Xu Hướng 3/2024 # Độ Lệch Tối Đa So Với Định Luật Raoult Được Quan Sát Ở Thành Phần Nào? # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Độ Lệch Tối Đa So Với Định Luật Raoult Được Quan Sát Ở Thành Phần Nào? được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Định luật Raoult phát biểu rằng trong một dung dịch nhị phân lý tưởng gồm hai thành phần dễ bay hơi, áp suất hơi riêng phần của mỗi thành phần tỷ lệ với phần mol của nó trong dung dịch.

Biểu đồ của tổng áp suất đến phần mol của một trong các thành phần cho:

Nếu A và B tạo thành một nghiệm không lý tưởng với độ lệch dương thì đồ thị sau được quan sát:

Độ lệch (chênh lệch áp suất toàn phần) lớn nhất tại thành phần nào?

Tôi đoán rằng độ lệch tối đa được quan sát thấy khi phần mol của cả hai thành phần đều bằng nhau.

Lý do của tôi là sự sai lệch được quan sát thấy vì thực tế là tương tác giữa các hạt AA và BB không bằng tương tác giữa các hạt AB. Khi lượng của cả hai thành phần bằng nhau thì AB tương tác cực đại. Do đó, độ lệch phải là tối đa.

Suy luận này có đúng không?

Định Luật Henry: Phương Trình, Độ Lệch, Ứng Dụng

Định luật Henry nói rằng ở nhiệt độ không đổi, lượng khí hòa tan trong chất lỏng tỷ lệ thuận với áp suất riêng phần của nó trên bề mặt chất lỏng.

Nó được đưa ra vào năm 1803 bởi nhà vật lý và hóa học người Anh William Henry. Định luật của nó cũng có thể được giải thích theo cách này: nếu áp lực lên chất lỏng càng tăng thì lượng khí hòa tan trong nó càng lớn.

Ở đây khí được coi là chất tan của dung dịch. Không giống như chất tan rắn, nhiệt độ có ảnh hưởng tiêu cực đến độ hòa tan của nó. Do đó, khi nhiệt độ tăng, khí có xu hướng thoát ra khỏi chất lỏng dễ dàng hơn về phía bề mặt.

Điều này là do sự gia tăng nhiệt độ cung cấp năng lượng cho các phân tử khí, chúng va chạm với nhau tạo thành bong bóng (hình trên cùng). Sau đó, những bong bóng này vượt qua áp lực bên ngoài và thoát khỏi sin lỏng.

Nếu áp suất bên ngoài rất cao và chất lỏng vẫn mát, các bong bóng sẽ được hòa tan và chỉ một vài phân tử khí sẽ “ám ảnh” bề mặt.

Phương trình luật của Henry

Nó có thể được biểu thị bằng phương trình sau:

Trong đó P là áp suất riêng phần của khí hòa tan; C là nồng độ của khí; và K H là hằng số của Henry.

Cần phải hiểu rằng áp suất riêng phần của một chất khí là riêng lẻ tạo ra một loại phần còn lại của tổng hỗn hợp khí. Và tổng áp lực không lớn hơn tổng áp lực từng phần (Luật Dalton):

Số lượng các loài khí tạo nên hỗn hợp được đại diện bởi n . Ví dụ, nếu trên bề mặt chất lỏng có hơi nước và CO 2, n bằng 2.

Độ lệch

Đối với các chất khí hòa tan kém trong chất lỏng, giải pháp gần đúng theo lý thuyết của Henry về chất tan.

Tuy nhiên, khi áp suất cao, sự sai lệch so với Henry xảy ra, bởi vì giải pháp ngừng hành xử như một sự pha loãng lý tưởng.

Nó có nghĩa là gì? Rằng các tương tác chất tan – chất tan và chất tan – dung môi bắt đầu có tác dụng riêng. Khi dung dịch được pha loãng, các phân tử khí được “độc quyền” bao quanh bởi dung môi, coi thường những cuộc gặp gỡ có thể xảy ra giữa chúng.

Do đó, khi giải pháp không còn lý tưởng, sự mất hành vi tuyến tính được quan sát trong biểu đồ P i vs X i .

Để kết luận về khía cạnh này: định luật Henry xác định áp suất hơi của chất tan trong dung dịch loãng lý tưởng. Trong khi đối với dung môi, luật của Raoult áp dụng:

Độ hòa tan của chất khí trong chất lỏng

Khi một chất khí được hòa tan tốt trong một chất lỏng, như đường trong nước, nó không thể được phân biệt với môi trường, do đó tạo thành một dung dịch đồng nhất. Nói cách khác: không quan sát thấy bong bóng trong chất lỏng (hoặc tinh thể đường).

Tuy nhiên, sự hòa tan hiệu quả của các phân tử khí phụ thuộc vào một số biến số như: nhiệt độ của chất lỏng, áp suất ảnh hưởng đến nó và bản chất hóa học của các phân tử này so với các chất lỏng.

Nếu áp suất bên ngoài rất cao, khả năng khí xâm nhập vào bề mặt chất lỏng tăng lên. Và mặt khác, các phân tử khí hòa tan khó khăn hơn để vượt qua áp lực sự cố để thoát ra bên ngoài.

Nếu hệ thống khí lỏng bị khuấy trộn (như xảy ra ở biển và trong các máy bơm không khí bên trong bể), việc hấp thụ khí được ưa chuộng.

Và, bản chất của dung môi ảnh hưởng đến sự hấp thụ của khí như thế nào? Nếu nó là cực, giống như nước, nó sẽ thể hiện ái lực đối với các chất tan cực, nghĩa là đối với những khí có thời điểm lưỡng cực vĩnh viễn. Trong khi nếu nó không phân cực, chẳng hạn như hydrocarbon hoặc chất béo, nó sẽ thích các phân tử khí cực

Ví dụ, amoniac (NH 3 ) là một loại khí rất dễ hòa tan trong nước do tương tác bởi các liên kết hydro. Trong khi hydro (H 2 ), có phân tử nhỏ là cực, tương tác yếu với nước.

Ngoài ra, tùy thuộc vào trạng thái của quá trình hấp thụ khí trong chất lỏng, các trạng thái sau có thể được thiết lập trong chúng:

Chưa bão hòa

Chất lỏng không bão hòa khi có thể hòa tan nhiều khí hơn. Điều này là do áp suất bên ngoài lớn hơn áp suất bên trong của chất lỏng.

Bão hòa

Chất lỏng thiết lập sự cân bằng trong độ hòa tan của khí, có nghĩa là khí thoát ra ở cùng tốc độ mà nó đi vào chất lỏng.

Nó cũng có thể được nhìn thấy như sau: nếu ba phân tử khí thoát ra không khí, ba người khác sẽ trở lại chất lỏng cùng một lúc.

Quá bão hòa

Chất lỏng được siêu bão hòa với khí khi áp suất bên trong của nó cao hơn áp suất bên ngoài. Và, trước một sự thay đổi tối thiểu trong hệ thống, nó sẽ giải phóng khí hòa tan dư thừa cho đến khi cân bằng được phục hồi.

Ứng dụng

– Định luật Henry có thể được áp dụng để tính toán sự hấp thụ khí trơ (nitơ, heli, argon, v.v.) trong các mô khác nhau của cơ thể người và cùng với lý thuyết của Haldane là cơ sở của các bảng giải nén.

– Một ứng dụng quan trọng là độ bão hòa khí trong máu. Khi máu không bão hòa, khí sẽ hòa tan trong đó, cho đến khi nó bão hòa và ngừng hòa tan hơn. Một khi điều này xảy ra, khí hòa tan trong máu đi vào không khí.

– Việc khí hóa nước ngọt là một ví dụ về luật của Henry được áp dụng. Nước giải khát đã hòa tan CO 2 dưới áp lực cao, do đó duy trì từng thành phần kết hợp tạo nên nó; và ngoài ra, nó giữ được hương vị đặc trưng lâu hơn nhiều.

Khi chai soda được mở ra, áp lực lên chất lỏng giảm, giải phóng áp lực ngay lập tức.

