Xu Hướng 3/2023 # Dna: Mật Mã Nhỏ Xíu Đang Lật Đổ Thuyết Tiến Hóa # Top 3 View | 2atlantic.edu.vn

Xu Hướng 3/2023 # Dna: Mật Mã Nhỏ Xíu Đang Lật Đổ Thuyết Tiến Hóa # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Dna: Mật Mã Nhỏ Xíu Đang Lật Đổ Thuyết Tiến Hóa được cập nhật mới nhất trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Những khám phá về DNA chính là cái gót chân Achilles của thuyết tiến hóa, theo Tiến sĩ Stephen Meyer. Ông nhận xét: “Các nhà tiến hóa vẫn cố áp dụng tư duy của Darwin trong thế kỷ 19 vào hiện thực của thế kỷ 21, nhưng tư duy ấy không còn thích ứng được nữa… Tôi nghĩ cuộc cách mạng thông tin xảy ra trong sinh học đang gióng lên hồi chuông báo tử đối với học thuyết Darwin và các lý thuyết tiến hóa hóa học”.

DNA: Mật mã nhỏ xíu đang lật đổ thuyết tiến hóa

Những khám phá về DNA chính là cái gót chân Achilles của thuyết tiến hóa, theo Tiến sĩ Stephen Meyer. Ông nhận xét: “Các nhà tiến hóa vẫn cố áp dụng tư duy của Darwin trong thế kỷ 19 vào hiện thực của thế kỷ 21, nhưng tư duy ấy không còn thích ứng được nữa… Tôi nghĩ cuộc cách mạng thông tin xảy ra trong sinh học đang gióng lên hồi chuông báo tử đối với học thuyết Darwin và các lý thuyết tiến hóa hóa học”.

Đây là bài viết thứ 5 trong chuyên đề Cuộc khủng hoảng mang tên thuyết tiến hóa

Tính phức tạp của thông tin của DNA chứng tỏ tiến hóa là điều bất khả. (Ảnh: Shutterstock) —***—

Năm 1953, James Watson và Francis Crick đạt được một thành tựu phi thường – khám phá ra cấu trúc di truyền nằm sâu bên trong hạt nhân tế bào. Vật liệu di truyền này được gọi là DNA, viết tắt của cụm từ deoxyribonucleic acid (tiếng Pháp là ADN).

Việc khám phá ra cấu trúc xoắn kép của phân tử DNA đã mở cửa cho các nhà khoa học lao vào nghiên cứu mật mã được cài đặt trong đó. Đến nay, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khám phá đầu tiên, mật mã của DNA đã được giải, mặc dù còn nhiều phần vẫn chưa hiểu rõ.

Những gì đã được khám phá chứa đựng những gợi ý sâu xa đối với thuyết tiến hóa của Darwin – lý thuyết được dạy tại các trường học trên khắp thế giới, trong đó nói rằng mọi thực thể sống đã tiến hóa thông qua biến dị và chọn lọc tự nhiên.

Những phát hiện đáng kinh ngạc về DNA

Khi các nhà khoa học bắt đầu giải mã phân tử DNA của người, họ tìm thấy một sự thật hết sức bất ngờ – một ngôn ngữ tinh tế bao gồm 3 tỷ chữ cái thuộc hệ di truyền. Tiến sĩ Stephen Meyer, giám đốc Trung tâm Khoa học và Văn hóa tại Viện Discovery ở Seattle, Washington, nói: “Một trong những khám phá phi thường nhất của thế kỷ 20 là: DNA quả thật có chứa đựng thông tin – những chỉ dẫn chi tiết để lắp ráp proteins – dưới dạng một mã số bốn chữ cái” [1].

Khó mà đo lường chính xác số lượng thông tin trong DNA của người, nhưng ước lượng nó tương đương với 12 bộ bách khoa toàn thư Britannica, gồm 384 cuốn sách dầy cộp lấp đầy 15m giá sách trong thư viện!

Nhưng kích thước thực tế của vật chất chứa đựng chúng lại nhỏ xíu – tất cả chỉ chứa trong 2 phần triệu milimét chiều dày – và theo nhà sinh học phân tử Michael Denton, một thìa café DNA có thể chứa toàn bộ thông tin cần thiết để tạo ra proteins của tất cả các loài sinh vật có mặt trên trái đất từ trước tới nay, và vẫn còn đủ chỗ để chứa toàn bộ thông tin trong mọi cuốn sách đã được viết.

Vậy ai hoặc cái gì có thể làm cái công việc vĩ đại là thu nhỏ kích thước của vật chất chứa đựng khối lượng thông tin khổng lồ như thế, rồi đặt số lượng khổng lồ các “chữ cái” đó vào trong một chuỗi thích hợp của chúng như một cẩm nang chỉ dẫn di truyền? Liệu sự tiến hóa liên tục dần dần từng tí một như Darwin nói có thể tạo ra một hệ thống kỳ diệu như thế không?

DNA chứa đựng ngôn ngữ di truyền

Trước hết hãy xem xét một số đặc điểm của “ngôn ngữ” di truyền. Để một hệ thống tín hiệu được gọi là một ngôn ngữ, nó phải thỏa mãn các điều kiện sau đây: có một hệ chữ cái hoặc mã + có một cách đánh vần chính xác + có một ngữ pháp (một cách sắp xếp thích hợp của từ ngữ) + có ý nghĩa (ngữ nghĩa) + và có mục đích, có dụng ý.

Các nhà khoa học đã khám phá ra rằng mã di truyền có tất cả các điều kiện trên. Tiến sĩ Stephen Meyer giải thích: “Khu vực mã hóa của DNA có những tính chất thích đáng giống y như mã hoặc ngôn ngữ computer”.

Ngoài mã của DNA, chỉ có duy nhất một loại mã khác được coi là ngôn ngữ thực sự, đó là ngôn ngữ của con người. Mặc dù loài chó biết sủa khi chúng nhận thấy nguy hiểm, loài ong vo ve để báo cho nhau biết một nguồn thức ăn, loài cá voi phát ra âm thanh… đó là vài thí dụ về sự thông tin liên lạc của các loài khác, nhưng không có loài nào có đủ các điều kiện của một ngôn ngữ thực sự. Những thông tin ấy chỉ được xem như những tín hiệu liên lạc bậc thấp.

Những dạng thông tin liên lạc bậc cao chỉ bao gồm ngôn ngữ của con người + ngôn ngữ nhân tạo (ngôn ngữ computer, tín hiệu Morse…) + và mã di truyền. Ngoài ra không tìm thấy một hệ thông tin liên lạc nào khác thỏa mãn những đặc trưng cơ bản của một ngôn ngữ đích thực.

“DNA giống như một chương trình phần mềm, chỉ khác là nó vô cùng phức tạp hơn rất nhiều so với bất kỳ phần mềm nào do con người tạo ra từ trước tới nay” – Bill Gates, nhà sáng lập Microsoft

Vậy, bất kể thời gian kéo dài chừng nào, bất kể bao nhiêu biến dị và chọn lọc tự nhiên diễn ra đi nữa, một thứ phức tạp như DNA có thể nào được chế tạo ra một cách ngẫu nhiên thông qua tiến hóa không?

