệnh cho con người.

Tích lũy năng lượng: Là một quá trình để chuyển hóa năng lượng của ánh sáng mặt trời thành các liên kết hóa học. Nên nó thường được tích lũy và cung cấp tất cả các năng lượng cho hoạt động của mọi sinh vật.

Điều hòa không khí: Đây là một quá trình quang hợp của các loại cây xanh, để hấp thụ khí CO2 và giải phóng khí O2. Bên cạnh đó, nước có đóng vai trò điều hòa không khí và giảm các hiệu ứng của nhà kính đem lại không khí trong lành cho trái đất.

Vì các sản phẩm được quang hợp sản xuất ra đều là một nguồn cung cấp thức ăn. Bên cạnh đó, nó còn mang lại năng lượng cho sự sống của trái đất. Ngoài là còn là nguồn cung cấp các nguyên liệu cho ngành công nghiệp và dược liệu cho con người. Chính vì thế có thể nói rằng qaung hợp là một hiện tượng không thể thiếu của thế giới sinh vật và con người.

Lá cây có cấu tạo bên trong và bên ngoài để có thể thích nghi với chức năng quang hợp như sau:

Bên ngoài:

Có diện tích bề mặt lớn để có thể dễ dàng hấp thụ các tia sáng.

Phiến là mỏng rất thuận tiện cho việc hấp thụ và thải ra cách dễ dàng.

Trong lớp biểu bì của mặt lá có khí khổng để khí CO2 có thể dễ dàng khuếch tán đến lục lạp.

Bên trong:

Các tế bào mô giậu có thể chứa nhiều chất diệp lục được phân bố ở bên dưới lớp biểu bì mặt trên của chiếc lá. Để có thể hấp thụ trực tiếp được các tia sáng chiếu lên bề mặt của chiếc lá.

Tế bào mô khuyết chứa rất ít chất diệp lục hơn so với mô giậu và nằm ở phía dưới của phiến lá. Trong mô khuyết có rất nhiều khoảng rỗng để tạo điều kiện cho khí O2 có thể dễ dàng phân tán đến các tế bào có chứa các sắc tố quang hợp.

Hệ gân lá được tủa ra đến tận các tế bào nhu mô của lá. Đây cũng được coi như là một con đường cung cấp nước cùng với các ico khoáng cho quá trình quang hợp. Bên cạnh đó, còn mạch Libe là con đường dẫn các sản phẩm quang hợp ra khỏi lá cây.

trong lá có rất nhiều tế bào chứa chất lục lạp với các hệ sắc tố quang hợp ở bên trong được gọi là bào quan quang hợp.

Cây quang hợp bằng cách nào? Là nhờ vào chất diệp lục có trong hệ sắc tố quang hợp của lá cây. Bề mặt của lá cây khi được tiếp xúc với ánh nắng trực tiếp của mặt trời sẽ giúp các sắc tố diệp lục hấp thụ được các năng lượng và có thể thực hiện quá trình quang hợp của cây xanh. Hệ sắc tố quang hợp của lá cây được chia thành 2 thành phần chính đó là chất diệp lục và carotenoit. Tuy nhiên đối với, các nhóm thực vật thủy sinh và tảo thì có thể hệ sắc tố phụ đó là phycobilin.

Chất diệp lục được chia thành 2 nhóm khác nhau: Diệp lục a và diệp lục b. Đây là một sắc tố rất quan trọng trong quá trình quang hợp để hấp thụ được các ánh sáng có màu xanh lam và đỏ.

Diệp lục a: Là các phân tử P700 và P680 có trong chất diệp lục a. Sẽ tham gia trực tiếp vào quá trình chuyển hóa các năng lượng của ánh sáng thành năng lượng ATP và NADPH.

Diệp lục b: Chất diệp lục b sẽ kết hợp với chất diệp lục a còn lại hỗ trợ các phân tử P700 và P680 ở trung tâm để phản ứng quang hợp bằng cách truyền năng lượng của ánh sáng và hấp thụ cho chúng.

Carotenoid là một chất có tác dụng và truyền các năng lượng cho chất diệp lục a và diệp lục b. Tuy nhiên nó còn được chia ra thành xantôphin và carôten, đây là các sắc tố phụ của quá trình quang hợp. Khi ánh nắng có cường độ cao thì carotenoid còn có tác dụng bảo vệ các hệ thống quang hợp không bị cháy nắng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Hiệu Ứng Quang Điện Là Gì? Sự Ra Đời Của Hiệu Ứng Quang Điện trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!