Bởi vì áp lực lên chất lỏng bây giờ thấp hơn, độ hòa tan của CO 2 giảm xuống và thoát ra môi trường (nó có thể được nhận thấy trong sự gia tăng của bong bóng từ đáy).

– Khi một thợ lặn xuống độ sâu lớn hơn, nitơ hít vào không thể thoát ra vì áp lực bên ngoài ngăn cản nó, hòa tan trong máu của từng cá nhân.

Khi thợ lặn nhanh chóng nổi lên bề mặt, nơi áp suất bên ngoài trở nên ít hơn, nitơ bắt đầu nổi lên trong máu.

Điều này gây ra những gì được gọi là khó chịu giải nén. Chính vì lý do này mà các thợ lặn bắt buộc phải bay lên từ từ, để nitơ thoát ra khỏi máu chậm hơn.

– Nghiên cứu và cải tiến các phương pháp được sử dụng để tránh các thảm họa tự nhiên có thể gây ra bởi sự hiện diện của khí hòa tan trong các khối nước khổng lồ có thể được giải phóng một cách dữ dội.

Ví dụ

– Trong dung dịch oxy (O 2 ) trong dịch máu, phân tử này được coi là hòa tan kém trong nước, mặc dù độ hòa tan của nó tăng lên do hàm lượng hemoglobin cao trong đó. Do đó, mỗi phân tử hemoglobin có thể liên kết với bốn phân tử oxy được giải phóng trong các mô sẽ được sử dụng trong quá trình trao đổi chất.

– Năm 1986, có một đám mây carbon dioxide dày đặc đột nhiên bị trục xuất khỏi hồ Nyos (nằm ở Cameroon), làm nghẹt thở khoảng 1700 người và một số lượng lớn động vật, được giải thích theo luật này.

– Độ hòa tan mà một loại khí nhất định biểu hiện ở một loài chất lỏng thường tăng khi áp suất khí tăng, mặc dù ở áp suất cao có một số ngoại lệ nhất định, chẳng hạn như các phân tử nitơ (N 2 ).

– Định luật Henry không được áp dụng khi có phản ứng hóa học giữa chất hoạt động như chất tan và chất hoạt động như dung môi; Đó là trường hợp điện giải, chẳng hạn như axit hydrochloric (HCl).

Hạn Mức Cho Vay Tối Đa Là Gì? Được Xác Định Trên Cơ Sở Nào?

Hạn mức cho vay hay còn gọi là hạn mức tín dụng của mỗi ngân hàng sẽ là khác nhau. Tùy vào các điều kiện vay cũng như yêu cầu thực tế mà các nhà băng sẽ đưa ra các hạn mức cho vay phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Và đây cũng được xem là giới hạn cho vay cao nhất của các hợp đồng tín dụng.

Hạn mức cho vay là gì?

Hạn mức cho vay là giới hạn cho vay cao nhất trong các hoạt động tín dụng, số dư nợ vay hay số dư nợ tối đa tại một thời điểm nhất định. Và hiện nay chúng ta thường bắt gặp hai loại hạn mức cho vay tối đa trung hoặc ngắn hạn do các đối tượng sau quy định:

Hạn mức cho vay do quy định của pháp luật.

Hạn mức cho vay do ngân hàng, công ty tài chính quy định dưới sự nhất trí của bên cho vay và bên được vay.

Tại thời điểm hiện tại, có nhiều ngân hàng và các công ty tài chính áp dụng các khoản vay theo hạn mức tín dụng. Đó là việc các tổ chức tài chính cấp một khoản tiền vay với hạn mức không quá số dư nợ hoặc giá trị của các tài sản đảm bảo nếu đó là hình thức vay thế chấp.

Ví dụ, hạn mức cho vay của ngân hàng A là 120 triệu đồng một tháng. Sau một thời gian vay bạn trả nợ cho ngân hàng với số tiền là 70.000.000₫ nhưng lại có nhu cầu vay thêm. Khi này ngân hàng sẽ cho phép bạn vay Lần tiếp theo với số tiền là 50.000.000₫. Như vậy số tiền vay lần đầu và lần tiếp theo bằng với hạn mức cho vay mà ngân hàng đặt ra.

Cơ sở xác định hạn mức cho vay tối đa

Mỗi hình thức vay vốn khác nhau và môn địa chỉ vay vốn khác nhau lại có các hạn mức cho vay khác nhau. Số tiền đó có thể là rất nhỏ nhưng cũng có thể là rất lớn tùy theo điều kiện vay của khách hàng. Trong đó các tổ chức tài chính sẽ tính hạn mức cho vay tối thiểu và tối đa theo công thức sau:

Trong đó: Nhu cầu vốn lưu động = giá trị tài sản lưu động – nợ ngắn hạn phi ngân hàng – Nợ dài hạn có thể sử dụng

Công thức này có vẻ khó hiểu đối với những người không hoạt động trong lĩnh lực tài chính. Tuy nhiên, nếu muốn hiểu đơn giản hơn thì chúng ta có thể biết rằng hạn mức cho vay tối đa được ngân hàng đưa ra dựa theo khả năng tài chính của người vay và thời hạn của các hợp đồng vay.

Và thông thường, các hợp đồng vay có hạn mức đang được nhiều người lựa chọn bởi nó có thể giúp người có nhu cầu vay tiếp cận với nguồn vốn chính thống một cách dễ dàng hơn. Độ an toàn của các gói vay có hạn mức là khá cao cộng thêm và đó là số tiền vay khá linh động có thể là món vay nhỏ hoặc lớn tùy theo.

Ưu điểm khi vay tiền theo hạn mức

Theo các chuyên gia tài chính và những người đã từng tham gia các gói vay theo hạn mức thì việc vay tiền theo hạn mức tín dụng thường đem lại một số những lợi ích sau:

Lập hồ sơ một lần và và sử dụng trong nhiều lần vay

Các cá nhân và tổ chức có nhu cầu vay vốn chỉ cần nộp hồ sơ một lần sau đó các ngân hàng sẽ tiến hành xem xét và cấp hạn mức cho vay cụ thể trong khoảng một thời gian nhất định. Thông thường đó là khoảng 12 tháng. Trong thời gian này bạn có thể tiến hành vay vốn nhiều lần mà không cần phải lập hồ sơ mới.

Phương thức vay vốn theo hạn mức này được xem là phù hợp nhất đối với các doanh nghiệp, công ty có nhu cầu vay vốn thường xuyên và thường xuyên phải luân chuyển vốn. Khách hàng sẽ đồng thời thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tổ chức tài chính mà không hề ảnh hưởng đến hợp đồng vay.

Phương thức vay vốn linh hoạt và đơn giản

Với việc xác định được chính xác hạn mức cho vay khách hàng vay vốn có thể đơn giản hóa các thủ tục đăng ký vay vốn tại các ngân hàng như vừa nêu ở trên. Ngân hàng có thể tham gia kiểm soát nguồn tiền cho vay nhằm đảm bảo khách hàng sử dụng đúng mục đích, không làm vào những việc sai trái pháp luật.

Khách hàng có thể sử dụng vốn với nhiều mục đích khác nhau nhưng sẽ phải gửi các loại giấy tờ chứng từ đến ngân hàng để đối chiếu với mục đích sử dụng vốn vay có ghi hợp đồng vay đã được ký kế trước đó. Nếu sử dụng sai mục đích ngân hàng có thể thu hồi nợ bất cứ lúc nào…

Hạn chế tối đa rủi ro

Với việc đưa ra hạn mức cho vay tối đa có nghĩa là các ngân hàng đã xem xét kỹ lưỡng khả năng trả nợ của khách hàng ở mức độ nào. Chính vì thế, khi vay vốn theo hạn mức tín dụng bạn sẽ tránh tối đa những rủi ro điển hình như tình trạng không trả nổi nợ khiến phải tịch biên tải sản hoặc lãi mẹ đè lãi con…

Tuy nhiên, khách hàng có nhu cầu vay theo hạn mức không nhất thiết phải vay đúng số tiền – hạn mức cho vay mà ngân hàng đưa ra. Số tiền vay có thể là nhỏ hơn hạn mức cho vay tối đa và dĩ nhiên không được quá hạn mức. Bạn có thể thực hiện việc trả nợ và bất cứ thời gian nào nếu có điều kiện.

