Xu Hướng 11/2022 # Đôi Nét Về Khái Niệm Tri Thức Bản Địa / 2023 # Top 15 View | 2atlantic.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Đôi Nét Về Khái Niệm Tri Thức Bản Địa / 2023 # Top 15 View

Bạn đang xem bài viết Đôi Nét Về Khái Niệm Tri Thức Bản Địa / 2023 được cập nhật mới nhất trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trước đây, vì nhiều lý do, con người luôn cho rằng nhiệm vụ cao cả của mình là cải tạo và chinh phục tự nhiên. Khoa học phương Tây, được coi là chuẩn mực và khuôn mẫu cho cả thế giới noi theo trong suốt một thời gian dài, luôn cố gắng tìm cách cải biến tự nhiên, tìm hiểu quy luật khách quan, có thể đo đếm và dự báo được, để phục vụ lợi ích con người. Trên thực tế, loài người đã làm được rất nhiều điều để thực hiện nhiệm vụ này. Đời sống của con người trở nên thuận tiện hơn từ những phát minh, sáng chế khoa học; các quy luật dần lộ diện, khiến con người không gặp quá nhiều bất ngờ trước những thay đổi trong tự nhiên cũng như xã hội.

Nhưng các giới hạn bắt đầu xuất hiện khi nhiều chương trình phát triển, áp dụng mô hình khoa học phương Tây, đã bắt đầu gặp khó khăn trong khi triển khai ở các xã hội ngoài phương Tây. Từ đấy, người ta xuất phát nhu cầu tìm kiếm giải pháp khác. Khai thác tri thức bản địa trở thành một trào lưu được ưa thích trên toàn cầu, đặc biệt cho các dự án tại các nước đang phát triển.

Phạm vi

Linh thiêng và thế tục cùng đồng hành, bao gồm cả siêu nhiênHội nhập toàn thể, dựa vào hệ thống Được lưu giữ thông qua truyền miệng và trong các thực hành văn hóa

Chỉ tính tới thế tục, loại trừ siêu nhiênPhân tích hay quy giản, dựa vào các tập hợp nhỏ của cái toàn thể Được lưu giữ thông qua sách vở và máy tính

Mức độ chân lý

Được coi là chân lý (chủ quan)Chân lý được thấy trong tự nhiên và trong niềm tin Giải thích dựa vào ví dụ, kinh nghiệm và tục ngữ

Được coi là tiếp cận gần nhất đến chân lýChân lý được tìm thấy từ sự lý giải của con người Giải thích dựa vào giả thuyết, lý thuyết và quy luật

Mục đích

Trí tuệ lâu dàiThực tế cuộc sống và tồn tại Có khả năng dự báo tốt ở địa phương (có giá trị về sinh thái) Yếu hơn trong điều kiện ở các vùng xa, khác

Suy đoán ngắn hạnTrừu tượng, trải qua kiểm tra Có khả năng dự báo tốt trong điều kiện tự nhiên (có giá trị về duy lý) Yếu trong việc sử dụng kiến thức địa phương

Cách dạyvà học

Lĩnh hội mất nhiều thời gian (kiến thức chậm)Học thông qua cách sống, trải nghiệm và làm Dạy thông qua ví dụ, làm mẫu, tôn giáo và kể chuyện Được kiểm nghiệm thông qua các tình huống thực tế

Lĩnh hội nhanh (kiến thức nhanh)Học thông qua giáo dục chính thức Dạy thông qua sách giáo khoa Được kiểm nghiệm giả tạo trong các kiểm tra

Tri Thức: Khái Niệm “Di Dân” / 2023

Di dân là khái niệm được các nhà nghiên cứu định nghĩa không thống nhất. Có nhà nghiên cứu coi đó là sự “thay đổi nơi cư trú cố định” (

Lee)

; có nhà nghiên cứu lại coi “sự thoát ly/rời tách khỏi cộng đồng sống” là nội dung chính trong nội hàm khái niệm di cư (

Mangalam và Morgan)

. Có nhà nghiên cứu cho rằng “giá trị hệ thống dựa trên đó con người/cộng đồng người lựa chọn nơi cư trú” là tiêu chí chủ yếu nhận dạng quá trình di dân (

Paul Shaw).

Tổng hợp lại, di cư có thể hiểu là sự chuyển dịch của con người

từ

một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác

trong thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn.

Nói cách khác,

di dân là một thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển dân số hoặc quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập, hoặc

thiết lập nơi cư trú mới

vào một đơn vị hành chính - địa lý trong một thời gian nhất đình, thậm chí cả một cộng đồng.

Cùng với “di dân ròng”, “nơi nhập cư”, “nơi xuất cư”, “di cư chênh lệch”… “Người di dân” là người trong một thời gian nhất định, ít nhất là một lần thay đổi nơi cư trú của mình từ địa bàn này sang địa bàn khác, từ khu vực lãnh thổ này sang khu vực lãnh thổ khác.

 

“Di dân gộp” là tổng cộng số người cùng đến và đi trên cùng một vùng, là chỉ số đo lường toàn bộ dân số đến và đi trong một cộng đồng dân cư trên cùng một địa bàn sống. “Di dân ròng” là khái niệm chỉ sự chênh lệch giữa quy mô dân cư di chuyển đến và quy mô dân cư di chuyển đi – một quá trình là kết quả trực tiếp của sự đồng thời tiếp nhận hoặc đánh mất đi một số lượng dân cư nhất định trên một địa bàn cụ thể do sự chuyển dịch nơi cư trú của người dân. “Nơi nhập cư” là thuật ngữ chỉ địa bàn mà người di cư tìm đến với mục đích xác lập nơi cư trú mới. “Xuất cư” là sự dịch chuyển/rời bỏ nơi cư trú của người di cư để xác lập địa bàn cư trú mới. “Di cư chênh lệch” chỉ khoảng cách giữa các nhóm di cư khác nhau về yếu tố nhân khẩu, hoàn cảnh xã hội, yếu tố văn hoá, kinh tế… Điều đó có nghĩa là đối với những luồng di cư khác nhau sẽ có sự khác nhau trong cơ cấu thành phần, trong đặc điểm nhận diện, trong tính chất dịch chuyển.

