Xu Hướng 2/2023 # Giải Pháp Thông Minh Thương Hiệu Việt Nam # Top 5 View | 2atlantic.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Giải Pháp Thông Minh Thương Hiệu Việt Nam # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Giải Pháp Thông Minh Thương Hiệu Việt Nam được cập nhật mới nhất trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

– Mỗi công tắc của ACIS đều có khả năng Repeater – chuyển tiếp sóng cho nhau, nên bộ trung tâm có thể để tầng nào cũng được, chỉ cần mỗi tầng có 1 công tắc của ACIS thì có thể điều khiển được từ tầng 1 đến tầng 50… – 2 công tắc có thể giao tiếp cách 2 tầng (ví dụ tầng 1 và tầng 3), nhưng tốt nhất vẫn là nên có 1 công tắc ở tầng 2 làm trung gian chuyển tiếp sóng, để đảm bảo kết nối luôn ổn định.

– Đây là tâm lý chung của đa số Khách Hàng. Vì hầu hết các hệ thống điều khiển thông minh hiện nay rất phức tạp. Anh phải đi dây ngay từ đầu, gom về tủ trung tâm, chỉ làm được cho nhà xây mới. trong hệ thống đó, nếu 1 thiết bị trục trặc là toàn bộ hệ thống bị ảnh hưởng. – ACIS thì dùng công nghệ không dây, thi công đơn giản chỉ là thay công tắc cơ trong nhà thành công tắc cảm ứng. Nếu không có bộ trung tâm, thì mỗi công tắc vẫn hoạt động độc lập nhau, công tắc này có chập điện cháy đi nữa thì công tắc khác vẫn hoạt động được. – Nếu sau này anh có chuyển qua nhà khác ở, chỉ cần gỡ ra, đem qua nhà mới lắp vào, mua công tắc cơ bình thướng gắn cho nhà cũ. Vậy là được, hầu như không bị lệ thuộc gì về Sản Phẩm hay công nghệ cả

– Sensor – cảm biến: có thể dùng 1 cổng của RE4 (qua cơ chế cấp nguồn) để hẹn giờ hoạt động cho các cảm biến này (6h tối-6h sáng), ban ngày đủ ánh sáng nên ko cần tự động bật đèn khi lên/xuống cầu thang, ra vào gara, nhà vệ sinh… – Camera: liên kết vào phần mềm điều khiển của ACIS theo link trên internet (hiện chỉ mới hỗ trợ trên windows), nên ko cần phải lo lắng gì về việc đi dây, nó hoàn toàn đi dây độc lập với các sản phẩm ACIS – Bộ báo trộm: ACIS có modun tích hợp để giúp liên kết bộ báo trộm với hệ thống điện ACIS. Khi có kẻ xâm nhập, ngoài hú còi và điện thoại thông báo cho anh, hệ thống còn tự động bật tất cả đèn trong nhà ngoài sân lên, để bạn có thể kiểm tra rõ ràng mọi thứ qua camera và kịp thời gọi người giúp đỡ. – Rèm, Cửa: Nếu nhà đã có sẵn rèm cửa có motor, điều khiển bằng remote, thì ACIS sẽ giúp bạn điều khiển luôn Rèm/Cửa đó qua Phần Mềm trên điện thoại, máy tính bảng… – ivi, máy lạnh: nhà đang dùng các tivi và máy lạnh , điều khiển bằng remote Hồng Ngoại thì ACIS sẽ giúp bạn đưa giao diện remote Tivi, máy lạnh, đầu âm thanh lên trên các thiết bị di động. Bạn có thể mở máy lạnh trước 10 phút, hoặc chỉnh đến kênh truyền hình yêu thích, trước khi về nhà. – Điện 3 pha thì có thể dùng Công-tắc-tơ (Contactor) làm trung gian để điều khiển

– Hiện tại giải pháp Easy Control bao gồm rất nhiều sản phẩm rời rạc với nhiều tính năng khác nhau, trong đó với bảng điều khiển cảm ứng ON/OFF, 1 kênh của nó có thể cấp nguồn cho 1 nhóm thiết bị dưới 5A, nếu bạn muốn điều khiển tắt/mở các thiết bị công suất lớn như máy lạnh, máy giặt, bếp điện,…thì chỉ cần sử dụng thêm 1 rờ-le đệm dòng. Cho nên anh hoàn toàn có thể dùng bảng điều khiển này cho mọi thiết bị điện trong nhà. – Ngoài ra ACIS còn cung cấp các sản phẩm khác, cho phép anh điều khiển tivi, máy lạnh, rèm, cửa, kết nối hệ thống báo trộm trong nhà,…..giúp anh kiểm soát chuyên sâu nhiều thiết bị hơn.