Ngoài ra, nếu một người nào đó chấp nhận cho bạn vay những khoản tiền lớn mà không cần bất cứ loại giấy tờ nào, không có hợp đồng vay và số lãi lớn bạn cần cẩn thận bởi khi này nguy cơ rất cao là bạn đang sử dụng dịch vụ tín dụng đen. Thông tin chi tiết về hạn mức cho vay tối đa được xác định trên cơ sở nào và các công ty bạn có thể liên hệ với chúng tôi để được tư vấn.

Xe Gắn Máy, Mô Tô Được Chạy Tốc Độ Tối Đa Bao Nhiêu Km/H?

Thông tư số 31/2024/TT-BGTVT quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới vừa được Bộ Giao thông vận tải ban hành, có hiệu lực từ 15-10 tới nhưng nhiều người vẫn còn băn khoăn về tốc độ tối đa được phép của xe máy.

Điều 8 thông tư quy định tốc độ tối đa cho phép đối với xe máy chuyên dùng, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự trên đường bộ (trừ đường cao tốc) là không quá 40km/h. Nhiều người hiểu nhầm rằng quy định trên là áp dụng cho xe máy theo cách hiểu thông thường là xe 2 bánh gắn động cơ đốt trong sử dụng xăng mà đa số người dân sử dụng hiện nay.

Tuy nhiên, theo đại diện Bộ GT-VT, cách hiểu như trên là không chính xác khi gộp chung các loại xe 2 bánh gắn động cơ thành xe máy.

Theo điều 3.40 của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ (QCVN:41/2024/BGTVT – gọi tắt là quy chuẩn 41), xe gắn máy là chỉ phương tiện chạy bằng động cơ, có 2 bánh hoặc 3 bánh và vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50km/h. Nếu dẫn động bằng động cơ nhiệt thì dung tích làm việc hoặc dung tích tương đương không được lớn hơn 50cm 3 (50 phân khối).

Với môtô, điều 3.39 quy định: Môtô (còn gọi là xe máy) là xe cơ giới 2 hoặc 3 bánh và các loại xe tương tự di chuyển bằng động cơ có dung tích xylanh từ 50cm 3 trở lên (trên 50 phân khối), tải trọng bản thân xe không quá 400kg đối với xe máy 2 bánh hoặc khối lượng chuyên chở cho phép xác định theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ 350-500kg đối với xe máy 3 bánh.

Khái niệm này không bao gồm xe gắn máy đã nêu ở trên.

Tốc độ của môtô (xe máy) được thông tư 31/2024/TT-BGTVT quy định như sau: tốc độ tối đa ở đường trong khu vực đông dân cư là 60km/h đối với đường đôi (đường có chiều đi và chiều về được phân biệt bằng dải phân cách giữa), đường 1 chiều có từ 2 làn xe cơ giới trở lên; tối đa 50 km/h với đường 2 chiều (đường có cả 2 chiều đi và về trên cùng một phần đường chạy xe, không được phân biệt bằng giải phân cách giữa), đường 1 chiều có 1 làn xe cơ giới.

Với đường ngoài khu vực đông dân cư, môtô được chạy tốc độ tối đa 70km/h trên đường đôi, đường 1 chiều có từ 2 làn xe cơ giới trở lên; tối đa 60 km/h đối với đường 2 chiều, đường 1 chiều có 1 làn xe cơ giới.

Theo quy định của thông tư 31/2024/TT-BGTVT, đường bộ trong khu vực đông dân cư là đoạn đường bộ nằm trong khu vực nội thành, nội thị xã, nội thị trấn (gọi chung là đường đô thị) và những đoạn đường có đông dân cư sinh sống sát dọc theo đường, có các hoạt động ảnh hưởng đến an toàn giao thông; được xác định bằng biển báo hiệu là đường qua khu đông dân cư.

Về tốc độ xe gắn máy, quyết định số 05/2007/QĐ-BGTVT ban hành tháng 2-2007 quy định: tối đa 40km/h trên đường trong khu vực đông dân cư; tối đa 50km/h với đường ngoài khu vực đông dân cư.

Thông tư 91/2024/TT-BGTVT quy định xe máy chuyên dùng, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự được chạy tốc độ tối đa xác định theo báo hiệu đường bộ và không quá 40km/h.

Thông tư 31/2024/TT-BGTVT được Bộ Giao thông vận tải ban hành ngày 29-8-2024, có hiệu lực từ 15-10 tới, giữ nguyên quy định của thông tư 91/2024/TT-BGTVT.

Theo thông tư 31/2024/TT-BGTVT, cơ quan có thẩm quyền được phép đặt biển báo tốc độ tối đa linh hoạt theo chiều đường, theo từng khung thời gian trên một con đường và có thể cho phép chạy vượt tốc độ tối đa trên từng đoạn đường.

Độ Phân Giải Camera Quan Sát

ĐỘ PHÂN GIẢI CAMERA QUAN SÁT

Chào bạn đọc cũng như quý khách hàng của Sutech. Chắc các bạn không còn quá xa lạ với thuật ngữ “ độ phân giải” đúng không ạ. Vì hằng ngày bạn đều tiếp xúc với nó.

I. Độ phân giải là gì?

Bất kì một màn hình nào cũng được kết cấu từ vô số các điểm ảnh ( hay còn gọi là Pixel ). Chúng được kết theo số hàng ngang và hàng dọc nhất định. Số lượng hàng càng chất lượng hình ảnh sẽ mịn màng hơn.

Máy tính của bạn có độ phân giải 1366 x 768 pixels thì có nghĩa là màn hình máy tính của bạn có 1366 hàng dọc và 768 hàng ngang. Mỗi hàng chứa các pixel, pixel này có 3 màu chính đỏ, xanh lá cây, xanh dương. Và khi đó sẽ có khoảng 1366 * 768 = 1049088 pixel tương đương với 1.05Megapixel ( 1 Megapixel = 1 triệu pixel ).

II. Độ phân giải camera quan sát:

Có thể nói một cách đơn giản nhất về độ phân giải của camera đó là thước đo chất lượng hình ảnh mà camera đó có khả năng thu được. Nếu camera có độ phân giải 2.0MP thì mỗi khung hình nó ghi được sẽ có kich thướt là 1920×1080 pixel ( dài x rộng)

Độ phân giải camera có 2 loại:

1. Độ phân giải TVL:

TVL (television lines) được sử dụng để xác định độ phân giải của camera thường (camera analog). TVL được đo bằng Biểu đồ độ phân giải EIA-1956.

Do sử dụng công nghệ quét ngang sử dụng những đường kẻ thẳng đứng đen, trắng xen kẽ vào nhau và tạo nên một khung hình. TVL xác định bằng tổng số đường thắng đứng mà ta đếm được, cả đen và trắng. Một thiết bị có độ phân giải là 600TVL có nghĩa là có 300 dòng thẳng đứng sáng và 300 dòng thẳng đứng tối.

Chính vì vậy, một camera có độ phân giải TVL càng cao, sẽ có mật độ đường kẻ nhiều hơn, hình ảnh sẽ chi tiết hơn, rõ nét hơn.

2. Độ phân giải Megapixel:

Độ phân giải MP (Megapixel) được sử dụng xác định độ phân giải của camera IP và camera HD, hiện đang rất phổ biến trên thị trường.

Sử dụng công nghệ điểm ảnh, tạo nên khung hình kỹ thuật số, MP được tính bằng tích số điểm ảnh hàng ngang và số điểm ảnh hàng dọc. 1 Pixel = 1 điểm ảnh. 1 megapixel = 1 triệu điểm ảnh.:

Với số điểm ảnh càng cao (độ phân giải camera quan sát càng cao), thì camera sẽ có chất lượng hình ảnh càng rõ nét. Tuy nhiên, độ phân giải càng cao, dung lượng hình ảnh càng lớn, chiếm nhiều băng thông, nếu hệ thống truyền tín hiệu mạng không tốt. Hình ảnh xem quả mạng gặp phải trường hợp bị giật, bị trễ hình. Cho nên bạn phải lưu ý khi lắp đặt camera có độ phân giải cao.