Dựa trên những cơ sở khác nhau, có thể phân chia di cư thành các loại hình khác nhau. Trên cơ sở thời gian, di dân bao gồm di cư lâu dài, di cư tạm thời và di cư mùa vụ.

“Di cư lâu dài” chỉ người/nhóm người di cư dịch chuyển nơi cư trú trong một khoảng thời gian tương đối dài và có ý định ở lại nơi đến. “Di cư tạm thời” là sự xác lập nơi cư trú của người/nhóm người trong một khoảng thời gian ngắn trước khi quyết định có ở lại định cư tại nơi đó hay không. “Di cư mùa vụ” là hình thức di cư đặc biệt của di cư tạm thời, nó không chỉ ám chỉ khoảng thời gian di cư trùng với thời gian thu hoạch mùa vụ, mà còn chỉ khoảng thời gian di cư phục vụ hoạt động kinh tế mùa vụ (mùa xây dựng, mùa du lịch…), có nghĩa là người di cư dịch chuyển nơi cư trú theo mùa vụ để tìm kiếm việc làm, không có ý định ở lại lâu dài tại địa bàn nhập cư, sẽ quay trở lại nơi xuất cư nếu có nhu cầu lao động hoặc công việc gia đình.

Về hướng di dân, gồm có hai hình thức di dân: Di dân nội địa và di dân quốc tế – sự dịch chuyển nơi cư trú bên trong biên giới quốc gia hoặc vượt ra ngoài biên giới quốc gia tới quốc gia khác.

Về địa bàn đến, di dân có bốn loại hình: 1- Nông thôn – nông thôn; 2- Nông thôn – thành thị; 3- Thành thị – thành thị; 4- Thành thị – nông thôn.

Về pháp lý, có hai hình thức di dân: Có tổ chức và tự do; trong đó, di dân có tổ chức là loại hình di cư diễn ra trong khuôn khổ các chương trình của Nhà nước, theo đó, người di cư được nhận sự hỗ trợ ổn định đời sống từ Nhà nước, được Nhà nước định hướng địa bàn cư trú, công ăn, việc làm, còn di cư tự do bao gồm những người di cư không nằm trong chương trình di cư của Chính phủ, do người di cư tự quyết định từ việc lựa chọn địa bàn nhập cư, đến trang trải mọi phí tổn di chuyển, tìm việc làm…

Tri Thức, Quản Trị Tri Thức Và Kinh Tế Tri Thức / 2023

Tri thức

Để hiểu rõ khái niệm tri thức ta phân biệt tri thức với các khái niệm tương đồng khác là dữ liệu, thông tin, trí tuệ.

Dữ liệu là những con số hoặc dữ kiện thuần túy, rời rạc mà quan sát hoặc đo đếm được không có ngữ cảnh hay diễn giải. Dữ liệu được thể hiện ra ngoài bằng cách mã hóa và dễ dàng truyền tải. Dữ liệu được chuyển thành thông tin bằng cách thêm giá trị thông qua ngữ cảnh, phân loại, tính toán, hiệu chỉnh và đánh giá.

Thông tin là những mô hình hay tập hợp dữ liệu đã được tổ chức lại và diễn giải đặt trong bối cảnh và nhằm một mục đich cụ thể. Thông tin là những thông điệp thường được thể hiện theo dạng văn bản hoặc giao tiếp có thể thấy được hoặc không thấy được… nhằm mục đích thay đổi cách nhận thức của người nhận thông tin về vấn đề cụ thể, và gây ảnh hưởng đến sự đánh giá và hành vi của người nhận. Vì thông tin là những dữ liệu được tổ chức lại vì một mục đích nào đó, vì vậy mà nó sẽ giảm bớt sự không chắc chắn. Đó cũng chính là sự khác biệt của thông tin với dữ liệu. Tương tự như dữ liệu, thông tin được mã hóa và tương đối dễ dàng truyền tải.

Tri thức là thông tin được cấu trúc hóa, được kiểm nghiệm và có thể sử dụng được vào mục đích cụ thể. Tri thức thường thể hiện trong những hoàn cảnh cụ thể kết hợp với kinh nghiệm và việc phán quyết hay ra quyết định. Để truyền tải thì đòi hỏi sự học tập của người tiếp nhận tri thức. Như vậy nếu một thông tin giúp chúng ta nhận thức và đưa ra quyết định thì là tri thức. Thông tin trở thành “đầu vào” được nạp vào trong não, qua quá trình xử lý sẽ tạo ra tri thức. Nhưng quá trình xử lý này với mỗi một cá nhân khác nhau sẽ cho ra những “đầu ra” khác nhau. Có nghĩa là cùng một thông tin như vậy nhưng với mỗi cá nhân thì tri thức mà anh ta nhận thức được sẽ khác với tri thức mà người khác nhận thức. Thông tin là những dữ liệu được cấu trúc hóa được thể hiện ra ngoài và ai cũng có thể tiếp cận. Nhưng tri thức thiên về những thông tin được cấu trúc hóa và cá nhân hóa nằm trong mỗi con người cụ thể, do đó khả năng tiếp cận khó hơn và sự thể hiện ra ngoài không phải lúc nào cũng chính xác.

Trí tuệ là khả năng sử dụng tri thức một cách khôn ngoan nhằm đạt được mục đích của mình. Trí tuệ gắn liền với con người và sự đánh giá, phán xét và hoạch định các hành động. Cùng có tri thức như nhau nhưng mỗi người sẽ hành xử một cách khác nhau vì trí tuệ của mỗi người là khác nhau tức là khả năng sử dụng tri thức của mỗi người là khác nhau nên sẽ tạo ra kết quả khác nhau.

Tri thức là những dữ liệu, thông tin được cấu trúc hóa, kiểm nghiệm và sử dụng được vào một mục đích cụ thể tạo ra giá trị.

Chúng ta có thể chia ra làm 3 loại tri thức: Một là tri thức hiện (explicit knowledge); hai là tri thức ngầm (tacit knowledge) và ba là tri thức tiềm năng (implicit knowledge).