Xung Đột Là Gì? Biện Pháp Thông Minh Giải Quyết Xung Đột

Xung đột nảy sinh trong công việc là điều chẳng làm bạn phải ngạc nhiên. Những con người khác nhau với những mục đích và nhu cầu hoàn toàn khác nhau luôn dễ dẫn đến xung đột. Kết quả của xung đột có thể dẫn đến thù oán lẫn nhau. Tuy nhiên xung đột có thể là động lực của sự phát triển. Nếu biết giải quyết chúng một cách khoa học thì biết đâu chúng là một trong những động lực mang tính đột phá. Để giải quyết thành công xung đột nảy sinh trong công việc là điều không hề đơn giản nó đòi hỏi bạn phải nhận biết một cách chính xác nguồn gốc nảy sinh xung đột và đưa ra hướng giải quyết hợp lý.

Kết quả của giải quyết xung đột

– Xung đột là một hiện tượng tự nhiên không thể tránh khỏi trong môi trường làm việc, và không tự mất đi. Nếu được giải quyết tốt, xung đột có thể đem lại lợi ích cho tổ chức, tập thể. Nếu giải quyết không tốt, xung đột nhỏ sẽ gây ra xung đột to lớn hơn và cuối cùng sẽ phá vỡ tổ chức

– Tăng cường hiểu biết:

– Tăng cường sự liên kết:

Một khi xung đột được giải quyết hiệu quả, họ sẽ thấu hiểu nhau hơn về tình cảm, sở thích, hoàn cảnh…, điều này tạo cho họ niềm tin vào khả năng làm việc nhóm cũng như cùng hướng đến mục tiêu của tổ chức

– Nâng cao kiến thức bản thân:

Xung đột đẩy những cá nhân phải nỗ lực hơn để nhanh chóng vượt qua “đối thủ” của họ, giúp họ hiểu những vấn đề thật sự quan trọng nhất đối với họ, và hướng họ đến thành công nhanh hơn.Tuy nhiên, nếu xung đột không được giải quyết một cách có khoa học và hiệu quả, chúng có thể gây nên những hậu quả khôn lường. Xung đột có thể nhanh chóng dẫn đến sự thù hằn cá nhân. Công việc của nhóm bị phá vỡ, tài năng bị bỏ phí, và dễ kết thúc bằng việc phản đối và đổ lỗi lẫn nhau và những điều này rất không có lợi cho tập thể của bạn.

– Nâng cao sự hiểu biết và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm

Xác định nguyên nhân xảy ra xung đột

Có hàng trăm lý do dẫn đến xung đột, vì vậy để kỹ năng giải quyết xung đầu tiên bạn cần phải tìm hiểu nguyên nhân chính của nó. Việc xác định được nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là vấn đề quan trọng đầu tiên bạn phải làm, bởi nếu không biết được nguyên nhân bạn sẽ không biết phải bắt đầu từ đâu, phải giải quyết vấn đề gì và làm thế nào để các bên cùng cảm thấy được đối xử công bằng, không thiên vị.

Khi đã xác định được nguyên nhân của xung đột, bạn cần tiếp tục tìm ra chủ nhân tạo ra mâu thuẩn trong môi trường công sở này là ai. Bởi xung đột là do những tranh cãi cá nhân hoặc tập thể về vấn đề gì đó nhưng không tìm được tiếng nói chung, lâu ngày mối quan hệ giữa các thành viên càng bị đẩy ra xa, dẫn đến những hiểu nhầm giữa người này với người kia, tập thể này với tập thể kia. Do vậy, để giải quyết được xung đột bạn cần phải tìm được nút thắt chính của nó và tìm cách thảo gỡ.