Ngôn ngữ của DNA không phải là phân tử DNA

Những nghiên cứu hiện nay trong lý thuyết thông tin đã đi đến một số kết luận làm ngỡ ngàng, rằng thông tin không thể xem như một dạng vật chất hoặc năng lượng. Vật chất và năng lượng chuyển tải thông tin, nhưng chúng không phải là bản thân thông tin.

Chẳng hạn cuốn sách Iliad của Homer chứa đựng thông tin, nhưng phải chăng nó chính là thông tin mà nó chứa đựng? Không, vật chất làm nên quyển sách (giấy + mực + keo dính) chứa đựng nội dung của quyển sách, nhưng chúng chỉ là những phương tiện chuyển tải nội dung đó.

Nguyên lý tương tự cũng tìm thấy trong mã di truyền. Phân tử DNA chuyên chở ngôn ngữ di truyền, nhưng bản thân ngôn ngữ ấy độc lập với vật chất chuyên chở nó. Thông tin di truyền ấy có thể được viết trong một cuốn sách, hoặc chứa trong một đĩa compact hoặc được gửi qua internet, nhưng nội dung của bản thông điệp không thay đổi bởi phương tiện chuyển tải nó.

Nhà sinh học George Williams giải thích: “Gene là một gói thông tin, thay vì một vật thể. Một mô hình của những cặp ba-zơ trong một phân tử DNA chỉ rõ một gene. Còn phân tử DNA chỉ là môi trường chuyên chở chứ không phải là bản thông điệp mà nó chuyên chở”.

Thông tin phải được tạo ra bởi một nguồn trí tuệ thông minh

Hơn nữa, dạng thông tin bậc cao trong DNA chỉ có thể bắt nguồn từ một nguồn trí tuệ thông minh.

Như nhà nghiên cứu biện giải Lee Strobel giải thích: “Dữ liệu tại phần cốt lõi của sự sống không hỗn độn, mà được sắp xếp trật tự ngăn nắp như những tinh thể muối, nhưng mức độ phức tạp của nó và thông tin nó chứa đựng cho phép nó có thể hoàn tất một nhiệm vụ phi thường – xây dựng những cỗ máy sinh học vượt xa khả năng công nghệ của con người”.

Qua đó có thể thấy mã DNA được thiết kế bởi một nhà thiết kế siêu thông minh, rất hiếm có biến dị, và nếu biến dị thì tế bào chế tạo ra sẽ hỏng, bệnh hoạn, chứ không phải là một tế bào mới cao cấp hơn. Nói cách khác, không có sự tiến hóa thông qua biến dị và chọn lọc tự nhiên. Thuyết tiến hóa là sai lầm, vì nó không biết gì về DNA.

Ngôn ngữ di truyền này có độ chính xác rất cao – lỗi trung bình chỉ ở mức 1 phần 10 tỷ chữ cái. Nếu một lỗi xảy ra trong một trong những phần quan trọng nhất của mã nằm trong các gene, thì nó sẽ gây ra một căn bệnh chẳng hạn như bệnh anemia (một bệnh giảm hemoglobin trong hồng cầu)… Trong khi đó, những thợ đánh máy thông minh và giỏi nhất thế giới cũng không thể đạt được trình độ chỉ mắc một lỗi trong 10 tỷ chữ cái – còn xa con người mới đạt tới độ chính xác như thế.

Vì thế niềm tin cho rằng mã di truyền có thể tiến hóa dần dần từng tí một theo kiểu của Darwin là không phù hợp với các quy luật tự nhiên đã biết về vật chất và năng lượng. Thật vậy, khoa học không hề tìm thấy bất kỳ một thí dụ nào về một hệ thông tin bên trong tế bào tiến hóa dần dần từng tí một để trở thành một hệ thông tin khác.

Michael Behe, một nhà sinh hóa tại Đại học Lehigh ở Pennsylvania, giải thích rằng thông tin di truyền đóng vai trò chủ yếu là một cẩm nang hướng dẫn. Ông viết:

“Hãy xem xét một bản liệt kê từng bước hướng dẫn di truyền. Một biến dị là một thay đổi trong một dòng lệnh trong số các dòng lệnh. Chẳng hạn, thay vì nói “lấy một quả hạch 1/4 inch”, một biến dị có thể nói nhầm là “lấy một quả hạch 3/8 inch”. Hoặc thay vì nói “đặt một cái chốt tròn vào cái hốc tròn”, một biến dị có thể nói nhầm là “đặt một cái chốt tròn vào cái hốc vuông”,… Cái mà một biến dị không thể làm là thay đổi toàn bộ các lệnh trong một bước, tức là không thể cung cấp các lệnh để tạo ra một chiếc máy fax thay vì cái radio” (trích Darwin’s Black Box, 1996, trang 41).

Do đó chúng ta có trong mã di truyền một cẩm nang hướng dẫn vô cùng phức tạp đã được thiết kế một cách tinh vi bởi một nguồn trí tuệ thông minh cao hơn con người rất nhiều.

Ngay cả một trong những người khám phá ra mã di truyền vừa mới qua đời là Francis Crick, sau nhiều thập kỷ làm việc giải mã, đã thừa nhận rằng:

Thuyết tiến hóa thất bại không trả lời được

Bất chấp những nỗ lực của tất cả các phòng thí nghiệm trên khắp thế giới trong nhiều thập kỷ qua, khoa học vẫn không sao chế tạo ra được một sợi tóc của con người. Và sẽ còn khó khăn đến thế nào nếu muốn chế tạo ra toàn bộ một con người gồm khoảng 100 ngàn tỷ tế bào.

Đến nay, các nhà tiến hóa theo Darwin cố gắng chống lại những người phê phán họ bằng những nỗ lực giải thích tính phức tạp của sự sống. Nhưng hiện nay họ phải đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng nan: Làm thế nào mà những thông tin chính xác và giàu ý nghĩa lại có thể được tạo ra bởi biến dị ngẫu nhiên và chọn lọc tự nhiên? Cả hai cơ chế này (biến dị ngẫu nhiên và chọn lọc tự nhiên) đều không chứa đựng cơ chế thông minh, một đòi hỏi tất yếu phải có để tạo ra thông tin phức tạp như đã tìm thấy trong mã di truyền.