Tri thức hiện (Explicit knowledge): Đây là những tri thức được giải thích và mã hóa dưới dạng văn bản, tài liệu, âm thanh, phim, ảnh thông qua ngôn ngữ có lời hoặc không lời, nguyên tắc hệ thống, chương trình máy tính, chuẩn mực hay các phương tiện khác. Những tri thức có cấu trúc thường được thể hiện ra ngoài và dễ dàng chuyển giao. Ví dụ như các tri thức về chuyên môn được trình bày trong giáo trình, sách, báo, tạp chí… Những tri thức đã được cấu trúc hóa thường là tri thức hiện.

Trong tác phẩm có sức ảnh hưởng rất mạnh của mình–Công ty Sáng tạo Kiến thức–Nonaka và Takeuchi đã phân biệt tri thức hiện và tri thức ngầm. Tri thức hiện là các tri thức được hệ thống hóa trong các văn bản, tài liệu, hoặc các báo cáo, chúng có thể được chuyển tải trong những ngôn ngữ chính thức và có hệ thống.

Tri thức ngầm (Tacit knowledge): Tri thức mà một người có được một cách tự giác vô thức. Tri thức ẩn có thể không lý giải hay lập luận được bởi vì (1) tri thức ẩn không được hiểu cặn kẽ, (2) nó quen thuộc, tự động và vượt qua ý thức người sở hữu nó. Ví dụ như: bí quyết, niềm tin, kinh nghiệm, sự nhạy cảm trong công việc…

Nonaka và Takeuchi cũng cho rằng: tri thức ngầm là nhưng tri thức không thể hoặc là rất khó được hệ thống hóa trong các văn bản, tài liệu, các tri thức này mang tính cá nhân, gắn liền với bối cảnh và công việc cụ thể. Tri thức ngầm rất khó để thể hiện trên các tài liệu, nhưng lại có tính vận hành cao trong bộ não của con người.

Những tri thức này là dạng tri thức nằm trong đầu con người. Nhiều người cho rằng đây là phần lớn tri thức bên trong một tổ chức. Những gì mà con người biết thì thường giá trị hơn là những gì được viết ra. Vì vậy tạo ra mối liên hệ giữa người không biết và người biết là một khía cạnh hết sức quan trọng của một tổ chức. Mục tiêu của quản trị tri thức là giúp chia sẻ những tri thức ngầm bên trong một tổ chức sao cho mọi người đều có thể sử dụng những kiến thức chuyên môn trong một lĩnh vực nhất định để giải quyết vấn đề cho khách hàng và tạo nên những sản phẩm hiệu quả hơn. Ta có thể ví tri thức trong mỗi con người và tổ chức giống như tảng băng trôi, nếu tri thức bộc lộ là phần nổi thì tri thức ngầm là phần chìm.

Tri thức tiềm năng (Implicit knowledge – còn gọi là “potential knowledge”): Tri thức được chứa dưới dạng ngôn ngữ có lời hoặc không lời, hành động (cả khi ghi hình hay thể hiện dưới dạng một phần của hệ thống truyền thông), mạng lưới những bộ óc đã được đào tạo, tri thức gắn trong công nghệ, văn hóa, thực tiễn… Hầu hết các doanh nghiệp đều có những dữ liệu thể hiện doanh số bán hàng, khách hàng. Những doanh số này thể hiện tri thức tiềm năng – là những số liệu mà từ đó tri thức mới có thể rút ra được nếu như dữ liệu này được truy cập và phân tích.

Như vậy, nếu nhìn nhận tri thức trong phạm vi của tổ chức, chúng ta thấy bất kỳ tổ chức nào cũng đều tồn tại ba dạng tri thức trên, chỉ có điều tổ chức có biết mình đang nắm giữ những tri thức nào? chúng nằm ở đâu? ai nắm giữ? và cách thức sử dụng như thế nào? để khai thác một cách hiệu quả tri thức nhắm phục vụ cho quá trình hoạt động hay sản xuất kinh doanh chính của tổ chức để tạo ra giá trị mà thôi.

Quản trị tri thức

Có rất nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau tuỳ theo cách nhìn và phương thức của mỗi cá nhân hay tổ chức. Chúng bao gồm có quản lý, việc học hỏi của cá nhân và tổ chức, giao tiếp, công nghệ và các hệ thông thông tin, trí tuệ nhân tạo, tài sản tri thức,…Không có một định nghĩa hay một cách tiếp cận thống nhất về quản trị tri thức nào cả, nhưng lại có những nội dung có thể bao quát toàn bộ. Quản trị tri thức bao gồm con người, các cách thức và quá trình, các hoạt động, công nghệ và một môi trường rộng hơn thúc đẩy việc định dạng, sáng tạo, giao tiếp hay chia sẻ và sử dụng các tri thức cá nhân cũng như tri thức của tổ chức. Nó là về những qui trình quản lý việc tạo ra, phát tán và sử dụng tri thức để đạt được mục tiêu tổ chức. Nó đòi hỏi sự kết hợp giữa nhận thức kinh doanh, thái độ và thực tiễn sáng tạo, những hệ thống, chính sách và những thủ tục được tạo ra để giải phóng sức mạnh của thông tin và ý tưởng.

Quản trị tri thức nhằm đến các quá trình sáng tạo, nắm bắt, chuyển giao và sử dụng tri thức để nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức. (Public Service Commission of Canada, 1998).

Quản trị tri thức đưa tri thức ngầm lên bề mặt, tổng hợp chúng thành những dạng dễ dàng lưu trữ và truy cập hơn, đồng thời thúc đẩy tính sáng tạo của nó. (Birket)

Quản trị tri thức là quá trình tạo mới, phân phối và sử dụng tri thức một cách hiệu quả. (Davenport)

“Quản trị tri thức là quá trình có hệ thống của việc nhận dạng, thu nhận, và chuyển tải những thông tin và tri thức mà con người có thể sử dụng để sáng tạo, cạnh tranh, và hoàn thiện” (Trung tâm Năng suất và Chất lượng Hoa Kỳ – Trích dẫn bởi Serban và Luan).