Dạng xung đột:

Cạnh tranh:

Tuýp người này luôn hướng đến việc cạnh tranh để có một vị trí tốt hơn công ty, họ biết họ muốn gì. Họ thường bắt đầu khởi nghiệp từ một người có quyền lực, họ bị lôi kéo bởi chức vụ, địa vị xã hội, họ thông minh, và có tầm nhìn. Tuýp người này có thể hữu ích trong trường hợp khẩn cấp và cần có một quyết định tức thì. Nhưng khi họ ra quyết định không phù hợp thì họ tìm mọi cách biện hộ cho mình một cách ích kỷ và rất dễ đến xung đột. Tuy nhiên họ lại cảm thấy không bằng lòng, cảm thấy chán nản khi phải làm những công việc không có sự thử thách.

Cộng tác:

Tuýp người này hướng đến việc cố gắng dung hòa và thừa nhận rằng tất cả mọi người đều quan trọng như nhau. Tuýp người này rất hữu ích khi bạn cần kết hợp những quan điểm của mọi người để đưa ra một giải pháp tốt nhất mà mọi người đều cảm thấy hài lòng; khi đã có sự xung đột trong nhóm từ lâu; hoặc khi bạn gặp một trường hợp rất quan trọng mà chỉ có thể giải quyết bằng sự thoả hiệp giữa các thành viên.

Thoả hiệp:

Tuýp người này hướng đến việc thoả hiệp nhằm cố gắng tìm ra một giải pháp để thỏa mãn tất cả mọi người. Người bị thỏa hiệp phải từ bỏ một thứ gì đó khi thoả hiệp, và người thoả hiệp cũng phải từ bỏ một điều gì đó. Sự thoả hiệp có thể hữu ích khi sự xung đột trong nhóm trở nên nghiêm trọng, khi việc cân bằng sự đối lập là bế tắc.

Thích nghi:

Tuýp người này sẵn sàng đối mặt với việc đánh đổi những nhu cầu họ đang có để đạt được những nhu cầu khác, họ dễ dàng chấp nhận sự thuyên chuyển công tác. Họ biết khi nào thì cần nhượng bộ người khác. Những người này không có tính quyết đoán nhưng lại có tính hợp tác cao. Họ xem trọng hoà bình hơn là sự chiến thắng.

Ngăn ngừa:

Tuýp người luôn lẫn tránh xung đột và xung đột. Họ là mẫu người thực thi các quyết định, không ý kiến và không muốn đụng chạm đến ai. Họ thích hợp làm những công việc ít mang tính ganh đua, tranh luận đối với họ là việc rẻ tiền. Vì vậy, đây là một tuýp người tỏ ra rất yếu thế.Điều quan trọng là bạn phải nhận ra từng loại tuýp người này trong công ty của bạn, bạn có thể sử dụng chúng chỉ khi nào bạn nghĩ đó là hướng giải quyết tốt nhất vấn đề bạn đang gặp phải. Bạn cũng có thể giải quyết chúng theo bản năng, kinh nghiệm của mình và học cách làm sao thay đổi phương pháp giải quyết nếu cần thiết.

Những điều cần thiết khi giải quyết mâu thuẫn

– Lắng nghe trước khi nói

Dù bạn đã bắt đúng bệnh, nhân vật chính của cuộc tranh cãi nhưng cũng đừng vội vàng kết luận hay cố gắng tìm cách giải quyết mà trước tin bạn hãy lắng nghe ý kiến, suy nghĩ của những người trong cuộc. Khi đã hiểu được mong muốn, nguyện vọng của họ bạn hãy bắt đầu tìm cách để giải quyết xung đột, xóa tan đi sự hiểu nhầm để các thành viên siết lại gần nhau hơn.

Khi đã biết được nguyên nhân chính của vấn đề và hiểu rõ suy nghĩ của cuộc xung đột, bạn hãy cẩn thận nhận định lại vấn đề để chắc chắn mọi thứ bạn biết đều đúng sự thật, bạn không bị bên nào che mắt. Có như vậy bạn mới có thể giải quyết vấn đề một cách công bằng nhất.