Thuyết tiến hóa của Darwin vẫn được dạy trong hầu hết các trường học như thể đó là chân lý. Nhưng nó ngày càng bị nhiều nhà khoa học nhận ra là một lý thuyết sai lầm. Một nhà khoa học vốn vô thần là Patrick Glynn nói: “25 năm gần đây, một người có lý trí nếu cân nhắc những bằng chứng thuần túy khoa học về vấn đề này, có lẽ sẽ phải giảm sút sự nghi ngờ đối với Đấng Sáng tạo. Tình hình không còn như thế nữa. Những dữ liệu cụ thể hiện nay hướng tới giả thuyết về sự sáng tạo của Chúa một cách rõ ràng. Đó là lời giải đơn giản nhất và rõ ràng nhất…”

Chất lượng của thông tin di truyền là như nhau ở các loài

Thuyết tiến hóa nói rằng thông qua những biến di ngẫu nhiên và chọn lọc tự nhiên, sinh vật tiến hóa. Tuy nhiên tiến hóa có nghĩa là biến đổi dần dần từng tí một những đặc tính xác định của sinh vật đến khi nó trở thành một loài khác, nhưng điều này chỉ có thể thực hiện được bằng cách biến đổi thông tin di truyền.

Vậy chúng ta thấy điều gì về mã di truyền? Dù là một con vi khuẩn tầm thường hay một cái cây hay một con người, chất lượng cơ bản của thông tin di truyền đều có độ chính xác như nhau. Mã di truyền của vi khuẩn ngắn hơn, nhưng chất lượng thông tin di truyền của nó cũng chính xác và tinh tế như của con người. Thông tin di truyền của vi khuẩn hay tảo hay con người trước hết đều phải đạt được yêu cầu của một ngôn ngữ bậc cao – có hệ chữ cái, ngữ pháp và ngữ nghĩa.

Vậy làm sao mà thông tin di truyền của vi khuẩn có thể tiến hóa dần dần từng tí một để biến thành thông tin của một loài khác, trong khi chỉ cần một hoặc một vài lỗi nhỏ trong hàng triệu chữ cái trong DNA của vi khuẩn là đủ để có thể giết chết nó?

Một lần nữa các nhà tiến hóa lại im lặng. Thậm chí họ không đưa ra được một giả thuyết nào để giải thích điều này. Lee Strobel viết: “DNA dài 1m8 cuộn bên trong một tế bào trong số một trăm ngàn tỷ tế bào của cơ thể chúng ta chứa đựng một bảng chữ cái gồm bốn ký tự hóa học cho phép đọc các chỉ dẫn lắp ráp chính xác đối với toàn bộ các protein tạo ra cơ thể chúng ta… Không hề có một giả thuyết nào được nêu lên để giải thích làm thế nào mà thông tin được cài đặt vào trong vật chất sinh học bằng các phương tiện ‘tự nhiên’”.

Werner Gitt, giáo sư về các hệ thông tin, nói một cách ngắn gọn: “Sai lầm cơ bản của toàn bộ các quan điểm của thuyết tiến hóa là ở vấn đề nguồn gốc của thông tin nằm trong các thực thể sống. Chưa bao giờ chúng ta có thể thấy một hệ mã và thông tin có ý nghĩa có thể bắt nguồn từ chính bản thân nó (thông qua vật chất)… Các định lý của khoa học thông tin tiên đoán rằng điều đó không bao giờ có thể xảy ra. Do đó một lý thuyết thuần túy vật chất về nguồn gốc sự sống sẽ bị bác bỏ”.

Mã số 4 chữ cái của DNA là tối ưu cho lưu trữ và sao chép

Bên cạnh toàn bộ bằng chứng chúng ta đã trưng ra đối với sự thiết kế thông minh của thông tin trong DNA, còn có một sự thật đáng kinh ngạc nữa – số lượng lý tưởng của các chữ cái di truyền trong mã DNA để cất giữ và phiên dịch.

Hơn nữa, cơ chế sao chép của DNA, để đáp ứng hiệu quả tối đa, đòi hỏi số chữ cái trong mỗi từ là một số chẵn. Với tất cả các tổ hợp toán học có thể có, số lượng lý tưởng để cất giữ và sao chép đã được tính toán cho bốn chữ cái.

Đây đúng là cái đã được tìm thấy trong các gene của mọi sinh vật trên trái đất – một mã số bốn chữ cái. Như Werner Gitt phát biểu: “Theo quan điểm công nghệ, hệ mã hóa được sử dụng cho sinh vật là tối ưu. Sự thật này củng cố quan điểm đây là một thiết kế có mục đích rõ ràng, thay vì một sự may rủi ngẫu nhiên”.

Sinh học phân tử ngày càng phủ nhận thuyết vô thần

Trờ lại thời Darwin, khi cuốn “Về nguồn gốc các loài” của ông được công bố năm 1859, cuộc sống xã hội có vẻ đơn giản hơn nhiều. Nhìn qua những kính hiển vi thô sơ thời đó, tế bào có vẻ như chỉ là một giọt dinh dưỡng hay một chất nguyên sinh không có gì phức tạp. Bây giờ, hơn 150 năm sau, sự quan sát đó đã thay đổi tận gốc khi khoa học khám phá ra một vũ trụ thực sự nằm bên trong tế bào.

Giáo sư Behe viết: “Trước đây người ta từng trông mong rằng cơ sở của sự sống là hết sức đơn giản. Nhưng sự trông mong này đã bị đổ vỡ. Sự nhìn, sự chuyển động, và các hoạt động sinh học khác đã chứng minh là chúng không kém tinh vi so với những máy quay truyền hình hoặc máy móc xe cộ. Khoa học đã đạt được những tiến bộ khổng lồ trong sự hiểu biết về hóa học của sự sống hoạt động thế nào, nhưng sự tinh vi và phức tạp của các hệ sinh học ở cấp độ phân tử đã làm tê liệt tham vọng của khoa học muốn giải thích nguồn gốc sự sống”.

Tiến sĩ Meyer coi những khám phá về DNA như cái gót Achilles của thuyết tiến hóa. Ông nhận xét: “Các nhà tiến hóa vẫn cố áp dụng tư duy của Darwin trong thế kỷ 19 vào hiện thực của thế kỷ 21, nhưng tư duy ấy không còn thích ứng được nữa… Tôi nghĩ cuộc cách mạng thông tin xảy ra trong sinh học đang vang lên hồi chuông báo tử đối với học thuyết Darwin và những lý thuyết tiến hóa hóa học”.

Tiến sĩ Meyer kết luận: “Tôi tin rằng lời chứng của khoa học xác nhận tư tưởng hữu thần. Trong khi luôn luôn sẽ có những điểm căng thăng hoặc xung đột chưa ngã ngũ, sự phát triển chủ yếu trong khoa học trong năm thập kỷ qua đã và đang hướng mạnh về phía hữu thần”.

Dean Kenyon, một giáo sư sinh học, phát biểu: “Lĩnh vực mới mẻ này về di truyền phân tử là nơi chúng ta thấy phần lớn bằng chứng ép buộc phải tin rằng có sự thiết kế trên Trái Đất”.