Quản trị tri thức là một quá trình, một công cụ quản lý hiệu quả nhằm chia sẻ, thu nhân, lưu giữ, lựa chọn, sáng tạo tri thức và cung cấp đúng người, đúng nơi, đúng lúc nhằm nâng cao hiệu quả quyết định, hiệu quả thực thi và khả năng thích ứng của tổ chức.

Kinh tế tri thức

Các tiêu chí của nền kinh tế tri thức bao gồm:

• Cơ cấu GDP: Hơn70% do các nghành sản xuất và dịch vụ ứng dụng công nghệ cao.

• Cơ cấu giá trị gia tăng: Hơn 70% do lao động trí óc mang lại.

• Cơ cấu lao động: Hơn 70 % là “công nhân tri thức”.

• Cơ cấu tư bản: Hơn 70 % là Tư bản con người.

Tuy hiện nay Việt Nam chưa xây dựng một chiến lược phát triển kinh tế tri thức, giống như một số nước khác trong khu vực và trên thế giới, song một số văn bản chính thức của Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta rất coi trọng vận dụng các yếu tố của kinh tế tri thức. Trong hoàn cảnh hội nhập quốc tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc phát triển một đội ngũ trí thức làm cơ sở cho việc dịch chuyển sang nền kinh tế tri thức là một việc quan trọng và cấp bách. Điều này cũng thể hiện rất rõ trong chính sách của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay. Hội nghị Trung ương lần thứ 7 Ban Chấp hành (khóa X) của Đảng ta cũng dành trọng tâm cho việc xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ hội nhập. Chúng ta cần tạo ra một môi trường kinh tế – xã hội tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự sản sinh, phổ biến và sử dụng tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, việc chuyển biến tri thức thành sức mạnh sản xuất đạt tới trình độ cao. Do vậy, tri thức trở thành yếu tố sản xuất quan trọng nhất và đội ngũ trí thức ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước.

TRÍ THỨC VÀ NHẬN DẠNG TRÍ THỨC

Việc xây dựng tiêu chí để phân định và nhận dạng trí thức trong giai đoạn hiện nay phải dựa vào những khái niệm nền tảng như tri thức, quản trị tri thức, kinh tế tri thức. Việc định nghĩa và phân loại trí thức phụ thuộc rất nhiều vào mục đích phân loại để làm gì?”. Về phương diện chính trị, những người làm cách mạng cần định nghĩa và phân loại để xây dựng liên minh giai cấp nhằm xây dựng các thể chế khác nhau. Theo cách đó họ quan niệm những người có học vấn, tư tưởng tiến bộ là trí thức. Nhưng trên phương diện sản xuất kinh doanh, trí thức là những người nào có khả năng tiếp nhận, nắm giữ, sáng tạo và ứng dụng tri thức để tạo ra sản phẩm trí tuệ hay sản phẩm vật chất cụ thể cho xã hội. Ví dụ: Công ty Tâm Việt làm đào tạo và tư vấn, có những em sinh viên năm thứ nhất đã giảng dạy được và tạo ra dịch vụ cho xã hội, thu nhập cho công ty thì là trí thức chứ không nhất thiết em đó phải tốt nghiệp đại học hay cao đẳng.

Theo quan niệm của chúng ta từ trước tới nay, những người tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng mới là trí thức và chính vì quan niệm này nên chúng ta tạo nên một trào lưu học để lấy bằng cấp. Muốn trở thành trí thức thì chúng ta phải cố để lấy một cái bằng đại học dù là chính quy, tại chức hay bằng II… Điều này tạo ra những con người có kinh nghiệm đi thi nhưng lại thiếu tri thức và kỹ năng để làm việc. Họ có kỹ năng giỏi nhất là kỹ năng thi nhưng làm việc thì lại không thể. Một thực tế rất buồn trong giới sử dụng lao động. Họ thử việc nhiều sinh viên xuất sắc, thậm chí là thủ khoa các trường đại học nhưng cuối cùng đành phải ngậm ngùi chia tay vì các em có nhiều thông tin nhưng lại thiếu tri thức và kỹ năng để làm việc cụ thể. Được hỏi cái gì cũng biết nhưng giao việc cụ thể thì lại không làm được. Dù đất nước chúng ta đi xuống, đi ngang hay đi lên, dù kinh tế đất nước suy thoái hay phát triển… thì trong tất cả những giai đoạn ấy đều cần những người làm được việc. Những người không làm được việc thì chẳng có lý do gì tồn tại cả. Đó là một triết lý đơn giản của những người làm sản xuất kinh doanh.

Nếu chúng ta quan niệm và phân loại trí thức theo bằng cấp thì không hợp lý. Hiện nay có nhiều người không bằng cấp gì nhưng lại làm những việc phi thường và tạo ra những kết quả phi thường. Chúng ta có thế lấy một vài ví dụ: Em Trương Ngọc Đại 13 tuổi học sinh lớp 8A trường THCS Ngô Gia Tự, Hà Nội, đã làm ra phần mềm “An toàn khi tham gia giao thông” là cá nhân duy nhất lọt vào vòng chung khảo cuộc thi Trí tuệ Việt Nam 2007. Em đã viết 4 phần mềm, có hơn 40 bằng khen, giấy khen. Vậy thì em Đại có phải là trí thức hay không? Nếu không phải là trí thức thì làm sao em ấy có thể tạo ra được phầm mềm mà các kỹ sư phầm mềm không tạo ra được? Nhưng nếu xét theo bằng cấp thì rõ ràng em ấy mới chỉ học lớp 8 làm gì có bằng đại học, cao đẳng hay tiến sĩ!