– Không đặt cái tôi cá nhân khi giải quyết xung đột

Khi bạn là trọng tài, bạn cần phải gạt bỏ cái tôi cá nhân ra khỏi cuộc phân xử. Bạn cần phải biết rằng, khi một vấn đề căng thẳng dẫn đến xung đột nghĩa là khi đó cái tôi cá nhân của những người trong cuộc đều lớn, họ không muốn nhượng nhịn nhau. Vì thế, nếu lúc này bạn cũng đề cao cái tôi cá nhân chắc chắn bạn sẽ nhận được thất bại thảm hại. Hãy suy nghĩ mình vì mọi người chứ không phải vì bản thân mình, như vậy bạn mới có thể giải quyết xung đột một cách sáng suốt và hiệu quả nhất.

Các phương pháp giải quyết xung đột

– Phương pháp cạnh tranh

Đây là phương pháp giải quyết xung đột bằng cách sử dụng “ảnh hưởng” của mình. Ảnh hưởng này có từ vị trí, cấp bậc, chuyên môn, hoặc khả năng thuyết phục.

Áp dụng khi : * Vấn đề cần được giải quyết nhanh chóng * Người quyết định biết chắc mình đúng * Vấn đề nảy sinh đột không phải lâu dài và định kì

Áp dụng khi :

* Vấn đề là rất quan trọng, và có đủ thời gian để tập hợp quan điểm, thông tin từ nhiều phía để có phương pháp xử lý hoàn hảo nhất * Trong nhóm đã tồn tại mâu thuẫn từ trước * Cần tạo dựng mối quan hệ lâu dài giữa các bên

Là cách giải quyết xung đột bằng cách phó mặc cho đối phương định đoạt, hoặc người thứ 3 định đoạt. Những người dùng phương pháp này không tham gia vào tranh luận để đòi quyền lợi. Dù cho kết quả thế nào họ cũng không có ý kiến, và thường tích tụ lại sự không hài lòng của mình.

Là phương pháp xử lý xung động bằng cách sẵn sàng hy sinh quyền lợi của mình, mà không đòi hỏi hành động tương tự từ bên kia.

Áp dụng khi : * Giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp là ưu tiên hàng đầu * Cảm thấy vấn đề là quan trọng với người khác hơn với mình (thấy không tự tin để đòi quyền lợi cho minh)

Sự khác nhau cơ bản giữa phương pháp “nhượng bộ” và “lẩn tránh” là ở mối quan tâmvề đối phương và xung đột. Phương pháp nhượng bộ bắt nguồn từ sự quan tâm, trong khi phương pháp lẩn tránh bắt nguồn từ sự thờ ơ của cá nhân với đối phương lẫn xung đột.

Đây là tình huống mà trong đó mỗi bên chịu nhường một bước để đi đến giải pháp mà trong đó tất cả các bên đều cảm thấy thoải mái nhất.

Áp dụng khi :

* Vấn đề tương đối quan trọng, trong khi haibênđều khăng khăng giữ mục tiêu của mình, trong khi thời gian đang cạn dần * Hậu quả của việc không giải quyết xung đột là nghiêm trọng hơn sự nhượng bộ của cả 2 bên

– Nguyên tắc chung khi giải quyết xung đột

* Nên bắt đầu bằng phương pháp hợp tác * Không thể sử dụng tất cả các phương pháp * Áp dụng các phương pháp theo hoàn cảnh

Doanh Nghiệp Logistics Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp

1. Các doanh nghiệp khai thác vận tải: dịch vụ vận tải (đường bộ, đường biển, hàng không..)

2.Các doanh nghiệp khai thác cơ sở hạ tầng tại các điểm nút (cảng, sân bay, ga…)

3.Các doanh nghiệp khai thác kho bãi, bốc dỡ và dịch vụ logistics

4.Các doanh nghiệp giao nhận hàng hóa, doanh nghiệp 3PL và các doanh nghiệp khác như giải pháp phần mềm logistics, tư vấn, giám định, kiểm tra, tài chánh

Trừ các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, đa số các doanh nghiệp này có quy mô nhỏ và vừa, vốn điều lệ bình quân hiện nay khoảng 4-6 tỷ đồng (so với 1-1,5 tỉ đồng trước năm 2005) và nguồn nhân lực đào tạo bài bản chuyên ngành logistics còn rất thấp (5-7%).

Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics của Việt Nam chủ yếu làm đại lý, hoặc đảm nhận từng công đoạn như là nhà thầu phụ trong dây chuyển logistics cho các nhà cung cấp dịch vụ logistics quốc tế.Có trên 25 doanh nghiệp logistics đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam nhưng chiếm trên 70-80% thị phần cung cấp dịch vụ logistics của nước ta.