Bài viết thuộc chuyên đề Cuộc khủng hoảng mang tên thuyết tiến hóa

Ghi chú:

[1] Tất cả các ý kiến của các nhà khoa học được trích dẫn trong bài này đều nằm trong các tài liệu tham khảo, đã liệt kê ở cuối bản dịch này. Độc giả nào cần truy tìm nguồn gốc chính xác của các trích dẫn đó, xin tìm trong nguyên bản tiếng Anh theo đường linh đã dẫn ở trên.

[1] The Case for a Creator, Lee Strobel, 2004 [2] Evolution: A Theory in Crisis , Michael Denton, 1996 [3] Defeating Darwinism by Opening Minds, Phillip Johnson, 1997 [4] Darwin’s Black Box, Michael Behe,1996 [5] Life Itself: Its Origin and Nature, Francis Crick, 1981 [6] God: The Evidence: The Reconciliation of Faith and Reason in a Postsecular World, Patrick Glynn, 1999 [7] In the Beginning Was Information, Werner Gitt, 2006 [8] “Leading Atheist Now Believes in God”, Richard Ostling, Associated Press report, 09/12/2004.

Mario Seiglie Phạm Việt Hưng lược dịch

Lý Thuyết Các Nhân Tố Tiến Hóa Sinh 12

Khái niệm: Nhân tố tiến hóa là nhân tố làm biến đổi vốn gen của quần thể, gồm có: đột biến, di nhập gen, chọn lọc tự nhiên, các yếu tố ngẫu nhiên, giao phối không ngẫu nhiên.

– Đột biến là những biến đổi trong vật chất di truyền. Chỉ có các đột biến xảy ra trong tế bào sinh dục tạo thành các giao tử mới được di truyền cho đời sau.

Vai trò của đột biến đối với tiến hoá

– Tần số đột biến là rất thấp (ở động vật và thực vật khoảng 10-6 – 10-4) → áp lực của đột biến là không đáng kể, nhất là đối với quần thể lớn. (Ở vi sinh vật và virut có thời gian thế hệ ngắn, hoặc gen dễ bị đột biến, tần số đột biến gen cao hơn nhiều và có thể nhanh chóng tạo ra các biến dị di truyền).

– Vai trò chính của đột biến (đặc biệt là đột biến gen làm xuất hiện alen mới) là nguồn nguyên liệu sơ cấp cho quá trình tiến hoá, làm cho mỗi tính trạng của loài đều có một phổ biến dị phong phú.

– Đột biến làm biến đổi tần số alen một cách ngẫu nhiên, không có hướng.

II. DI NHẬP GEN (DÒNG GEN – GENE FLOW)

– Di nhập gen là hiện tượng trao đổi gen thông qua việc di-nhập cư của các cá thể hay các giao tử giữa các quần thể.

– Nguyên nhân: do các quần thể trong cùng một loài không cách li hoàn toàn với nhau.

– Các cá thể nhập cư có thể mang đến các loại alen khác nhau:

Nếu mang đến các loại alen mới → làm phong phú thêm vốn gen của quần thể.

Nếu mang đến các loại alen đã có sẵn → làm thay đổi tần số của các alen trong quần thể gốc.

→ Tương tự như vậy, khi các cá thể di cư ra khỏi quần thể → làm thay đổi tần số của các alen trong quần thể gốc.

– Làm thay đổi tần số alen một cách ngẫu nhiên, vô hướng.

– Di nhập gen có khuynh hướng làm giảm sự sai khác di truyền giữa các quần thể. Nếu đủ lớn, nó có thể làm sát nhập (hợp nhất) các quần thể lân cận với nhau thành 1 quần thể với vốn gen chung.

+ CLTN là nhân tố tiến hóa có định hướng: CLTN tác động trực tiếp lên kiểu hình của các cá thể, qua đó tác động lên kiểu gen làm biến đổi thành phần kiểu gen và tần số alen của quần thể; khi môi trường thay đổi theo một hướng xác định thì CLTN cũng theo một hướng xác định.

+ Thực chất của CLTN là phân hóa khả năng sống sót và khả năng sinh sản của các cá thể với các kiểu gen khác nhau trong quần thể.

+ CLTN đóng vai trò sàng lọc, làm tăng số lượng cá thể có kiểu hình thích nghi tồn tại sẵn trong quần thể cũng như tăng cường mức độ thích nghi bằng cách tích lũy các alen tham gia quy định kiểu hình thích nghi làm cho quần thể thích nghi hơn sẽ thay thế những quần thể kém thích nghi.

+ CLTN quy định nhịp điệu tiến hóa: nếu áp lực chọn lọc mạnh (tiêu diệt luôn, đặc biệt là chọn lọc chống lại gen trội) → tốc độ biến đổi nhanh. Áp lực chọn lọc yếu (chỉ làm giảm khả năng sinh trưởng, phát triển, chọn lọc chống lại alen lặn) → tốc độ biến đổi chậm. Nhưng biến đổi luôn có tính quy luật: tăng dần tần số alen thích nghi, giảm dần tần số alen không thích nghi.

→ Cá thể thích nghi nhất là những cá thể chuyển được một lượng gen lớn nhất cho thế hệ sau.

+ Chọn lọc tự nhiên không chỉ tác động đối với từng loại cá thể riêng rẽ mà còn đối với cả quần thể (tác động lên mối quan hệ giữa các cá thể trong quần thể).

→ Trong tự nhiên, chọn lọc cá thể và chọn lọc quần thể diễn ra song song.

Các phương thức tác động của chọn lọc tự nhiên

IV. CÁC YẾU TỐ NGẪU NHIÊN (NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN BIẾN ĐỘNG DI TRUYỀN – PHIÊU BẠT GEN)

– Các yếu tố ngẫu nhiên gây nên sự biến đổi đột ngột về tần số alen không theo một chiều hướng nhất định → Biến động di truyền → Một alen nào đó dù là có lợi cũng có thể bị loại bỏ hoàn toàn khỏi quần thể và một alen có hại cũng có thể trở nên phổ biến trong quần thể.

– Sự biến động di truyền hay xảy ra với những quần thể có kích thước nhỏ; quần thể có kích thước càng nhỏ thì sự biến động di truyền càng có tác động mạnh.

– Một quần thể có kích thước lớn nhưng do yếu tố ngẫu nhiên làm giảm kích thước quần thể một cách đáng kể thì những cá thể sống sót có thể có vốn gen khác biệt hẳn với vốn gen của quần thể ban đầu.

– Kết quả tác động của các yếu tố ngẫu nhiên có thể dẫn đến làm nghèo vốn gen của quần thể, giảm sự đa dạng di truyền.

* Biến động di truyền trong 1 quần thể có kích thước nhỏ có thể xảy ra và là kết quả của 2 trường hợp: hiệu ứng thắt cổ chai và hiệu ứng người sáng lập.

– Hiệu ứng thắt cổ chai: xảy ra khi số lượng cá thể của 1 quần thể lớn bị giảm mạnh bởi một thảm hoạ.

→ Ngẫu nhiên, trong số các cá thể sống sót, một vài alen trở nên phổ biến hơn các alen khác. Một số alen có thể bị loại bỏ hoàn toàn.