Như vậy chúng ta còn có tiêu chí thứ hai, đó là tiêu chí về kỹ năng làm việc. Có những người là thạc sĩ, tiến sĩ, kỹ sư…. được đào tạo rất bài bản, học từ nước ngoài về, nhưng lại không vận hành nổi máy móc, không tạo được sản phẩm trí tuệ hay sản phẩm vật chất phục vụ xã hội. Còn có những người, đặc biệt là các anh chị trong giới doanh nhân, nông dân, công nhân, họ không được học hành chính quy, không bằng cấp nhưng họ là những tấm gương đáng để chúng ta ngưỡng mộ. Người nông dân cũng có thể làm những công việc yêu cầu hàm lương tri thức cao và họ cũng cần phải học hỏi rất nhiều. Vậy vấn đề đặt ra là những tri thức phục vụ trong cuộc sống, trong kinh doanh, nằm trong đầu mỗi con người… được đo lường như thế nào và nên chăng chúng ta có thể định nghĩa và phân loại trí thức dựa trên kỹ năng và khả năng sáng tạo và sử dụng tri thức đó không.

Như vậy: Trí thức là một bộ phận tinh hoa của tất cả các giai tầng xã hội (có thể là doanh nhân, có thể là nông dân, có thể là công nhân…) có khả năng chia sẻ, thu nhận, lưu giữ, lựa chọn, sáng tạo tri thức để đóng góp vào quá trình tạo ra của cải cho xã hội.

Để phân định và nhận dạng trí thức, chúng ta dùng tiêu chí phân loại là khả năng nắm giữ tri thức và vận dụng tri thức vào công việc của anh ta để sản xuất ra những sản phẩm cụ thể.

QUẢN TRỊ TRI THỨC VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC

Giải pháp thứ nhất: Chính sách sử dụng trí thức

Chúng ta có nhiều người tài, người giỏi nhưng không sử dụng, dẫn đến một thực tế là chúng ta trải thảm đỏ mời họ nhưng lại không có chính sách sử dụng hợp lý nên họ lại ra đi. Chúng ta có các chính sách thu hút đầu vào nhưng lại thiếu những cơ chế và cá nhân đủ mạnh để duy trì liên tục. Trong các cơ quan và doanh nghiệp Nhà nước con đường thăng tiến vẫn bị chi phối quá nhiều bởi yếu tố quan hệ, thâm niên công tác mà ít dựa vào tài năng và đóng góp thực sự. Nhiều trí thức rơi vào tình trạng “ngồi chơi xơi nước”, “dao sắc thời gian, cắt gọt tâm hồn”. Nhiều người đầy kỹ năng, đầy nhiệt huyết nhưng không có cơ chế để họ phát huy. Thù lao cũng là điều rất quan trọng cần xem xét. Trước đây văn hóa Đảng ta xây dựng nên là “cống hiến, hi sinh”, chúng ta huy động cả đất nước lao ra mặt trận, mỗi người làm việc gấp 2 gấp 3. Nhưng bây giờ thế giới thay đổi, thời kỳ chiến tranh không còn mà thay vào đó là thời kỳ xây dựng đất nước. Chính vì vậy văn hóa cũng phải thay đổi cho phù hợp. Người ta không thể cống hiến hết mình trong khi bụng đói, nhu cầu cơ bản không được đảm bảo. Người ta không thể chuyên tâm nếu như lương không đủ trang trải cho cuộc sống hàng ngày của họ. Chúng ta cần xây dựng lại chính sách thu hút, sử dụng, đánh giá và đãi ngộ trí thức theo hướng thực tế hơn và biến nó thành hiện thực chứ không chỉ nằm trên giấy tờ. Giải pháp thứ hai: Triển khai chương trình quốc gia về quản trị tri thức

Để trí thức phát huy sức mạnh và vai trò của mình thì cần có môi trường. Quản trị tri thức là một lĩnh vực mà thế giới đã nhắc đến cách đây chục năm nhưng lại là một lĩnh vực còn mới mẻ đối với Việt Nam. Khi bắt tay vào nghiên cứu thì chúng ta chỉ có thể học được từ nước ngoài như ở Malaysia và Mỹ… Nếu tìm khắp Việt Nam thì sẽ tìm ra được một người nghiên cứu về Quản trị tri thức là Gs. Hồ Tú Bảo nhưng ông lại đang dạy ở một trường đại học ở Tokyo. Như vậy chúng ta vẫn chưa thực sự tiếp cận và quan tâm đúng mức đến việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng quản trị tri thức vào cuộc sống. Quản trị tri thức giúp chúng ta chia sẻ, đánh giá, lưu giữ, sáng tạo và phát triển tri thức. Nó tạo ra môi trường để bẩt cứ cá nhân nào cũng có thể tiếp nhận, nắm giữ, chia sẻ, sáng tạo và ứng dụng tri thức để chúng ta trở thành những con người trí thức có thể vận hành công việc ở các vị trí cụ thể. Quản trị tri thức cũng giúp các doanh nghiệp không còn đau đầu về bài toán nhân sự như hiện nay và những vấn đề như một người nắm giữ nhiều tri thức của doanh nghiệp và khi đi thì doanh nghiệp rơi vào tình trạng điêu đứng. Hiện nay, các doanh nghiệp lại là người tiên phong nghiên cứu và ứng dụng quản trị tri thức chứ không phải là giới nghiên cứu và hoạch định chính sách.

Để kinh tế có sự dịch chuyển thực sự sang nền kinh tế tri thức, để xây dựng được đội ngũ trí thức mạnh đáp ứng như cầu phát triển, chúng ta cần xây dựng và triển khai một chương trình quốc gia về Quản trị tri thức triển khai rộng rãi trong các cơ quan, doanh nghiệp. Có như vậy chúng ta mới thực sự tăng hàm lượng tri thức trong sản phẩm, dịch vụ, trong GDP. Chúng ta không phải xuất khẩu nguyên liệu thô nữa mà huy động được trí tuệ tập thể từ công nhân viên cho đến lãnh đạo. Để triển khai việc này, Đảng và Chính phủ phải có quan tâm đầu tư và giao cho các bộ, ngành, viện nghiên cứu để nghiên cứu về vấn đề này. Giao cho Hội các nhà Doanh nghiệp trẻ Việt Nam và Hội tri thức trẻ Việt Nam làm lực lượng nòng cốt để triển khai. Chỉ có giới trẻ mới là lực lượng tiên phong, dám nghĩ, dám làm thì chúng ta mới làm được. Nếu chúng ta cứ làm theo cách cũ thì chắc chắn chúng ta không nhận được kết quả như cũ vì thế giới thay đổi quá nhanh nên bắt buộc chúng ta thay đổi tư duy và thay đổi cách làm.