Một khía cạnh không kém phần quan trọng là chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp dịch vụ logistics hiện nay đến đâu ? Điều này tùy thuộc vào năng lực thực hiện, tính chuyên nghiệp thông qua trình độ tay nghề, công tác đào tạo huấn luyện của từng doanh nghiệp cũng như việc đầu tư thiết bị, phương tiện, công nghệ thông chúng tôi đến thời điểm này, chỉ có vài trường đại học trên cả nước có chuyên khoa đào tạo logistics kêt hợp với chương trình vận tải (!)

Theo một khảo sát trong nội bộ hội viên mới đây (2012) của Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) có thể thấy rằng đa số các doanh nghiệp hội viên hiện nay đã có vốn điều lệ bình quân cao hơn từ 5 đến 6 lần so với các thời kỳ trước, số nhân viên bình quân cũng có tăng lên, hoạt động tập trung vào vận tải quốc tế (mua bán cước), dịch vụ giao nhận vận tải, kho bãi cảng, trong khi các doanh nghiệp thực hiện dịch vụ logistics trọn gói, tích hợp (3PL) hoặc vận tải đa phương thức chỉ chiếm khoảng 10%. Cũng theo khảo sát này, tỉ lệ nhân viên qua đào tạo (chủ yếu là tự đào tạo và tự học hỏi kinh nghiệm ) là 72% (!), trang thiết bị, phương tiện vận tải, kho bãi chỉ ở mức 30-40 % còn lại phải thuê ngoài để phục vụ khách hàng. Về đầu tư công nghệ thông tin thì hầu hết đã sử dụng máy tính, e-mail, fax và có trang web riêng; một số (27%) có sử dụng phần mềm chuyên dụng trong quản lý và một số ít (9%) đã sử dụng trao đổi dữ liệu EDI, sử dụng công nghệ mã vạch và RFID.

Qua khảo sát trên có thể thấy rằng năng lực và tính chuyên nghiệp của các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, những năm gần đây có được tăng lên, một số doanh nghiệp trong nước đã tiến hành đầu tư chiều sâu, tiến hành các dịch vụ logistics trọn gói 3PL (integrated logistics), tham gia hầu hết các công đọan logistics trong chuỗi cung ứng của chủ hàng, từ đó xác lập uy tín với các đối tác, khách hàng trong và ngoài nước.

Tái cơ cấu chuỗi cung ứng nhằm nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh của thương mại Việt Nam, đặc biệt là xuất khẩu và chủ động tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Việc tái cơ cấu chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu sẽ gắn kết, tạo điều kiện và thúc đẩy mạnh mẽ việc phát triển dịch vụ logistics. Các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam hiện nay có đủ năng lực và chuyên nghiệp để tư vấn cho khách hàng các giải pháp logistics tốt nhất phù hợp đặc thù chuỗi cung ứng của từng khách hàng.

Chủ hàng Việt Nam cần chủ động và tận dụng lợi ích của việc thuê ngoài logistics cũng giúp các doanh nghiệp thương mại, xuất nhập khẩu cắt giảm chi phí, tiết kiệm các khoảng đầu tư, nhân lực không cần thiết nhằm có điều kiện tập trung vào kinh doanh lõi của mình.

Hiện đại hóa hệ thống hải quan, thực hiện hải quan một cửa, hải quan điện tử, trong đó có việc phát triển mạnh mẽ hình thức đại lý hải quan bằng việc gia tăng số lượng đại lý hải quan và xây dựng chế độ ưu tiên về thủ tục hải quan cho các lô hàng xuất nhập khẩu do đại lý hải quan đứng tên khai, như miễn kiểm hồ sơ và miễn kiểm hàng hóa đối với các tờ khai do đại lý hải quan đứng tên, đóng dấu.

Đảm bảo tính thống nhất, minh bạch và nhất quán các quy định pháp luật điều chỉnh kinh doanh dịch vụ logistics để phục vụ tốt cho việc tạo thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh của thương mại.