– Quần thể xảy ra hiệu ứng thắt cổ chai có thể mất đi tính đa dạng di truyền trong vốn gen. Sự suy giảm các biến dị cá thể có thể dẫn tới giảm khả năng thích nghi.

– Hiệu ứng người sáng lập: xảy ra khi một quần thể mới được thành lập từ một ít các cá thể không đặc trưng cho vốn gen của quần thể gốc.

V. GIAO PHỐI KHÔNG NGẪU NHIÊN

– Giao phối không ngẫu nhiên gồm các kiểu: tự thụ phấn, giao phối cận huyết, giao phối có chọn lọc.

Giao phối không ngẫu nhiên: Không làm thay đổi tần số alen nhưng làm thay đổi thành phần kiểu gen: tăng tỉ lệ đồng hợp, giảm tỉ lệ dị hợp → làm nghèo vốn gen của quần thể.

Sinh Học 12 Chương Tiến Hóa: Lý Thuyết Trọng Tâm Và Bài Tập

05 Tháng 06, 2019

Sinh học 12 có khối lượng kiến thức lý thuyết khá lớn, đặc biệt là chương tiến hóa. Để giúp các em tiết kiệm tối đa thời gian ôn luyện với môn học này, CCBook – Đọc là đỗ đã thâu tóm lại toàn bộ kiến thức trọng tâm và những dạng bài tập cơ bản về chương này; mời các em cùng tìm hiểu:

Bằng chứng tiến hóa – Một trong những chuyên đề trong chương trình sinh học 12

Bằng chứng tiến hóa là những bằng chứng nói lên mối quan hệ giữa các loài sinh vật. Có 2 loại bằng chứng tiến hóa, cụ thể:

+ Bằng chứng trực tiếp: Hóa thạch

+ Bằng chứng gián tiếp: Bằng chứng giải phẫu so sánh; bằng chứng tế bào học; bằng chứng sinh học phân tử.

Hóa thạch là di tích của các sinh vật để lại trong các lớp đất đá của vỏ Trái Đất.

– Là bằng chứng trực tiếp cho thấy mối quan hệ giữa các sinh vật.

– Qua việc xác định tuổi của hóa thạch có thể xác định loài nào xuất hiện trước, loài nào xuất hiện sau.

– Căn cứ vào đặc điểm, tuổi của hóa thạch có thể xác định được khí hậu nơi đó.

Có 3 loại bằng chứng gián tiếp, đặc điểm của từng loại bằng chứng cụ thể như sau:

+ Bằng chứng giải phẫu so sánh: Nói về cấu tạo cơ thể cho thấy mối quan hệ giữa các loài.

+ Bằng chứng tế bào học: Mọi cơ thể sinh vật đều được cấu tạo từ tế bào.

+ Bằng chứng sinh học phân tử: Tất cả sinh vật hiện nay đều dùng chung một bảng mã di truyền, đều dùng 20 loại axit amin để cấu tạo protein.

Câu 1: Cơ quan tương đồng là những cơ quan?

Câu 2: Trong tiến hóa, các cơ quan tương đồng có ý nghĩa phản ánh?

Sinh học 12 chuyên đề cơ chế tiến hóa

Trong chuyên đề này, các em cần nắm được kiến thức về học thuyết tiến hóa Đacuyn và học thuyết tiến hóa hiện đại.

Theo Đacuyn, biến dị các thể là những sai khác giữa các cá thể cùng loài phát sinh trong quá trình sinh sản. Có thể xảy ra ở một vài cá thể riêng lẻ, là nguyên liệu cho tiến hóa và chọn giống.

+ Chọn lọc tự nhiên: là tất cả các yếu tố tác động đến sinh vật.

+ Chọn lọc nhân tạo: Là chọn giống vật nuôi, cây trồng.

Vai trò của học thuyết Đacuyn là giải thích được sự thống nhất và đa dạng của sinh giới bằng cơ chế CLTN và giải thích được các loài giống nhau là do bắt nguồn từ một nguồn gốc chung.

Học thuyết tiến hóa hiện đại giải thích về quá trình tiến hóa nhỏ, tiến hóa lớn và các nhân tố trong tiến hóa. Trong đó:

+ Tiến hóa nhỏ: Là quá trình thay đổi tần số alen và thành phần kiểu gen của quần thể. Nó diễn ra trên một quần thể, trong thời gian ngắn, có thể nghiên cứu bằng thực nghiệm.

+ Tiến hóa lớn: Quá trình hình thành các đơn vị phân loại trên loài, diễn ra trên quy mô lớn, trong thời gian hàng triệu năm.

Các nhân tố trong quá trình tiến hóa: đột biến; di – nhập gen; chọn lọc tự nhiên; yếu tố ngẫu nhiên; giao phối không ngẫu nhiên.

Chuyên đề này không có công thức sinh học 12, các câu hỏi xoay quanh lý thuyết trọng tâm; các em có thể tham khảo một số câu hỏi trắc nghiệm sau:

Câu 1: Theo khái niệm, nhân tố tiến hóa là:

Câu 2: Theo Đacuyn, CLTN thực chất là?

Sinh học 12 chuyên đề quá trình hình thành loài

Loài là một hoặc một nhóm quần thể có khả năng giao phối với nhau trong tự nhiên, sinh ra đời con có sức sống và có khả năng sinh sản, cách lo sinh sản với loài khác.

+ Cách li trước hợp tử: Là những trở ngại ngăn cản các sinh vật giao phối với nhau, ngăn cản sự thu tinh hình thành hợp tử. Được phân thành 4 loại: cách lo nơ ở; cách li theo tập tính; cách li thời vụ; và cách li cơ học.

+ Cách li sau hợp tử: Là những trở ngại ngăn cản sự phát triển của hợp tử hoặc tạo ra con lai bất thụ. Có 2 loại, đó là: hợp tử không phát triển và con lai bất thụ.

Hình thành loài là quá trình cải biến thành phần kiểu gen của quần thể theo hướng thích nghi, cách li sinh sản với quần thể gốc. Có 3 con đường hình thành loài chủ yếu, đó là:

+ Hình thành loài khác khu địa lí: Do các chướng ngại địa lí, quần thể gốc phân hóa thành nhiều quần thể khác nhau.

+ Hình thành loài cùng khu vực địa lí: Hình thành cùng khu địa lí được chia thành 2 cơ chế mới, cụ thể: hình thành bằng cahs lo tập tính và cách li sinh thái; hình thành loài bừng đột biến.

Câu 1: Cách li trước hợp tử là?

Câu 2: Lừa lai với ngựa sinh ra con la không có khả năng sinh sản. Hiện tượng này biểu hiện cho?