KẾT LUẬN

Như vậy, trí thức là một bộ phận tinh hoa của tất cả các giai tầng xã hội (có thể là doanh nhân, có thể là nông dân, có thể là công nhân…) có khả năng chia sẻ, thu nhận, lưu giữ, lựa chọn, sáng tạo tri thức để đóng góp vào quá trình tạo ra của cải cho xã hội.

Để “xây dựng đội ngũ trí thức trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế”, chúng ta phải thức hiện đồng bộ các giải pháp trong đó ưu tiên hàng đầu là:

Thứ nhất, chúng ta cần xây dựng lại chính sách thu hút, sử dụng, đánh giá và đãi ngộ trí thức theo hướng thực tế hơn và biến nó thành hiện thực chứ không chỉ nằm trên giấy tờ.

Thứ hai, xây dựng và triển khai một chương trình quốc gia về Quản trị tri thức triển khai rộng rãi trong các cơ quan, doanh nghiệp.

Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể huy động được sức mạnh và phát huy vai trò đội ngũ trí thức đáp ứng nhu cầu giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế./

Nguyễn Vinh (theo TVGroup)

Thông tin khác:

Thêm ý kiến

Đôi Nét Về Giá Trị Nhân Văn Tôn Giáo / 2023

Vận dụng quan điểm Mác xít, các nhà nghiên cứu Viện Lịch sử kinh điển ở Laixích (Đức) đã nêu định nghĩa về giá trị như sau: “Giá trị giống như là điểm tích tụ về tư tưởng của một giai cấp hoặc của một chế độ xã hội nhất định. Điều đó có nghĩa là, giá trị thể hiện một cách lịch sử cụ thể các mục tiêu, quy tắc, lý tưởng về lợi ích xã hội, các yêu cầu của một chế độ xã hội và của mỗi giai cấp nhất định. Do đó, trong nhiều trường hợp, giá trị là định hướng phát triển cơ bản của đời sống tinh thần nhân loại trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định” [3].

Theo định nghĩa trên thì giá trị và hệ tư tưởng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hệ tư tưởng là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó đồng thời cũng là yếu tố chủ đạo trong bảng thang giá trị của xã hội.

Nhìn chung, nhiều người thừa nhận rằng: giá trị hay giá trị tinh thần là cái dùng để chỉ các phẩm chất cao quý, là cái có ý nghĩa, được đa số người trong xã hội ao ước và cũng chia sẻ. Giá trị được cộng đồng xã hội chấp nhận và tự nguyện thực thi dựa trên sự lựa chọn và đánh giá của đa số thành viên trong cộng đồng ấy về những cái mà họ khao khát, như cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái có ích, cái trác việt…, và ngược lại là những cái họ không chờ đợi, không mong muốn, như cái sai, cái không tốt, cái xấu, cái có hại, cái tầm thường…, được xem là những phản giá trị. Vì thế, giá trị, về nguyên tắc là cái mang tính xã hội.

Giá trị là hạt nhân tinh thần liên kết cộng đồng, nó biểu hiện giống như chuẩn mực định hướng cho các thành viên trong cộng đồng thống nhất hành động. Như vậy, giá trị có khả năng điều tiết hành động của mọi người, hướng vào mục tiêu chung của toàn xã hội.

Để tồn tại và phát triển, mỗi cộng đồng xã hội phải thực hiện đồng thời nhiều hoạt động xã hội như: hoạt động giáo dục, hoạt động kinh tế, hoạt động chính trị… Tương ứng với mỗi lĩnh vực hoạt động xã hội có một dạng giá trị. Vì vậy, ở xã hội nào cũng hình thành một tổ hợp giá trị, các nhà Xã hội học gọi đó là bảng, hoặc hệ giá trị của xã hội.

Các thành tố của hệ giá trị cố nhiên là không ngang bằng nhau về giá trị, tức là giữa chúng có cái chính, cái phụ và cái phái sinh. Tùy theo các điều kiện xã hội – lịch sử mà mỗi cộng đồng người có thể chọn một giá trị nào đó làm định hướng. Giá trị định hướng chính là giá trị trụ cột, đóng vai trò tổ chức, chi phối đối với các giá trị khác trong hệ thống, thu hút chúng hướng vào các mục tiêu, dự án chung mà cộng đồng người đang theo đuổi [3].

Như vậy, giá trị là một khái niệm mang tính lịch sử. Nó tương đối ổn định nhưng không phải là vĩnh cửu. Giá trị mang tính xã hội, gắn bó chặt chẽ với chủ thể sinh ra nó. Với mỗi cộng đồng xã hội khác nhau sẽ có những giá trị, hệ giá trị khác nhau. Mỗi lĩnh vực hoạt động xã hội sẽ tạo ra các giá trị, hệ giá trị thuộc các thể chế khác nhau, trong đó có giá trị được sinh ra trong lĩnh vực hoạt động tôn giáo.

Theo các học giả Trung Quốc, từ “nhân văn” 人文, được đề cập sớm nhất trong Kinh Dịch, trong đó chữ “nhân văn” được đứng kế chữ “thiên văn” 天文, (những nguyên lý trong trời đất) hay thiên nhiên; thánh nhân khảo sát “những nguyên lý của trời đất” và do đó thấy được sự biến dịch trong thời gian; khảo sát “nhân văn” hay” những nguyên lý nơi con người” và từ đó học cách chế ngự thế gian bằng văn hóa [4].