Các chuẩn thường gặp trên camera HD như 720P, 960P và 1080P

– 720P tương đương số điểm ảnh 1280×720(camera 1 chấm)

– 960P tương đương số điểm ảnh 1280×960(camera 1.3 chấm)

– 1080P tương đương số điểm ảnh 1920×1080(camera 2 chấm)

Rất nhiều khách hàng đã hỏi kỹ thuật của công ty mình là “độ phân giải HD là sao em, nó khác gì so với Full HD”. Thì với câu hỏi này kỹ thuật bên mình cũng trả lời cho khách rồi. Tuy nhiên để hiểu rỏ hơn mình xin nói thêm như thế này.

Độ phân giải HD chỉ dùng cho các dòng camera trừ camera Analog . Có nghĩa là camera có độ phân giải từ 1.0 Megapixel trở lên thì được gọi là camera HD hay camera chuẩn HD. Trong thông số kỹ thuật nó được ký hiệu là 720P(1.0MP) ,960P(1,3MP)

Tuy nhiên vào năm 2012 thì tín hiệu HD được tích hợp trong quá trình truyền tín hiệu trên cáp động trục. Cho nên có một tên gọi khác đó là camera Analog HD. (AHD, HDCVI, HDTVI, HDSDI..)

Riêng với dòng camera IP thì độ phân giải từ 1.0 tới 12.0MP. Nhưng nó còn chưa dừng lại. Càng ngày camera quan sát càng cải tiến và mang lại chất lượng hình ảnh trung thực nhất. Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.

Để đảm bảo việc camera xuất ra hình ảnh Full HD mà không tốn dung lượng băng thông. Người ta cho camera xuất ra cổng VGA hoặc HDMI. Hoặc giảm tỷ lệ khung hình Bit Rate xuống mức vừa phải. Mức cao nhất là 25

Độ phân giải 2k: Là một màn hình có kích thước 2560×1440 pixel. Cho số lượng điểm ảnh nhiều hơn so với Full HD. Tuy nhiên việc phân biệt bằng mắt thường giữa Full HD và 2K thì khó có thể nhận ra điểm khác biệt.

Độ phân giải 4K: Có độ phân giải 3840 x 2160 pixel hoặc 4096 x 2160 pixel, cao gấp bốn lần so với độ phân giải có độ nét cao full HD 1080p (1920×1080 pixel). Để trang bị một hệ thống camera quan sát có độ phân giải cao thì bạn cần lưu ý tới băng thông mạng Internet nhà bạn. Mỗi giây camera có độ phân giải cao sẽ cần nhiều dung lượng để lưu trử hình ảnh. Và việc truyền tải qua mạng vô cùng khó khăn bởi dung lượng quá lớn.

Ngoài ra còn có một số thuật ngữ sau đây mình sẽ giải thích cho các bạn rỏ khi nói về độ phân giải Megapixel của camera:

Camera quan sát siêu nét là thuật ngữ dùng để nói về các dòng camera có độ phân giải Full HD trở lên. Tức là từ 2.0MP tới các độ phân giải 2K, 4K…

Thân ái

Nguồn : https://lapdatcameraip.vn

Luật So Sánh Và Việc Dạy Luật So Sánh Ở Việt Nam: Từ Một Quan Điểm Tới Một Quan Điểm

Cũng như ở các nước khác trên thế giới vào khoảng non nửa thế kỷ trước, luật so sánh hiện nay ở Việt Nam đang gây hứng thú rất mạnh cho các luật gia Việt Nam, mà có người còn nhận xét rằng, sức mạnh của sự phấn khích đó không thua kém gì so với sự phấn khích được gây ra bởi nhà nước pháp quyền. Những nhận định này được xem là đúng đắn thông qua bằng chứng về sự nhất loạt đưa môn luật so sánh vào giảng dạy trong các cơ sở đào tạo luật mà trước kia nó chưa từng được nhòm ngó tới trong quá trình ra đời và phát triển của công tác đào tạo pháp lý từ khi thống nhất đất nước.