Mọi thông tin xin mời liên hệ:

Nguồn: chúng tôi

Evolution Vs Laws Of Science / Thuyết Tiến Hóa Vi Phạm Các Định Luật Khoa Học

Thuyết tiến hóa vi phạm một loạt định luật khoa học căn bản: các định luật Pasteur về sự sống, các định luật Mendel về di truyền, định luật 2 của nhiệt động lực học, các nguyên lý của lý thuyết thông tin,… Do đó thuyết tiến hóa không phải một lý thuyết khoa học, mà chỉ là ngụy khoa học. Essay on Philosophy of Science, presented at VIDS 18/02/2017 and some other institutes & universities II.4. Thuyết Tiến hóa vi phạm các định luật cơ bản của khoa học Evolution violates many fundamental laws of science: Pasteurian laws of life, Mendelian laws of heredity, 2nd law of thermodynamics, principles of information theory,… That’s why evolution is not a scientific theory, but just a pseudo-science.

Có nhiều định luật cơ bản của khoa học bác bỏ Thuyết Tiến hóa, nhưng trước hết hãy nói về 2 định luật do Louis Pasteur khám phá ─ Định luật Tạo sinh và Định luật Bất Đối xứng của Sự Sống. Giới tiến hóa rất sợ 2 định luật này, sợ đến nỗi không dám gọi đó là những định luật, và tìm cách che đậy sao cho càng ít người biết càng tốt.

II.4-1. Thuyết tiến hóa vi phạm Định luật Pasteur về Tạo sinh (Pasteurian Law of Biogenesis)

Có một sự thật cần làm sáng tỏ: Pasteur là đại ân nhân của nhân loại, ai cũng biết những công trạng vĩ đại của ông như khám phá về vi trùng, siêu vi trùng, tìm ra phương pháp vaccine, chữa bệnh dại, chữa bệnh than, tìm ra các phương pháp khử trùng,… nhưng ít người biết rằng Pasteur còn là khoa học khám phá ra những định luật vĩ đại về sự sống mang tính chất nguyên lý bao trùm vũ trụ, tương tự như nguyên lý vạn vật hấp dẫn, nguyên lý bảo toàn vật chất,… Khi giới tiến hóa buộc lòng phải nhắc tới những định luật của Pasteur, họ gọi đó là một “giả thuyết”, hoặc một “tính chất”,… thay vì một định luật. Đơn giản vì nếu thừa nhận đó là những định luật thì Thuyết Tiến hóa lập tức sụp đổ, như chúng ta sẽ thấy sau đây.

Đó là Định luật Tạo Sinh được toàn thế giới công nhận, và trở thành một trong những định luật nền tảng được giảng dạy trong nhà trường, ít nhất cho sinh viên ngành sinh học.

Sau thí nghiệm bình cổ cong, Pasteur tuyên bố: “Không bao giờ học thuyết sự sống hình thành tự phát còn có thể hồi phục được nữa từ cú đòn chết người mà thí nghiệm đơn giản này giáng lên nó. Không có một tình huống nào trong đó có thể xác nhận vi sinh vật nẩy sinh từ một thế giới không có vi trùng, không có cha mẹ tương tự như chúng” [9].

Nhưng Thuyết Tiến hóa bất chấp định luật này, cố gắng làm sống lại học thuyết sự sống hình thành tự phát. Đó là lý thuyết về “cái ao ấm áp” của Darwin, được hậu thế chế biến lại thành lý thuyết “nồi soup nguyên thủy”, hoặc “Thuyết Tiến hóa Hóa học”, trong đó lý luận rằng trong một điều kiện khí quyển nhất định, tại một môi trường đặc biệt, từ hàng trăm triệu hoặc hàng tỷ năm trước, một phản ứng hóa học ngẫu nhiên xảy ra, kết hợp các nguyên tử, phân tử thành sự sống đầu tiên. Nói ngắn gọn, theo thuyết tiến hóa, sự sống hình thành một cách ngẫu nhiên, tình cờ từ vật chất không sống. Đó chính là sự tiếp tục học thuyết sự sống hình thành tự phát.

Để ra khỏi tình trạng “doublethink” đó, mỗi người hay dùng trí tuệ của mình để chọn một. Đó không phải một cuộc rút thăm, mà phải bỏ công nghiên cứu tìm hiểu sự thật. Hai bài báo sau đây có thể là một gợi ý tốt:

Vấn đề quyết định là ở chỗ: lý thuyết “nồi soup nguyên thủy” của thuyết tiến hóa có đúng không? Nếu nó đúng, Định luật Tạo Sinh sẽ sai. Nhưng lý thuyết “nồi soup nguyên thủy” có đúng không?

II.4-2. Định luật Pasteur về tính Bất Đối xứng của Sự Sống (Pasteurian Law of Life Asymmetry) thách thức thuyết tiến hóa

Rất nhiều thí nghiệm đã được tiến hành nhằm tạo ra sự sống từ “nồi soup nguyên thủy”, nổi tiếng nhất là thí nghiệm Urey-Miller năm 1953, nhưng đều đã THẤT BẠI, và thất bại ngày càng thảm hại hơn. Xin đọc những thông tin sau đây để biết SỰ THẬT:

Đến nay Định luật Tạo sinh của Pasteur vẫn đứng vững, và giả thuyết của Darwin về cái ao ấm áp vẫn chỉ là giả thuyết. Thuyết Tiến hóa muốn chống lại Định luật Tạo sinh của Pasteur nhưng thất bại và chắc chắn sẽ mãi mãi thất bại.

Trước năm 1848, các nhà lý-hóa gặp một thách đố nan giải: Phân tử acid tartaric tự nhiên (chiết xuất từ nho) và phân tử acid tartaric nhân tạo (phó phẩm trong công nghiệp hoặc tổng hợp trong phòng thí nghiệm) có cấu tạo hóa học giống hệt nhau, nhưng tác động khác nhau đối với chùm ánh sáng phân cực đi qua nó ─ dung dịch acid tartaric tự nhiên làm quay mặt phẳng của chùm ánh sáng trong khi dung dịch acid tartaric nhân tạo thì không.

Năm 1848, Louis Pasteur (26 tuổi) đã chọn thách đố đó làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ về hóa học. Sau những nỗ lực kiên trì và mệt mỏi, được hướng dẫn bởi trực giác thiên tài, ông đã tìm thấy câu trả lời: Cấu trúc tinh thể của 2 loại acid đó khác nhau ─ trong khi acid tartaric nhân tạo chứa 2 loại tinh thể có cấu trúc đối xứng gương với nhau với số lượng cân bằng theo tỷ lệ 50-50, thì acid tartaric tự nhiên chỉ có một loại tinh thế. Nói một cách hình ảnh, trong khi acid tartaric nhân tạo chứa 2 loại tinh thế đối xứng như hai bàn tay – tay trái và tay phải – với tỷ lệ 50-50 thì acid tartaric tự nhiên chỉ có một bàn tay, và hầu hết là bàn tay trái ─ sự sống “thuận tay trái”!