Trong cuốn Hán Việt tự điển của tác giả Thiều Chửu, giải thích Nhân 人 là con người, là loài có trí khôn và thông minh nhất trong các loài động vật; Văn 文 là văn vẻ; văn từ; cái dấu vết do đạo đức, lễ nhạc giáo hóa mà có vẻ đẹp đẽ rõ rệt gọi là “văn”, như văn minh, văn hóa; người nào có vẻ hòa nhã, lễ độ gọi là văn, như phong văn, tư văn… [5]. Khi ghép 2 từ này lại với nhau ta có thuật ngữ “nhân văn”. Theo đó, nhân văn, hay tính nhân văn là phẩm chất tốt đẹp, đạo đức, sáng tạo của con người. Tính nhân văn được thể hiện trong những lĩnh vực như lịch sử, văn hóa, triết học, tâm lý học, mỹ học. . . Chủ thuyết nhân văn: bao gồm tất cả những cố gắng, tư tưởng và trào lưu lấy con người làm trung tâm để thực hiện các mục tiêu vì sự tự do giải phóng con người, đề cao vẻ đẹp của con người, xuất phát từ sự tôn trọng giá trị con người, tin vào sức sáng tạo vô biên của con người, yêu con người và cuộc sống trần gian. Chủ trương phát triển mọi khả năng con người và xã hội.

Giá trị nhân văn là giá trị thể hiện những ý nghĩa vì con người, tôn trọng con người, giải phóng con người, phát triển và hoàn thiện con người. Hay nói cách khác, giá trị nhân văn thể hiện tư tưởng, chủ thuyết đặt con người vào vị trí trung tâm của tiến trình xã hội và hoạt động xã hội. Lấy con người làm chủ thể, làm động lực, làm mục tiêu của sự phát triển và tiến bộ xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh tinh thần giải phóng con người như là mục đích tối thượng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Người khẳng định: “Bản chất của chủ nghĩa xã hội ưu việt ở chỗ “không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa” và “Chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình” [6, tr. 610].

Tóm lại, giá trị nhân văn là giá trị vì con người, lấy con người làm trung tâm để hướng tới giải phóng, phát triển và hoàn thiện con người. Các lĩnh vực hoạt động xã hội đều hướng tới các giá trị vì con người. Khi đó giá trị nhân văn được đề cập gắn với một lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thể. Trong đó có giá trị nhân văn tôn giáo.

3. Giá trị nhân văn tôn giáo

Giá trị nhân văn tôn giáo là giá trị nhân văn được thể hiện dưới nhân sinh quan và thế giới quan của các tôn giáo.

Nếu quy chiếu nội hàm của khái niệm giá trị nhân văn vừa nêu trên vào tôn chỉ, mục đích, kinh điển, giáo lý của các tôn giáo thì chúng ta sẽ thấy rất rõ rằng các tôn giáo được sinh ra, hành đạo và phát triển với mục đích không gì khác hơn là đáp ứng những tiêu chuẩn của giá trị nhân văn như: Vì con người, yêu thương, bao dung con người, khẳng định những giá trị tốt đẹp do con người xây dựng và hướng tới; giải thoát con người khỏi khổ đau, kìm kẹp, áp bức về vật chất, tinh thần; xây dựng một xã hội an lạc, toàn thiện và hạnh phúc.

Chúng ta có thể dễ dàng đưa ra những ví dụ từ kinh điển của một số tôn giáo lớn để minh chứng cho điều này.

Trong Đạo Lão, Lão Tử chú trọng cách xử thế vô tư, bao dung với mọi người: Thánh nhân vô thường tâm, dĩ bách tính tâm vi tâm. Thiện giả ngô thiện chi, bất thiện giả ngô diệc thiện chi, đức thiện. Tín giả ngô tín chi, bất tín giả ngô diệc tín chi, đức tín (Nghĩa là: Thánh nhân không có thành kiến, lấy lòng thiên hạ làm lòng mình. Thánh nhân tốt với người tốt, tốt cả với người không tốt, nhờ vậy mà mọi người đều hóa ra tốt; tin người đáng tin mà tin cả những người không đáng tin, nhờ vậy mà mọi người đều hóa ra đáng tin) [9].

Trong kinh Pháp Cú, đức Phật có dạy: “Chấm dứt các việc ác. Thực hiện những hạnh lành. Giữ tâm ý trong sạch. Đó là lời Phật dạy”. Hay khi nhắc đến sự đản sinh của đức Phật Thích Ca, đạo Phật thường nhắc đến tuyên ngôn bất hủ của đức Thế Tôn Thích Ca: “Thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn”. Nếu hiểu đó là câu nói tự tôn của Ngài thì thật là sai lầm. Cái “ngã” ở đây chính là “con người lớn” mà đức Lão Tử đã đề cập. Đó là con người đang mang cái Đạo nội tại, là bất cứ ai làm người đều là một chủ thể đáng được đề cao, suy tôn; là đối tượng cần phải chú trọng phát huy bản thể tức là khả năng tự tiến hóa và tác động vào cuộc tiến hóa của mọi người. Nói cách khác, “duy ngã độc tôn” là đầu mối duy nhất để tạo ra chân lý tự do tự chủ của con người trong trời đất. Chỉ với một câu nói đó cũng đủ xác định giá trị nhân văn của Phật giáo [10].

Đạo Khổng (hay còn gọi là Nho giáo), tính nhân văn được biểu hiện rõ nét hơn cả, đạo Khổng khiến chúng ta có cảm nhận rất gần gũi với con người trong đời sống thực tiễn. Rốt ráo nhất là lý luận về đức Nhân 仁 trong sách Luận Ngữ với các quan điểm: “Nhân giả an nhân, trí giả lợi nhân” (Người có đức nhân vui lòng làm điều nhân, người thông minh sáng suốt biết rằng đức nhân có lợi cho mình và cho người nên làm điều nhân); hoặc: “Chí sĩ nhân nhân, vô cầu sinh dĩ hại nhân, hữu sát thân dĩ thành nhân.” (Kẻ sĩ có chí và người có đức nhân không cầu sống mà làm hại điều nhân, mà có khi hi sinh tính mạng để làm điều nhân); hoặc “nhân giả ái nhân” (Kẻ có lòng nhân thì yêu thương con người); hay: “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Điều gì mình không mong muốn thì đừng áp đặt cho người khác) [11].