Ngày nay hầu hết các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực pháp lý đều chú ý tới phương pháp so sánh pháp luật. Và hầu hết các luật và pháp lệnh đều bị đòi hỏi tham khảo kinh nghiệm nước ngoài trong quá trình soạn thảo và thông qua. Tuy nhiên, sự thống nhất trong nhận thức về một số vấn đề cơ bản của luật so sánh và trong việc giảng dạy luật so sánh vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn. Cố nhiên, sự phong phú về các quan điểm khoa học có thể là rất cần thiết, nhưng chúng phải được xây dựng trên một nền tảng nhất định. Sự chập chững trong nghiên cứu luật so sánh không cho phép đưa ra những ý kiến hoàn toàn thuyết phục, song tác giả cũng vẫn rất cố gắng để phác họa nên phần nào cái nền tảng vừa nói. 1. Khái niệm luật so sánh Nói tới luật so sánh, có lẽ chúng ta nên bắt đầu từ một vấn đề lịch sử khi mà trường phái luật tự nhiên xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVII-XVIII. Ngoài sự thành công trong việc phân biệt giữa luật tư và luật công, trường phái này còn có một thành công rất đáng kể nữa là thúc đẩy pháp điển hoá. Nhưng không phải ai cũng cho rằng pháp điển hoá là một giá trị. Nó thường bị coi là thủ phạm gây ra sự chia rẽ pháp luật châu Âu [7, tr.56- 61], có nghĩa là phá vỡ jus commune. Như thế, trào lưu quốc gia hoá tư tưởng pháp luật đã tạo ra hoàn cảnh để luật so sánh phát triển vào cuối thế kỷ XIX và trở thành một môn khoa học pháp lý quan trọng. Cho tới nay nhiều học giả đã cố gắng đi tìm một cách định nghĩa chung về luật so sánh, nhưng chưa hoàn toàn thành công, bởi đối tượng của nó còn bị quan niệm khác nhau. Giáo sư Konrad Zweigert & Giáo sư Hein Koetz cho rằng, luật so sánh là sự so sánh các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, và bản thân thuật ngữ này đã gợi nên một hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực pháp luật mà đối tượng và sự so sánh ở đó là quy trình của hoạt động này [3, tr.6]. Qua đó cho thấy đặc điểm nổi trội của luật so sánh là việc sử dụng phương pháp so sánh, và đối tượng của nó là pháp luật và bản thân phương pháp so sánh. Hai giáo sư còn nhấn mạnh rằng pháp luật nước ngoài là đối tượng chủ yếu của luật so sánh [3, tr.6]. Chẳng thế mà Giáo sư Michael Bogdan đã cố gắng định nghĩa theo kiểu liệt kê rằng: “Luật so sánh bao gồm: So sánh các hệ thống pháp luật khác nhau nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt; Sử dụng những sự tương đồng và khác biệt đã tìm ra nhằm giải thích nguồn gốc, đánh giá cách giải quyết trong các hệ thống pháp luật, phân nhóm các hệ thống pháp luật hoặc tìm ra những vấn đề cốt lõi, cơ bản của các hệ thống pháp luật; và Xử lý những vấn đề mang tính chất phương pháp nảy sinh trong quá trình so sánh luật, bao gồm cả những vấn đề khi nghiên cứu luật nước ngoài” [4, tr.13]. Cách định nghĩa này thực chất là sự mô tả các đối tượng của luật so sánh và nói lên phần nào những mục đích của phương pháp so sánh pháp luật. Dẫu sao ông đã làm bật lên đặc trưng quan trọng của luật so sánh là việc sử dụng phương pháp so sánh như một cách thức chủ yếu để tiếp cận tới các hệ thống pháp luật khác nhau hay pháp luật nước ngoài. Quan niệm về đối tượng của luật so sánh một cách dễ dãi hơn, nhưng cũng lại có phần khắt khe hơn, có tác giả cho rằng, phải gọi môn khoa học pháp lý mang tên “comparative law” hay “droit comparé” là “luật học so sánh”, và định nghĩa: “Luật học so sánh là lý luận, hay là môn khoa học trong các ngành khoa học pháp lý. Mục đích của nó là nghiên cứu và so sánh các văn bản quy phạm pháp luật (tôi nhấn mạnh – Ngô Huy Cương) và hệ thống pháp luật khác nhau với nhau và với các quy phạm của luật quốc tế (tôi nhấn mạnh – Ngô Huy Cương), làm sáng rõ sự giống nhau và khác nhau, xác định khuynh hướng phát triển chung của pháp luật (tôi nhấn mạnh-Ngô Huy Cương)” [6, tr.6]. Tiếp theo định nghĩa này, tác giả của nó còn nhắc nhở rằng: “Không nên đồng nhất các khái niệm “luật học so sánh” và “luật so sánh”, khái niệm thứ nhất, theo nội dung, giàu có và có dung lượng lớn hơn nhiều và có tính chất tổng hợp”. Hơn nữa, tác giả của các quan điểm này nhấn mạnh: phương pháp so sánh không phải là đối tượng của luật học so sánh, và nó chỉ là, không nổi bật, một trong những phương pháp của luật so sánh [6, tr.6-8]. Tác giả của các quan điểm này còn cho rằng: việc so sánh pháp luật theo thời gian, có nghĩa là trong quá khứ, và so sánh pháp luật bên trong của một quốc gia đơn nhất, cả theo thời gian và không gian, đều là đối tượng của luật so sánh [6, tr.57-58]. Trước tiên, người ta có thể nhận xét tổng quát rằng, các quan điểm này đã làm xoá nhoà ranh giới của các bộ môn truyền thống như luật quốc tế, lịch sử pháp luật, hay nói cách khác, không thể nhận biết được luật so sánh là gì. Michael Bogdan nhận xét: bộ môn luật so sánh chỉ nghiên cứu những vấn đề chung có ảnh hưởng tới toàn thể hoặc gần như toàn thể hệ thống pháp luật giống như lịch sử pháp luật, xã hội học pháp luật ; và thuật ngữ luật so sánh có thể gây ra sự hiểu lầm về một ngành luật mới, nhưng thuật ngữ “luật so sánh” đã được hình thành từ rất lâu và được sử dụng hợp pháp trong các tài liệu [4, tr.12]. Trong cuốn sách nổi tiếng của mình về luật so sánh, hai giáo sư danh tiếng hàng đầu thế giới về lĩnh vực này là K.Zweigert và H.Koetz đã phân biệt rất tinh tế giữa luật học so sánh và các bộ môn khác như: xã hội học pháp luật, phong tục học, lịch sử pháp luật, công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế [3, tr.6-12]. Các vấn đề nói trên cho thấy, chúng ta cần phải bàn luận cụ thể về: phương pháp so sánh ; sự phân biệt giữa luật so sánh với lịch sử pháp luật, công pháp quốc tế, tư pháp quốc tế, xã hội học pháp luật và chính trị học so sánh; các đối tượng của luật so sánh, và phương pháp so sánh, để có cơ may có được một định nghĩa có thể phù hợp. Thứ nhất, các học giả trong khi nghiên cứu về lịch sử của luật so sánh đều thống nhất nhận định, phương pháp so sánh đã được sử dụng để tạo ra Bộ luật Mười hai Bảng của người La Mã cổ đại, và cũng được sử dụng trong các công trình của Aristotle (384-322B.C), của Montesquieu (1689-1755) v.v… Cho tới cuối thế kỷ XIX, phương pháp so sánh pháp luật và mục tiêu của sự so sánh mới được nghiên cứu một cách hệ thống làm phát triển một bộ môn khoa học pháp lý mới mang tên “luật so sánh” [7, tr.2]. Ngày nay các nhà luật học so sánh đều thừa nhận rằng, Hội Luật So sánh Quốc tế được thành lập 1896 là một sự kiện quan trọng đánh dấu bước khởi đầu cho việc thừa nhận luật so sánh như một bộ môn khoa học pháp lý độc lập. Các dữ kiện trên minh chứng cho việc xem phương pháp so sánh pháp luật là một đặc trưng nổi trội, đồng thời cũng là một đối tượng quan trọng của luật so sánh hay cái gọi là “luật học so sánh”. Thứ hai, với tính cách là phương pháp của sự lựa chọn, so sánh luôn được sử dụng trong đời sống. Dù không biết đến pháp luật nước ngoài, khi luật gia hay người thường muốn lựa chọn một quy tắc pháp lý phù hợp với một trường hợp cụ thể nào đấy, thì họ cũng sử dụng cách so sánh các chế định hay các quy tắc pháp luật khác nhau của hệ thống pháp luật quốc gia của họ. Điều này bác bỏ quan niệm cho rằng so sánh pháp luật bên trong của một quốc gia đơn nhất là đối tượng của luật so sánh, bởi việc so sánh này không mang lại tri thức gì mới vượt khỏi khuôn khổ của một quốc gia. Ở trên, chúng ta đã thấy chỉ khi trào lưu quốc gia hoá tư tưởng pháp luật xuất hiện, thì luật so sánh mới có điều kiện phát triển, có nghĩa là pháp luật nước ngoài là đối tượng của luật so sánh. Nói cách khác, không có sự xuất hiện của pháp luật nước ngoài trong một công trình nghiên cứu nào đó, thì công trình đó không được coi là công trình so sánh pháp luật hoặc không được coi là sử dụng phương pháp so sánh pháp luật. Thứ ba, tuy có một số công trình nghiên cứu có sử dụng phương pháp so sánh, chẳng hạn so sánh Bộ luật Hình sự 1985 và Bộ luật Hình sự 1999 của Việt Nam, nhưng các công trình đó không được xem là công trình so sánh pháp luật, có nghĩa là so sánh pháp luật về mặt thời gian không được coi là đối tượng của luật so sánh, mà là đối tượng của bộ môn lịch sử pháp luật. Có nhiều quan niệm đơn giản rằng, luật so sánh nghiên cứu các hệ thống pháp luật cùng tồn tại về mặt không gian, còn lịch sử pháp luật nghiên cứu về vấn đề pháp luật nối tiếp nhau về mặt thời gian. Song đó chỉ là những nhận xét có tính chất khái lược. Luật so sánh và lịch sử pháp luật được ví như một cặp bài trùng, luôn luôn cần có nhau và sử dụng lẫn nhau. Trong các công trình lịch sử pháp luật, người ta thường dùng phương pháp so sánh để thấy rõ hơn một vấn đề lịch sử, chẳng hạn Giáo sư Oliver Oldman cho rằng Bộ Quốc triều Hình luật có nhiều tiến bộ có thể so sánh ngang về mặt chức năng với quan điểm pháp luật Phương Tây cận đại. Ở phía kia, luật so sánh cũng luôn luôn cần đến sự phân tích lịch sử để thấy rõ hoàn cảnh xã hội, động lực thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các vấn đề pháp lý. Các đặc điểm riêng biệt của các hệ thống pháp luật chỉ có thể được làm rõ thông qua việc phân tích lịch sử. Tuy