Ngoài ra, bên cạnh sự nỗ lực, chủ động của doanh nghiệp thì cần thiết phải có một tổ chức cấp nhà nước quản lý, chỉ đạo thống nhất các hoạt động của ngành logistics phục vụ thương mại trong cả nước bao gồm cả doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đó là hình thành Ủy ban quốc gia logistics. Tổ chức này thực sự là cầu nối giữa doanh nghiệp và nhà nước trong việc hoạch định chiến lược, chính sách và các chương trình hành động phát triển ngành logistics của nước ta gắn liền với phát triển sản xuất, thương mại và xuất nhập khẩu.

Nội Dung Pháp Luật Việt Nam Về Thương Mại Dịch Vụ

Thương mại dịch vụ là một thuật ngữ còn khá mới, khái niệm này lần đầu tiên được sử dụng chính thức trong Hiệp định thương mại Việt Nam.

Phạm vi áp dụng và các khái niệm

Trong khi đó, khái niệm này chưa từng xuất hiện trong các dạo luật về thương mại ở Việt Nam. Luật Thương mại năm 1997 sử dụng khái niệm “cung ứng dịch vụ thương mại” đế chỉ các hoạt động cung ứng dịch vụ thuộc đôi tượng điều chinh của luật. H Thuật ngữ “dịch vụ thương mại” được định nghĩa bởi Luật thương mại năm 1997 có nội hàm rất hẹp, chỉ là những dịch vụ do thương nhân tiến hành trong hoạt động mua bán hàng hoá (khoản 4, Điều 5). Cách định nghĩa này phù hợp với quan niệm truyền thống về thương mại ở nước ta. nhung nó không bao hàm hết các loại dịch vụ được cung ứng trong nền kinh lế. Nó cũng không phản ánh dược khía cạnh thương mại như là thuộc tính vốn có trong các quá trình sản xuất và cung úng dịch vụ. Điều này có nhiều nguyên nhân, song có lẽ bắt nguồn từ sự lúng túng trong việc xác định ranh giới điểu chinh giữa Luât Dân sự và Luật Thương mại đối vói các hoại động cung ứng dịch vụ, dẫn đến việc Luật ‘rhương mại phải định danh rõ ràng về dịch vụ thương mại.

Luật Thương mại năm 2005 không sử dụng khái niệm “cung ứng dịch vụ thương mại” mà thay bằng khái niệm “cung ứng dịch vụ”. Khái niệm này phản ánh tính “mở” của Luât Thương mại năm 2005 khí đã nói rộng nôi hàm cua khái niệm gần hơn với nội hàm của khái niệm. Nó cũng cho thấy chủ ý của nhà làm luật là không có sự tách bạch với việc cung ứng các dịch vụ khác để tránh sự tranh cãi không cần thiết về bản chất thương mại hay dân sự của các giao dịch cung ứng dịch vụ.

Tuy nhiên, qua các quy định của Luật Thương mại nàm 2005 vản có thể tìm thây ranh giới giữa hoạt đống cung ứng dịch vụ trong thương mại so với các hoạt động cung ứng dịch vụ khác. Khoản 9, Điều 3, Luật Thương mại định nghĩa: “Cung ứng dịch vụ là hoại động thương mại, ỉheo đố một bên (sau dây gọi lả bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ chờ một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau dây gọi lả khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung iữig dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.” Khoản ỉ, Điều 3, Luật Thương mại định nghĩa: “Hoại động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bárt hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đẩu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục dí ch sinh lợi khác. “

Như vậy, qua các quy định trên đầy có thể thấy cung ứng dịch vụ trong thương mại là những hoạt đông được tiến hành nhằm mục đích sinh lợi. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa cung ứng dịch vụ thương mại với các hoạt động cung ứng dịch vụ khác không có mục đích sinh lợi. Tuy nhiên ranh giới này ngày càng trở nên mờ nhại vì ngày nay hầu hết các hoạt động cung ứng dịch vụ trên thị trường đều nhàm mục đích sinh lợi.