Khái quát hóa tính chất đó, Pasteur nêu lên Định luật Bất Đối xứng của sự sống ─ ông khám phá ra rằng hầu hết phân tử của sự sống đều có cấu trúc bàn tay trái, chỉ có vài ngoại lệ có cấu trúc bàn tay phải. Nhưng dù thuận bàn tay trái hay bàn tay phải, phân tử của sự sống cũng bất đối xứng. Đó là ranh giới phân biệt sự sống với cái không sống ─ ở đâu có phân tử chỉ thuận bàn tay trái, ở đó có sự sống, và ngược lại, ở đâu có sự sống, ở đó phân tử chỉ thuận bàn tay trái. Đó là một tiên tri thiên tài: Sinh học phân tử hiện đại xác nhận hầu hết acid amin của sự sống đều thuận tay trái!

Vì thế, ngay cả những người ngấm ngầm khó chịu với Pasteur cũng phải thừa nhận rằng đây là khám phá vĩ đại nhất của Pasteur, vì nó mang tầm vóc một nguyên lý phổ quát trong vũ trụ. Bản thân Pasteur cuối đời có lúc đã ân hận vì không tiếp tục phát triển đề tài nghiên cứu này tới mức độ sâu sắc hơn. Nhưng trong thâm tâm, ông cho rằng bản thân vũ trụ là bất đối xứng, ông ngờ rằng có một lực nào đó trong vũ trụ quyết định tính chất bất đối xứng. Đây, ông tuyên bố:

“Vũ trụ là bất đối xứng và tôi bị thuyết phục rằng sự sống, như chúng ta đã biết, là kết quả trực tiếp của tính bất đối xứng của vũ trụ hoặc hệ quả gián tiếp của nó. Vũ trụ là bất đối xứng” (The universe is asymmetric and I am persuaded that life, as it is known to us, is a direct result of the asymmetry of the universe or of its indirect consequences. The universe is asymmetric).

Đó là một trực giác thiên tài, bởi vì vật lý lượng tử thế kỷ 20 đã xác nhận vũ trụ bất đối xứng ─ vật chất và phản vật chất không cân bằng trong vũ trụ!

Định luật bất đối xứng là hòn đá khổng lồ cản đường Thuyết Tiến hóa. Thật vậy, giới tiến hóa rất đau đầu với định luật này. Một, họ không biết tại sao phân tử của sự sống chỉ thuận tay trái. Hai, họ đã cố gắng chế tạo ra acid amin (thí nghiệm Urey-Miller 1953), hòng chế tạo ra sự sống đầu tiên, nhưng cái mà họ tạo ra không phải là sự sống, vì chỉ thu được vài acid amin cân bằng phải-trái với tỷ lệ 50-50. Cuối cùng họ đổ thừa cho vũ trụ, rằng phân tử chỉ thuận tay trái có sẵn trong vũ trụ, và các thiên thạch đã mang chúng đến trái đất. Tóm lại là họ chuyển bài toán từ trái đất lên vũ trụ, thay vì tìm ra câu trả lời. Tạp chí Futurism ngày 16/06/2016 chạy một hàng tít lớn nêu câu hỏi: ” Did you know: All life on Earth are left-handed? And we don’t know why. ” (Bạn có biết mọi sự sống đều thuận tay trái? Nhưng chúng ta không biết tại sao).

Ai muốn cãi rằng tính chất sự sống thuận tay trái không phải một định luật thì hãy khởi kiện tạp chí Futurism, vì tiêu đề của bài báo nói trên đã quy cho tính chất thuận tay trái là một định luật rồi. Việc chối cãi đây không phải định luật chỉ nói lên nỗi sợ hãi định luật đó mà thôi.

II.4-3. Các Định luật Mendel về Di truyền (Mendelian Laws of Heredity) bác bỏ thuyết tiến hóa II.4-4. Thuyết tiến hóa trái với Định luật 2 của Nhiệt Động lực học (2nd Law of Thermodynamics)

Tóm lại, Định luật Bất Đối xứng của Sự Sống nói lên một quy luật do Bà Mẹ Tự Nhiên áp đặt lên sự sống, loài người chỉ có thể khám phá ra quy luật đó chứ không thể chứng minh nó.Tham vọng tạo ra sự sống đầu tiên rốt cuộc là một ý tưởng điên rồ, muốn làm thay công việc của Bà Mẹ Tự Nhiên. Định luật Sự Sống Bất Đối Xứng do Pasteur khám phá rõ ràng là một thách thức trêu ngươi đối với Thuyết Tiến hóa, một thông điệp nhắn nhủ với các nhà tiến hóa rằng Thuyết Tiến hóa là một lý thuyết không hiểu biết Tự Nhiên, mặc dù nó được coi là một lý thuyết theo chủ nghĩa tự nhiên (Naturalism).

Để biết rõ hơn về Định luật Bất Đối xứng của Sự Sống, xin đọc bài:

Khi đề cập đến sự di truyền trong Thuyết Tiến hóa, phải nói ngay rằng tư tưởng về di truyền của Darwin hoàn toàn SAI. Thực tế, Darwin đã áp dụng quan niệm di truyền của Lamark để giải thích sự tiến hóa. Sự di truyền kiểu Lamark là sự di truyền các đặc tính mới giành được (acquired characteristics) của sinh vật trong quá trình sống, thích nghi và tương tác với môi trường. Nói cách khác, đó là sự di truyền các đặc tính phi bẩm sinh. Gần đây xuất hiện những lý thuyết bênh vực cho Lamark-Darwin, nhưng còn quá xa để có thể được toàn thể cộng đồng khoa học chấp nhận. Điều quan trọng là ở chỗ Thuyết Tiến hóa hoàn toàn trái với các Định luật Mendel về Di truyền ─ trong khi các Định luật Mendel cho thấy đặc trưng của LOÀI là cố định (bởi theo Mendel, sự di truyền của loài tuân thủ các định luật chặt chẽ) thì Thuyết Tiến hóa lại nói loài này có thể biến thành loài khác, tức là phá hủy cấu trúc di truyền.

Vì thế các nhà tiến hóa hoảng sợ khi các Định luật Mendel về Di truyền được tái khám phá vào đầu thế kỷ 20. Họ lập tức tìm cách sửa chữa Thuyết Tiến hóa sao cho “hòa hợp” với lý thuyết Mendel. Đó là lý do ra đời cái gọi là Học thuyết Tân-Darwin (Neo-Darwinism), trong đó các nhà tiến hóa sáng chế ra một lý thuyết mới ─ lý thuyết đột biến gene trong đó nói rằng sự tích lũy các đột biến sau hàng triệu thế hệ sẽ dẫn tới loài mới. Họ đã dùng tia X để bắn phá ruồi dấm với hy vọng sẽ xuất hiện đột biến và sau hàng triệu thế hệ, ruồi dấm sẽ biến thành loài mới. Kết quả là hàng đống ruồi dấm méo mó bệnh hoạn, ruồi dấm vẫn là ruồi dấm, ruồi dấm không bao giờ biến thành bất cứ con vật nào khác.