nhiên, luật so sánh và lịch sử pháp luật là hai bộ môn riêng biệt mà khó có thể mô tả đầy đủ ranh giới giữa chúng. Nếu xem việc so sánh các vấn đề pháp luật về mặt thời gian là đối tượng của luật so sánh, thì có nghĩa là quan niệm đó đã hợp nhất lịch sử pháp luật và luật so sánh. Thứ tư, các nhà luật học so sánh đều hiểu rằng Ernst Rabel đã khởi xướng phương pháp tiếp cận chức năng trong việc nghiên cứu luật so sánh. Và để thực hiện được phương pháp nghiên cứu này người ta đã đưa ra nhiều điều kiện như: – Điều kiện thứ nhất: Người nghiên cứu phải xuất phát từ bản thân hệ thống pháp luật nước ngoài (mà đang là đối tượng để nghiên cứu); Không bị ảnh hưởng ở những khái niệm hay học thuyết giáo điều của hệ thống pháp luật nước mình; Và phải tập trung vào các chức năng mà các chế định của hệ thống pháp luật đang nghiên cứu, thực hiện ; Nói cách khác, phải phát hiện được các chức năng của các chế định đó và phân tích được các giải pháp để giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh ra các nhu cầu cần điều chỉnh, hơn là tìm đến cấu trúc học thuyết của chúng. – Điều kiện thứ hai: Người nghiên cứu phải chú ý tới tất cả các nguồn của pháp luật theo quan niệm của hệ thống pháp luật đang nghiên cứu (có nghĩa là những gì tạo nên pháp luật sống), có thể bao gồm: Văn bản quy phạm pháp luật, án lệ, tập quán, hợp đồng tiêu chuẩn, điều kiện chung kinh doanh, thực tiễn thương mại… – Điều kiện thứ ba: Người nghiên cứu phải am hiểu nhiều ngành khoa học có liên quan như chính trị học, kinh tế học, xã hội học, nhân chủng học, địa lý học, lịch sử pháp quyền và các ngành khoa học pháp lý khác. Các điều kiện này phủ nhận việc nghiên cứu và so sánh các văn bản quy phạm pháp luật là một mục đích riêng rẽ của luật so sánh. Người Indonesia cho rằng, chúng ta không thể hiểu được Hiến Pháp của một đất nước bất kể nào, nếu chúng ta chỉ xem Bản văn Hiến pháp đơn lẻ [1]. Và các học giả Hoa Kỳ vẫn cho rằng, Hiến pháp Hoa Kỳ là một văn kiện thông luật (Common Law Document); để hiểu được nó cần phải nghiên cứu lịch sử ra đời và nhiều giải thích tư pháp về nó [9] . Một văn bản pháp luật dù đầy đủ, chi tiết nhất thì cũng không tránh nổi những thiếu sót hoặc mập mờ mà cần tới sự giải thích của tư pháp hoặc một giới chức có thẩm quyền. Do vậy coi việc nghiên cứu và so sánh văn bản quy phạm pháp luật là đối tượng riêng rẽ của luật so sánh là không xác đáng. Bản thân quan niệm về pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật cũng có những nét khác biệt giữa các hệ thống pháp luật. Chẳng hạn Kinh Koran được xem là bản văn pháp luật cao nhất tại các nước theo truyền thống pháp luật Hồi giáo. Trong khi ở Hoa Kỳ có quan niệm bất kể một loại văn kiện nào có chứa đựng những quy tắc mà khi vi phạm nó được pháp luật bảo hộ bằng cách áp dụng một chế tài đều được xem là nguồn của pháp luật, chẳng hạn như nội quy của một trường đại học [8, tr.2-3]. Thứ năm, trong lúc cao hứng nhất các nhà luật học so sánh lừng lẫy cũng chỉ đề cập tới tác dụng của luật so sánh đối với sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên thế giới, đối với việc thiết lập nên các điều ước quốc tế trong đó ấn định sự thoả hiệp về chính sách của các quốc gia, và đối với việc tìm kiếm nguồn cho luật quốc tế theo Điều 38 của Quy chế Toà án Thường trực Quốc tế. Vậy quan điểm cho rằng so sánh các quy phạm của luật quốc gia với “quy phạm của luật quốc tế” là đối tượng của luật so sánh cần phải xem xét lại, trước hết, về mặt kỹ thuật. Theo Ernst Rabel, đối với pháp luật thì chỉ những gì có cùng chức năng mới có thể so sánh được [2] . Vậy phải chăng chúng ta so sánh được các quy phạm của luật quốc gia và các quy phạm của luật quốc tế, trong khi luật quốc tế có chức năng khác biệt, dù rằng trong các điều ước thống nhất về luật tư (cả quy phạm thực chất và quy phạm xung đột)? Nếu quốc gia chấp nhận các quy phạm đó, thì chúng mới có chức năng như luật quốc gia để áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Đối với tư pháp quốc tế là một bộ môn sử dụng nhiều phương pháp của luật so sánh, nhưng giữa chúng có sự khác biệt. Tư pháp quốc tế có mục đích ấn định các giải pháp cho các trường hợp cụ thể. Còn luật so sánh chỉ có thể giúp cho việc tìm kiếm các giải pháp… Luật so sánh là một khoa học pháp lý đơn thuần, có tính chất tổng quát và không tác động trực tiếp tới thực tiễn tranh chấp. Nó khác với xã hội học pháp luật, bởi xã hội học pháp luật có mục đích tìm kiếm quan hệ nhân quả giữa pháp luật và xã hội, tìm kiếm mô hình mà có thể suy luận ra rằng liệu pháp luật có ảnh hưởng tới ứng xử của con người hay không, hoàn cảnh nào thì ảnh hưởng, và pháp luật bị ảnh hưởng như thế nào khi xã hội thay đổi… Trước khi có thể đi tới định nghĩa sơ bộ về luật so sánh, chúng ta hãy khảo sát một bộ môn có phần chen lấn với nó là chính trị học so sánh. Theo nghĩa cổ điển, so sánh chính trị được xem như việc phân tích các chế độ chính trị. Do đó, nó có thể không được nhìn nhận như một bộ môn, mà chỉ là một lĩnh vực nghiên cứu – một lĩnh vực đặc biệt của khoa học chính trị nhấn mạnh tới phương pháp so sánh, đối chiếu, và cách thức, lý do các hiện tượng chính trị có thể được so sánh [5, tr.309-310]. Ngày nay chính trị học so sánh được xem như một bộ môn được tạo nên bởi ba yếu Một, nghiên cứu các nền chính trị của các nước trên thế giới tách biệt với nhau. Hai, so sánh các hệ thống chính trị giữa các nước với mục đích phân biệt và giải thích những điểm giống và khác nhau giữa những hiện tượng chính trị cụ thể đang được xem xét. Yếu tố này không chú trọng hoàn toàn vào thông tin về các hệ thống chính trị mà tập trung vào việc xây dựng các luận điểm, quan điểm hay học thuyết và việc kiểm tra các luận điểm, quan điểm hay học thuyết thông qua hoạt động so sánh như vậy. Ba, tập trung vào phương pháp nghiên cứu mà tại đó chú ý tới các quy tắc và tiêu chuẩn cho việc nghiên cứu so sánh, có thể bao gồm mức độ phân tích và giới hạn, khả năng của bản thân hoạt động so sánh. Các yếu tố nêu trên cho thấy sự kết hợp giữa các vấn đề về nội dung và phương pháp của chính trị học so sánh. Do đó có thể xem nó như một bộ môn phân tích nền chính trị của nước ngoài và áp dụng phương pháp so sánh vào việc nghiên cứu các hệ thống hay các hiện tượng chính trị ở các nước khác nhau, đồng thời đưa ra các quy tắc và tiêu chuẩn cho việc nghiên cứu so sánh nhằm tiếp thu các kinh nghiệm chính trị, xây dựng và kiểm tra các lý luận chính trị, cũng như xác định các giới hạn và khả năng của hoạt động so sánh chính trị. Có phần nào khác hơn, luật so sánh là một bộ môn khoa học pháp lý tổng quát sử dụng phương pháp so sánh làm trọng yếu để nghiên cứu các vấn đề pháp luật thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau; nghiên cứu hệ thống pháp luật của các nước một cách tách biệt; và nghiên cứu việc sử dụng, cũng như hiệu quả của phương pháp so sánh. Tất nhiên không thể có một định nghĩa nào làm thoả mãn mọi hiểu biết, nếu như không được diễn giải một cách đầy đủ sau đó. Song theo tác giả, định nghĩa trên đã nêu bật được đặc trưng và các nhóm đối tượng lớn của luật so sánh. Nhưng cũng cần nhấn mạnh rằng, trọng tâm của luật so sánh là luật tư. 2. Mục đích và chức năng của luật so sánh Trước hết phải khẳng định rằng, việc nghiên cứu luật so sánh không chỉ nhằm xác định khuynh hướng phát triển chung của pháp luật. Chức năng đầu tiên và quan trọng nhất của luật so sánh là hỗ trợ cho các cơ quan lập pháp xây dựng pháp luật. Lịch sử đã cho biết rằng quá trình thống nhất luật tư ở Đức đã phải dùng đến phương pháp so sánh. Người ta không chỉ xem xét tới các luật lệ khác nhau có hiệu lực tại Đức, mà còn xem xét tới cả luật lệ của Pháp, Hà Lan, Thuỵ Sỹ và Áo. Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, tại nước này, người ta cũng đã sử dụng luật so sánh để xây dựng nên các luật về đại lý thương mại, luật công ty, luật chống độc quyền và để đưa các quan điểm bất đồng ra trước Toà án Hiến pháp Liên bang [2,tr.761-762]. Sự cần thiết nhất thể hoá và hội nhập pháp luật của các nước là hệ quả tất yếu của quá trình toàn cầu hoá đời sống kinh tế thế giới. Do đó, luật so sánh phải tìm ra những vấn đề cụ thể nào cần thống nhất; những đặc điểm chung, sự giống nhau và sự khác nhau của các hệ thống pháp luật của các nước; căn nguyên của sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật; và phải xây dựng các giải pháp cho tiến trình nhất thể hoá và hội nhập pháp luật. Luật so sánh có tác dụng vô cùng to lớn trong việc xây dựng nhiều điều ước quốc tế thống nhất một số lĩnh vực pháp luật từ xưa đến nay, ví dụ như Công ước quốc Brussels năm 1952; Công ước về các quyền sở hữu đối với tầu bay ký kết tại Geneva năm 1948… Việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế tăng lên rất nhanh cùng với sự phát triển của quá trình hội nhập quốc tế. Vậy chỉ có luật so sánh mới có thể giúp chúng ta hiểu một cách đầy đủ nội dung của các điều ước quốc tế, bởi lẽ nó được tạo nên bởi sự thoả thiệp giữa các chính sách của các quốc gia hay giữa các hệ thống pháp luật của các quốc gia. Ví dụ như Công ước Geneva năm 1948 