Bản thân khái niệm “dịch vụ” trong pháp luật hiện hành cũng chưa được quan niệm thống nhất và chưa phù hợp với thòng lộ quốc tế. Trong Bộ luật Dản sự năm 2005, khái niệm “dịch vụ” được hiểu là một công việc do một bcn thực hiện theo yêu cầu của phía bẻn kia (Điều 518). Cách hiểu như vậy mới chỉ phán ánh được một khâu trong quá trình tạo ra và cung cấp dịch vụ chứ chưa thấy được dịch vụ cũng là các sản phẩm hoàn chỉnh mang đặc tính giá trị và giá trị sứ dụng. ^ Luật Thương mại nãm 2005 không đưa ra định nghĩa về dịch vụ, cũng không liệt kê các nhóm ngành dịch vụ thuộc đối tượng điều chỉnh cùa luật như trong Hiệp định GATS. Đây có thế được coi như một điổm hạn chế của Luật Thương mại hiện hành. Tuy nhiên, trong các luật chuyên ngành (như Luật Hàng không, Luật Du lịch, Luật Các tổ chức tín dụng, Luặt Chứng khoán…) đôi khi có đưa ra định nghĩa về từng loại dịch vụ cụ thể. Chăng hạn, Điều 6. Pháp lệnh Bưu chính viễn thông định nghĩa: “Dịch vu viễn thủng là dịch vụ truyền kỷ hiệu, iin hiệu, so liệu, chữ viết, âm thanh, hình ánh hoặc các dạng cùa thông tin giữa các điêm kêI noi cùa mạng vien thõng.

Các phương thức cung ứng dịch vụ trong thương mại

Điểm mới của Luật Thương mại năm 2005 so với Luật Thương mại năm 1997 là quy định các -phương thức cung ứng dịch vụ trong thương mại. Nó cho thấy Luật Thương mại năm 2005 đã bước đầu tiếp cận với Hiêp định GATS. Tuy nhiên, Luật Thương mại không sử dụng tên gọi “phương thức cung ứng dịch vụ” mà luật tiếp cận dưới góc độ quyền cung ứng và sử dụng dịch vụ cua thương nhân.

Theo quy định của Luật Thương mại, Ihương nhân có quyển cung ứng các dịch vụ sau: (1) Cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam; (2) Cung ứng cho người không cư trú tại Việt Nam sứ dụng trên lãnh thổ Việt Nam; (3) Cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng trèn lãnh thổ nước ngoài; (4) Cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài.

Một điểm đáng chú ý khác của Luật Thương mại năm 2005 là luật khổng chỉ quy dịnh quyén cung ứng địch vụ mà còn quy định cả quyền sử dụng dịch vụ cúa thương nhân. Cung ứng và sử dụng địch vụ là hai mặt không thể tách rời. Một thương nhân có thể vừa là người cung ứng dịch vụ vừa là người sử dụng dịch vụ. Bởi vậy, cách tiếp cận nhu Luật Thương mại nãm 2005 phản ánh sự sáng lạo và quan niệm thấu đáo của nhà làm luật về bản chất của quan hệ cung ứng dịch vụ. Theo Luật Thương mại nãm 2005, thương nhân có quyền sử dụng các dịch vụ sau: (1) Dịch vụ do người cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh ỉhổ Việi Nam; (2) Dịch vụ do nguời không cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ Việt Nam; (3) Dịch vụ do người cư tru tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ nước ngoài; (4) Dịch vụ do người không cu trú tại Việt nam cung ứng trên lãnh Ihổ nước ngoài.

Mặc dù tèn gọi không hoàn toàn giống nhau nhung có rất nhiều phương Ihức cung úng dịch vụ quy định trong Luật Thương mại của Việt Nam tương tự các phương thức được quy định tại GATS. Luật Thương mại cũng quy định trường hợp các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của luật thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó (Điều 5). Như vậy, ngoài các phương thức cung ứng dịch vụ nêu trên, các thương nhân còn có thể lựa chọn các phương thức cung cấp dịch vụ khác được quy định tại GATS.

Khái niệm thưong mại ớ nước ta theo nghĩa íruyÉn ỉhong có nội hàm rất hẹp, chi bao gôm mội số nhóm quan hệ phái sinh giữa các thương nhân Nêu sứ dụng khái niệm trong Luật Thương mại đong nghĩa Với việc sẽ phái mớ rộng phạm vi điều chính cùa Luật Thương mại và điều này là trái với íruyền thong pháp luật thương mại nưác ta. Do vậy, việc sư dung khái niệm này Ịà cỏ chu Ý và phán ánh sự thận trọng cùa cúc nhà làm luật Việt Nam.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết

Cập nhật thông tin chi tiết về Giải Pháp Thông Minh Thương Hiệu Việt Nam trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!