Nghiên cứu học thuyết nhân văn Nho giáo cổ điển, giáo sư Đỗ Duy Minh đại học Haward viết: “. . . Khổng Tử tìm thấy Đạo trong các tiềm năng nội tại của con người được định nghĩa từ góc độ vũ trụ nhân sinh luận… Sự tập trung vào tính chất quan trong hàng đầu và tính đa diện phong phú của khái niệm NHÂN 仁 trong Luận Ngữ là một biến cố vĩ đại trong vũ trụ biểu tượng của tư duy Trung Quốc thời cổ ( . . .). Niềm tin của Khổng Tử vào khả năng hoàn thiện trong bản tính nhân loại thông qua sự tự nỗ lực, như một câu trả lời cho những khuynh hướng phi nhân trong thời đại lịch sử đang bủa vây ông. Niềm tin đó hướng dẫn toàn bộ năng lực của ông vào việc chuyển hóa thế giới nhân loại từ bên trong. Thái độ tập trung này đặt căn bản trên niềm xác tín rằng giá trị tối hậu của tồn tại nhân sinh nằm kề sát bên cạnh con người và ước muốn đạt đến nhân tính sẽ dẫn đến sức mạnh cần thiết cho việc hiện thực hóa” [12].

Đạo Thiên chúa mặc dù khác hơn Nho, Thích, Lão (mà giáo thuyết được đánh giá là những học thuyết triết học hơn là tôn giáo độc thần hay đa thần), đạo Thiên Chúa vẫn có tính nhân văn rất sâu sắc: đề cao con người vì con người và Chúa là một, con người là phản ảnh của Thiên Chúa. Thánh Paul đã viết: “Anh em chẳng biết thân xác anh em là đền thờ Chúa Thánh Linh, đấng ngự trong anh em sao?” Thánh Augustine viết trong tập Tự Thú: “Con đã tìm Chúa ở ngoài con, nên đã không gặp Chúa của lòng con”. Thánh Máthêu chép lại lời Chúa: “Thương xót. Không chỉ là làm phúc bố thí mà còn chỉ về sự hiểu biết những thiết sót của người, để ý giúp đỡ họ vượt qua những khó khăn và yêu họ bất kể những thiết sót của họ. Thương xót cũng có nghĩa là cùng vui khổ với người khác” [13].

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng khẳng định, trong bản chất, lý tưởng của những tôn giáo chân chính chứa đựng những giá trị nhân đạo, nhân văn cao cả. Người thừa nhận: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: đạo đức là nhân nghĩa” [14, tr. 225].

Như vậy, dù tồn tại dưới hình thái nào thì văn hóa tôn giáo cũng có phương tiện thể hiện như là sự “nhân hóa” tự nhiên và nhân đạo hóa xã hội. Nó thể hiện vẻ đẹp nhân tính cũng như khát khao vươn tới cái toàn thiện, hoàn mỹ của con người. Hay nói cách khác, văn hóa tôn giáo luôn thể hiện bản chất nhân đạo, nhân văn của văn hóa.

Những giá trị văn hóa tôn giáo dù rất phong phú, đa dạng, nhưng chúng đều có cùng tính chất, đó là đều thể hiện nội dung của ý thức tôn giáo. Nội dung giá trị văn hóa tôn giáo, mà cụ thể ở đây là giá trị nhân văn tôn giáo, được quy định bởi ý thức tôn giáo và đóng vai trò như phương tiện chuyển tải đức tin tôn giáo [15].

Có một điều quan trọng chúng ta cần phân biệt là: Giá trị nhân văn của các tôn giáo khác hơn chủ nghĩa nhân văn theo nghĩa triết học. Vì chủ nghĩa nhân văn đề cao con người đến mức phủ nhận Thượng Đế hay Tuyệt đối thể của vũ trụ. Còn các tôn giáo chủ trương phát huy giá trị nhân văn từ cá thể đến toàn thể đến mức hiệp nhất với Phật tính, Thượng Đế hay Bản thể vũ trụ để thúc đẩy con đường tiến hóa của chúng sinh đến tuyệt đích [12].

Như vậy, chúng ta có thể thấy, dù biểu hiện cụ thể ở những hình thức nào thì tôn giáo vẫn mang trong nó những giá trị nhân văn cao cả. Đó là lý tưởng để hiện thực hóa các mục tiêu: Vì con người, yêu thương, bao dung con người, khẳng định những giá trị tốt đẹp do con người xây dựng và hướng tới; giải thoát con người khỏi khổ đau, kìm kẹp, áp bức về vật chất, tinh thần; xây dựng một xã hội an lạc, toàn thiện và hạnh phúc. Giá trị nhân văn tôn giáo đó đã góp phần làm nên bản sắc văn hóa của dân tộc, và sẽ tiếp túc góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Yên Sơn Lê Trung Kiên Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 4/2015 –

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo.

3. Viện Văn hóa và Phát triển (2006), Giáo trình Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội. 116

4. Sào Nam Phan Bội Châu (1969), Chu Dịch, Nhà sách Khai Trí xuất bản, Sài Gòn.

5. Thiều Chửu (2002), Hán Việt tự điển, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

6. Hồ Chí Minh (2013), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 11, tr. 610.

7. Đảng cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

8. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9. Nguyễn Hiến Lê (2003), Đạo gia và Đạo giáo, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.

10. Thích Đức Nhuận (1971), Phật học tinh hoa – Một tổng hợp đạo lý, Đại học Vạn Hạnh xuất bản, Sài Gòn.

11. Chu Hy (1998), Tứ Thư tập chú, người dịch Nguyễn Hữu Lân, NXB VHTT, Hà Nội.

12. Ban Biên tập Trang Website Đạo Cao Đài, Giá trị nhân văn của các đạo giáo, tại trang http://www.nhipcaugiaoly.com/, [truy cập ngày 11/11/2014].

13. Linh mục Giuse Phạm Văn Tuynh (2008), Theo Chúa Kitô, NXB Tôn giáo, Hà Nội.

14. Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, 6, tr. 225.

15. Lê Văn Lợi (2012), Văn hóa tôn giáo trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị – Hành chính, Hà Nội.

NCPH

Cập nhật thông tin chi tiết về Đôi Nét Về Khái Niệm Tri Thức Bản Địa / 2023 trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!