nói trên (mà Việt Nam đã gia nhập) là sự thoả hiệp giữa Họ Pháp luật Anh- Mỹ và Họ Pháp luật La Mã- Đức mà trong đó quyền thủ đắc tầu bay, trong một số trường hợp, chỉ có thể hiểu được với sự phân tích tập quán kinh doanh của các ngân hàng Mỹ . Luật so sánh còn góp phần quan trọng vào việc cải cách pháp luật quốc gia. Nó cung cấp cho các nhà làm luật, các nhà lý luận, các thẩm phán và những người hoạt động thực tiễn pháp lý khác những giải pháp để giải quyết các vấn đề xã hội. Các giải pháp này đôi khi hữu ích hơn những tư tưởng đang bị vây hãm chặt bởi hệ thống pháp luật quốc gia đang cần cải cách. Trong hoạt động xét xử, các thẩm phán có nhiệm vụ đánh giá và áp dụng pháp luật. Điều đó dẫn đến hai trường hợp. Một là hệ thống pháp luật quốc gia có “khoảng trống”. Trong trường hợp này ở một số nước cho phép thẩm phán sử dụng các giải pháp của luật nước ngoài [2, tr.762-763]. Hai là trường hợp toà án phải áp dụng luật nước ngoài (trong đó kể cả trường hợp áp dụng trực tiếp các điều ước quốc tế) để xét xử. Vậy luật so sánh cũng giúp cho công tác xét xử được đúng đắn, khách quan. Đối với đào tạo và giáo dục pháp luật thì luật so sánh chiếm một vị trí quan trọng. Nó giúp cho người học có nhận thức tổng quát, linh động, không bị đóng đinh vào một quan niệm nào đó để chính họ là những người làm phát triển hệ thống pháp luật quốc gia trong tương lai. Ngoài ra, luật so sánh còn giúp cho những người tham gia các giao dịch quốc tế tránh khỏi những sai lầm và biết được thực chất các công việc của mình. Qua đây có thể nói, không thể trình bày đầy đủ các chức năng và mục đích của luật so sánh trong một định nghĩa ngắn gọn về luật so sánh. Cần phải khẳng định rằng luật so sánh không thể chỉ mang lại hiểu biết chung chung mà có những tác dụng cụ thể trong cuộc sống. 3. Phân loại các họ pháp luật trên thế giới Các nhà luật học so sánh thường dựa vào những tiêu chí khác nhau để phân loại các họ pháp luật trên thế giới và từ đó nghiên cứu chúng hay trình bày chúng theo các tiêu chí đó. Do vậy trước khi đi vào phần trình bày các họ pháp luật lớn trên thế giới, họ thường phân tích các tiêu chí của mình. Các luật gia XHCN thường căn cứ vào chế độ chính trị, phân loại các hệ thống pháp luật thành Hệ thống Pháp luật XHCN và một hệ thống đối lập với nó là Hệ thống Pháp luật Tư sản. Quan niệm này xuất hiện thường xuyên trên sách báo, cũng như các diễn đàn ở các nước theo con đường XHCN nói chung và ở Việt Nam hiện nay nói riêng. Trong lĩnh vực luật so sánh, Eoersi, là một đại biểu, dựa vào học thuyết Marx về quan hệ sản xuất và sở hữu tư liệu sản xuất, cũng như việc sắp xếp quyền lực trong xã hội, phân loại các hệ thống pháp luật thành “kiểu pháp luật XHCN” và “kiểu pháp luật tư bản chủ nghĩa” mà ở kiểu pháp luật thứ hai này, Hệ thống Pháp luật châu Âu lại được phân loại thành bốn nhóm khác nhau dựa vào thời gian, cách thức và mức độ mà giai cấp tư sản thành công trong việc thiết lập quan hệ sản xuất tư bản trong lòng chế độ phong kiến. Các nhóm đó bao gồm: (1) Anh và các nước Phương Bắc; (2) Pháp; (3) các nước nói tiếng Đức ở Trung Âu, Hungary và một phần Đông Âu; (4) các nước ở Đông- Nam châu Âu. Dựa vào căn bản của pháp luật, hay nói cách khác, dựa vào những yếu tố căn bản ảnh hưởng tới pháp luật như: tôn giáo, luân lý và công lý, có quan niệm phân loại các hệ thống pháp luật trên thế giới thành ba loại: Hệ thống Pháp luật Hồi giáo và Ấn Độ (bị ảnh hưởng của tôn giáo); Hệ thống Pháp luật Trung Hoa (bị ảnh hưởng của luân lý); và Hệ thống Pháp luật Pháp-La tinh, Hệ thống Pháp luật Anh–Mỹ, cũng như Hệ thống Pháp luật Xã hội Chủ nghĩa (bị ảnh hưởng của công lý) [10, tr. 94]. Giống với quan điểm của Lévy – Ullmann, nhiều luật gia ở Việt Nam cho rằng việc phân loại các hệ thống pháp luật trên thế giới thường căn cứ vào vai trò của các nguồn của pháp luật. Xem xét đến sự khác nhau về nguồn của pháp luật, Lévy-Ullmann phân biệt ba họ pháp luật khác nhau: Họ Pháp luật Lục địa, Họ Pháp luật của các nước nói tiếng Anh và Họ Pháp luật Hồi giáo. Có quan điểm phân loại các hệ thống pháp luật dựa vào chủng tộc hoặc dựa vào sự ảnh hưởng của ius gentium, Luật La Mã, Luật Giáo hội hay các tư tưởng dân chủ. Song các quan niệm về cách phân loại như vậy hiện nay ít được nhắc đến. Có ba quan niệm hiện đại thường được tranh luận nhiều trong lĩnh vực luật so sánh: đáng tới nguồn gốc, xuất xứ và các yếu tố chung của pháp luật. Đại biểu cho quan niệm này là Arminjon, Nolde, Wolff chia các hệ thống pháp luật trên thế giới thành bảy họ khác nhau như: Pháp, Đức, Bắc Âu, Anh, Nga, Đạo Hồi và Đạo Hindu. Thứ hai, quan điểm của René David và John E.C. Brierley căn cứ vào tiêu chí kỹ thuật (như thuật ngữ, nguồn và phương pháp của pháp luật) và tiêu chí chính trị, xã hội (bổ sung cho tiêu chí thứ nhất, là điều kiện đủ với sự xem xét tới các nguyên tắc triết học, chính trị, kinh tế và mục tiêu xây dựng kiểu loại xã hội), sắp xếp các hệ thống pháp luật trên thế giới thành Họ Pháp luật La Mã – Đức, Pháp luật XHCN, Common Law, Pháp luật Đạo Hồi, Pháp luật Ấn Độ, Pháp luật Viễn Đông, Pháp luật châu Phi và Madagascar. Thứ ba, quan điểm của Konrad Zweigert và Hein Koetz cho rằng phải dựa vào phong cách pháp lý để phân loại các hệ thống pháp luật trên thế giới, bao gồm các yếu tố: (1) Lịch sử phát sinh và phát triển của hệ thống pháp luật; (2) Cách thức tư duy pháp lý đặc trưng và nổi bật; (3) Các chế định đặc biệt; (4) Các loại nguồn mà hệ thống pháp luật chấp nhận và cách thức sử dụng chúng; và (5) Ý thức hệ của hệ thống pháp luật. Vì thế các ông đã phân loại các hệ thống pháp luật trên thế giới thành các họ như: Họ Pháp luật La Mã, Họ Pháp luật Đức; Họ Pháp luật Anh–Mỹ; Họ Pháp luật Bắc Âu; Họ Pháp luật XHCN; Họ Pháp luật Viễn Đông; Họ Pháp luật Đạo Hồi; Họ Pháp luật Hindu. Vậy bất kỳ tác giả nào khi trình bày các họ pháp luật trên thế giới đều phải tuân thủ những tiêu chí tối thiểu như: lịch sử, cấu trúc hệ thống và nguồn. Thứ tự trình bày như nhau giữa các hệ thống pháp luật mới làm nổi bật được những điểm giống và khác nhau giữa chúng. Tác giả cho rằng yếu tố phân loại của Konrad Zeigert và Hein Koetz rất hợp lý, cụ thể, dễ tiếp cận, nhưng có lẽ việc sắp xếp các họ pháp luật của René David và John E.C. Brierley thường được nhắc tới. Tuy được sắp xếp không giống nhau và tiêu chí phân loại khác nhau, nhưng trong những tác phẩm nổi tiếng của mình các ông đều đề cập đầy đủ tới các yếu tố quan trọng của hệ thống pháp luật. Sách của hai giáo sư người Đức nói trên còn có một phần quan trọng đề cập đến những chế định lớn của luật tư, nên càng làm nổi bật những đặc điểm của các họ pháp luật. 4. Dạy luật so sánh ở Việt Nam hiện nay Qua các nghiên cứu ở trên, đứng trên phương diện giáo dục, chúng ta thấy cần phải thiết kế một chương trình đào tạo thích hợp về luật so sánh. Trước hết nói về cách soạn giáo trình, không thể áp đặt ý kiến của tác giả cho người học mà trong khi không giới thiệu được tương đối đầy đủ các quan điểm, hay chí ít phân tích một cách logic các vấn đề của môn luật so sánh. Các quan điểm mới mẻ chưa được thừa nhận rộng rãi, thì không nên xem như những vấn đề mấu chốt mà cần đặt chúng ở vị trí giới thiệu có tính chất tham khảo. Hơn nữa, cần phải nghiên cứu nhiều tài liệu tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau, không nên chỉ tham khảo tài liệu tập trung ở một nước, nhất là nước chưa phát triển mạnh bộ môn đó. Giáo trình cần phải tuân thủ một logic chặt chẽ, không nên có sự trộn lẫn thiếu tinh tế. Việt Nam là một nước theo truyền thống pháp luật Soviet, nên trong giáo trình và trong giảng dạy cần chú ý đến những khác biệt của pháp luật Phương Tây, nhất là Họ Pháp luật Anh- Mỹ. Ngoài ra cần chú ý truyền đạt cho người học bằng phương pháp của họ pháp luật mà họ đang tiếp cận. Nhận thức rõ về mục đích và chức năng của luật so sánh, không cho phép chúng ta sắp xếp chương trình theo cách thức thiên về nhận thức có tính chất cá nhân. Chẳng hạn như xếp chương trình dạy luật so sánh mà trong đó có quá nửa là dạy lý thuyết chung hay lý luận đơn thuần về luật so sánh, hoặc các hệ thống pháp luật của những nước ASEAN, trong khi giới thiệu rất ít về các họ pháp luật lớn trên thế giới. Việc tìm hiểu thêm pháp luật các nước ASEAN là cần thiết đối với Việt Nam, nhưng chỉ nên đưa vào các chuyên đề. Việc dạy luật so sánh cho học viên chỉ có hiệu quả khi học viên đã có một khối lượng kiến thức về pháp luật tương đối đầy đủ và có hệ thống. Tốt nhất là giảng dạy cho học viên năm cuối của chương trình đào tạo cử nhân luật học. Tuy nhiên đối với học viên cao học, thì nên giảng dạy môn luật so sánh ngay từ năm đầu tiên của chương trình đào tạo. Có lẽ nên có trong chương trình đào tạo luật so sánh một số tiết so sánh vi mô, có nghĩa là so sánh một số chế định quan trọng nhất làm bật những khác biệt và giống nhau của các họ pháp luật, bởi bản thân mỗi truyền thống pháp luật đều có những chế định nổi bật của mình như: Đối với Common Law là chế định trust; Đối với Civil Law là nghĩa vụ; Đối với Sovietique Law là sở hữu; Còn đối với Islamic Law là gia đình.