II.4-5. Lý thuyết Thông tin (Theory of Information) bác bỏ thuyết tiến hóa

Về mặt lý thuyết, một hội nghị khoa học lớn tập hợp vài trăm nhà khoa học bao gồm sinh học, toán học, vật lý học, đã được tổ chức tại Viện Wistar ở Philadelphia năm 1966 nhằm đánh giá xem liệu Học thuyết Tân-Darwin có dẫn tới những kết quả mong muốn hay không.

Câu trả lời là KHÔNG! Để biết rõ câu trả lời đó, xin đọc :

Định luật 2 của Nhiệt Động lực học (còn gọi là Định luật Entropy) nói rằng mọi hệ động lực học khép kín, tức là hệ không có sự trao đổi năng lượng với bên ngoài, đều có xu hướng ngày càng hỗn độn, vô trật tự. Nói cách khác, entropy ─ đại lượng đo mức độ vô trật tự của một hệ động lực học khép kín luôn luôn không giảm.

Trong khi đó, Thuyết Tiến hóa nói sự sống tiến hóa từ đơn giản đến phức tạp, từ bậc thấp đến bậc cao, tức là trật tự ngày càng cao, hoàn toàn trái với Định luật Entropy.

Giới tiến hóa cãi rằng Định luật Entropy chỉ đúng với hệ đóng kín, trong khi sự sống là một hệ mở, được cung cấp năng lượng từ mặt trời. Ý kiến này SAI, vì 2 lý do sau đây:

Một, thực ra không có hệ nào là tuyệt đối đóng kín. Trong thực tế, mọi hệ đều ít hoặc nhiều đều mở, và mọi hệ đều có xu hướng tăng entropy. Vì thế, Định luật Entropy thực ra mang tính phổ quát trong toàn vũ trụ, mọi hệ đều có xu hướng tăng entropy. Nếu entropy không đổi hoặc giảm, đó chỉ là tạm thời, khi nó còn có đủ năng lượng để duy trì trật tự đang có. Khi năng lượng đó hết, entropy lập tức tăng lên. Thực tế không có hệ thống nào được cung cấp năng lượng vô hạn để duy trì trật tự mãi mãi. Do đó chiều hướng tăng entropy nói chung là bất khả kháng.

Hai, tuy Trái Đất được cung cấp năng lượng của Mặt Trời, nhưng năng lượng không đủ để duy trì sự sống. Đặt một sinh vật liên tục ngoài trời nắng, sinh vật đó sẽ chết, thay vì duy trì và phát triển sự sống. Vậy năng lượng mặt trời phải được sử dụng một cách thông minh và có hiệu quả theo một chương trình kế hoạch hợp lý thì sự sống mới được duy trì và phát triển. Cái gì làm công việc chỉ dẫn sử dụng năng lượng mặt trời như thế? Thông tin! Phải có thông tin, mệnh lệnh chỉ dẫn các tế bào sử dụng năng lượng mặt trời. Thông tin ấy từ đâu ra? Vật chất, các phản ứng hóa học không thể tự nó tạo ra thông tin. Thuyết Tiến hóa bất lực trong việc tạo ra thông tin chỉ dẫn sự sống. Vì thế sự sống sẽ không thể sinh sôi nẩy nở nếu không có thông tin, mặc dù có năng lượng mặt trời.

DNA bác bỏ thuyết tiến hóa

Tóm lại, Thuyết Tiến hóa SAI, vì nó phản lại Định luật 2 của Nhiệt Động lực học, một trong những nguyên lý cơ bản nhất của vũ trụ, sánh ngang với các nguyên lý vũ trụ khác, như vạn vật hấp dẫn, tương đối tính,… Xin đọc:

Lý thuyết Thông tin hiện đại nêu lên 2 nguyên lý cơ bản, giống như những tiên đề trong toán học:

CHÚ THÍCH

Một, thông tin là thông tin, thông tin không phải là vật chất hay năng lượng, thông tin tồn tại độc lập với vật chất và năng lượng, mặc dù con người nhận biết được thông tin thông qua vật chất.

Hai, mọi thông tin đều xuất phát từ một nguồn trí tuệ thông minh.

Nếu có nhà tiến hóa nào đó không thừa nhận 2 tiên đề trên thì người ấy không đủ kiến thức để hiểu câu nói sau đây của Nobert Wiener, cha đẻ của cybernetics (điều khiển học):

“Thông tin là thông tin, thông tin không phải vật chất hay năng lượng, lý thuyết vật chất nào không thừa nhận điều đó thì sẽ không thể sống sót trong thời đại ngày nay”.

Nhưng nếu thừa nhận 2 tiên đề trên thì Thuyết Tiến hóa sụp đổ. Bởi lẽ:

Một, Thuyết Tiến hóa thuần túy dựa trên các phản ứng hóa học để giải thích sự hình thành sự sống. Nhưng phản ứng hóa học thuần túy không thể tạo ra thông tin để hướng dẫn các nguyên tử, phân tử tập hợp lại theo những chương trình định trước nhằm tạo ra sự sống.

Hai, Thuyết Tiến hóa không thừa nhận và không thể giải thích nguồn trí tuệ thông minh của mã DNA.

Tóm lại, Lý thuyết Thông tin tự động bác bỏ Thuyết Tiến hóa.

Như tiên đề 2 của Lý thuyết Thông tin đã nói ở trên, mọi thông tin đều phải có nguồn trí tuệ thông minh của nó. Mã DNA là thông tin, nó không phải là phân tử DNA. Phân tử DNA chỉ là vật chất chứa thông tin về sự sống. Vậy mã DNA xuất phát từ nguồn trí tuệ thông minh nào? Thuyết Tiến hóa sẽ không bao giờ trả lời được câu hỏi này, nhưng các nhà sinh học hàng đầu đã trả lời. Những người theo Lý thuyết Thiết kế Thông minh (Theory of Intelligent Design) trả lời đó là Nhà Thiết kế Vũ Trụ, hoặc Nhà Lập trình Vũ trụ. Đó chính là Chúa của Albert Einstein, và cũng là Chúa của Francis Collins, một trong 2 nhà lãnh đạo chương trình Bản đồ Gene Người (Human Genome) công bố năm 2000. Đối với Collins, mã DNA là “Ngôn ngữ của Chúa”, như tên cuốn sách của ông đã xuất bản: “The Language of God”. Đứng cạnh Collins trong lễ công bố Bản đồ Gene Người, tổng thống Bill Clinton tuyên bố: “Chúng ta đang học thứ ngôn ngữ trong đó Chúa sáng tạo ra sự sống”.

Để thấy rõ Lý thuyết Thông tin bác bỏ Thuyết tiến hóa như thế nào, xin đọc:

[9] Wikipedia / Louis Pasteur

Cập nhật thông tin chi tiết về Dna: Mật Mã Nhỏ Xíu Đang Lật Đổ Thuyết Tiến Hóa trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!