Ngô Huy Cương – ThS, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Department of Information of Republic of Indonesia 2989, The 1945 Constitution of the Republic of Indonesia. 2. Hein Koetz, Comparative Law in Germany Today – Rerue Internationale de Droit Comparé – No0 4- 1999. 3. Konrad Zweigert & Hein Koetz, An Introduction to Comparative Law Clarendon, Press- Oxford, 1992. 4. Michael Bogdan, Luật so sánh, Kluwer Law and Taxation, PGS.TS.Lê Hồng Hạnh 5. Peter Mair, Comparative Politics: An Overview- A New Handbook of Political Science – Edited by Robert E. Goodin and Hans – Dieter Klingemann-Oxford University Press, 2000. 6. Võ Khánh Vinh, Giáo trình luật học so sánh, Đại học Huế, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2002. 7. René David & John E.C. Brierley, Major Legal System in the World Today, Second Edition, Free Press , 1978. 8. Robert A. Carp & Ronald Stidham, Judicial Process in America, CQ Press, 1983. 9. The Supereme Court Historical Society, The Court and Constitutional Interpretation– USA. 10. Vũ Văn Mẫu, Dân luật khái luận, Sài gòn, 1960. COMPARATIVE LAW AND TEACHING IT IN VIETNAM: FROM ONE POINT OF VIEW TO ANOTHER ONE CONCERNING SOME FUNDAMENTAL ISSUES LLM Ngo Huy Cuong Faculty of Law, Vietnam National University, Hanoi Vietnamese jurists are being attracted by comparative law. Its methods are usually used in researching law, and drafting statutes. But due to lack of knowledges and experiences, those have not showed good results yet. The author therefore expressed his views of what is comparative law and its objects by law, and the classification of the legal families in the world are also mentioned in the article. After all the author explained how to teach comparative law in Vietnam.

Cập nhật thông tin chi tiết về Độ Lệch Tối Đa So Với Định Luật Raoult Được Quan Sát Ở Thành Phần Nào? trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!