Xu Hướng 2/2023 # Định Nghĩa Subsistence Farming / (Nền) Nông Nghiệp Tự Túc; Nông Nghiệp Sinh Tồn Là Gì? # Top 7 View | 2atlantic.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Định Nghĩa Subsistence Farming / (Nền) Nông Nghiệp Tự Túc; Nông Nghiệp Sinh Tồn Là Gì? # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Định Nghĩa Subsistence Farming / (Nền) Nông Nghiệp Tự Túc; Nông Nghiệp Sinh Tồn Là Gì? được cập nhật mới nhất trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Khái niệm thuật ngữ

(không có thừa để xuất khẩu). Nông nghiệp tự cung tự cấp: Nông nghiệp trong đó sản xuất nông sản, nuôi gia súc và các hoạt động khác được tiến hành chủ yếu để tiêu thụ, đặc trưng bởi năng suất thấp, rủi ro và sự bất trắc. Xem thêm SUBSISTENCE ECONOMY

Đất Phi Nông Nghiệp Là Gì? Quy Định Về Đất Phi Nông Nghiệp?

Đất phi nông nghiệp là gì? Quy định về đất phi nông nghiệp? Những điểm mới của Luật đất đai năm 2013 về đất phi nông nghiệp.

Việc sử dụng đất phi nông nghiệp một cách hợp lí sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội của nước nhà. Luật đất đai năm 2013 đã quy định cụ thể, đất phi nông nghiệp cũng được phân ra nhiều loại đất khác nhau tùy vào mục đích sử dụng đất.

1. Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại sau:

– Đất ở gồm đất tại nông thôn, đất ở tại đô thị:

+ Đất ở tại nông thôn, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt cho phép hộ gia đình, cá nhân sử dụng một cách phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng điểm dân cư thông thôn. Trong đó bao gồm đất để xây dựng nhà ở, đất xây dựng công trình phục vụ đời sống, vườn, ao trong cùng thửa đất thuộc khu dân cư nông thôn.

+ Đất ở tại đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt cấp phép quyền sử dụng. Loại đất này bao gồm đất để xây dựng nhà ở, đất xây dựng công trình nhằm phục vụ đời sống, vườn, ao trong cùng một thửa đất thuộc quy hoạch khu dân cư đô thị. Ngày nay các khu đô thị có xu hướng gia tăng một cách rõ rệt, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, việc quản lí, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị các khu đô thị lại càng cần được quy định một cách chặt chẽ, hợp lí và triệt để hơn;

– Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp:

+ Loại đất được dùng vào mục đích xây dựng các cơ quan nhà nước, căn cứ tổ chức chính trị hoặc các tổ chức chính trị xã hội thì được coi là đất xây dựng trụ sở cơ quan.

– Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng,an ninh: Nhà nước quy định cụ thể việc thu hồi đất, trưng dụng đất vào mục đích quốc phòng an ninh tại Điều 61 Luật đất đai năm 2013; Việc nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh nhằm đảm bảo phục vụ cho việc bảo vệ an ninh quốc gia, luôn sẵn sàng khi đất nước rơi vào hoàn cảnh khó khăn hoặc có sự đe dọa vũ lực, vũ trang từ bên ngoài.

– Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp bao gồm: Đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cụm chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;

– Đất sử dụng vào mục đích công cộng: nhằm phục vụ cho nhu cầu toàn dân, trong đó bao gồm đất giao thông (cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); đất thủy lợi; đất có di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông, đất chợ; đất bãi thải, xử lí chất thải và đất công trình công cộng khác;

– Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng:

+ Đất cơ sở tôn giáo, nhằm phục vụ cho nhu cầu trong tôn giáo ngày một trở lên rộng rãi trong nhân dân, loại đất này bao gồm đất thuộc chùa, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được nhà nước cho phép hoạt động.

+ Đất tín ngưỡng bao gồm đất có công trình đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; trong những năm trở lại đây, xu hướng xây dựng từ đường và nhà thờ họ của người dân ngày một gia tăng, vấn đề sử dụng đất vào mục đích này cũng cần quan tâm và quy hoạch một cách chặt chẽ.

– Đất sông ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng: Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu nhóm đất này được quản lý và sử dụng theo quy định sau đây:

+ Đối với đất có mặt nước chuyên dùng vào mục đích phi nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp kết hợp với nuôi trồng và khai thác thủy sản, nhà nước giao cho tổ chức để quản lí sử dụng và khai thác.

+ Nhà nước tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối thuê, sử dụng để phát triển kinh tế và thu tiền thuê đất mỗi năm.

+ Hằng năm nhà nước cho thuê đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và thu tiền thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện dự án đầu tư nuôi trồng thủy sản. Việc này góp phần tạo thêm một nguồn thu lớn cho Việt Nam và thu hút vốn đầu tư từ các nước, thúc đẩy kinh tế phát triển cùng với sự giao lưu văn hóa giữa các nước.

– Cuối cùng là đất phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho, nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở.

Các quy định về từng loại đất được quy định cụ thể từ Điều 143 đến Điều 163 Luật đất đai năm 2013.

– Về quản lý đất ở tại đô thị: luật đất đai 2013 đã bỏ điều luật quy định cụ thể về trường hợp UBND cấp tỉnh được giao đất hoặc cho thuê đất từng được quy định trong “Luật đất đai 2013” vì nội dung Chương giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đã được quy định riêng.

– So với “Luật đất đai 2013”, Luật đất đai 2013 cũng đưa ra khái niệm rộng hơn về đất xây dựng chung cư bao gồm đất để xây dựng nhà chung cư, xây dựng các công trình phục vụ cho các hộ gia đình trong nhà chung cư và các công trình phục vụ cộng đồng, nhằm mục đích tránh bỏ sót những công trình cộng đồng mà trước đây chưa có chế định quản lý.

– Luật đất đai 2013 đã chuyển Điều 87 Luật đất đai về xác định đất ở đối với trường hộ có vườn, ao vào Chương đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.

– Trong khoản 3 Điều 146 Luật đất đai 2013 cũng được quy định bổ sung thêm: “Khi thực hiện các dự án hạ tầng kỹ thuật, xây dựng, chỉnh trang khu đô thị, khu dân cư nông thôn, Nhà nước chủ động thu hồi đất, bao gồm đất để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng và đất vùng phụ cận theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất. Để đảm bảo việc chỉnh trang đô thị được thực hiện đồng bộ, bảo đảm quyền lợi của những người có đất bị thu hồi.”

– Tại Điều 146 Luật đất đai 2013 quy định riêng biệt đất xây dựng trụ sở công an và đất xây dựng công trình sự nghiệp tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà không gộp chung như đã quy định trong “Luật đất đai 2013”, ngoài ra còn sửa đổi, bổ sung thêm từ ngữ tại khoản 4 và khoản 5.

– Về đất sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh tại Điều 148 Luật đất đai 2013: Bỏ khoản 1 Điều 89 “Luật đất đai 2013” và chuyển lên Chương giao thuê để xác định rõ các trường hợp sử dụng đất vào mục đích quốc phòng an ninh.

Đất Phi Nông Nghiệp Là Gì? Quy Định Về Các Loại Đất Phi Nông Nghiệp

1. Đất phi nông nghiệp là gì?

– Khái niệm: Đất phi nông nghiệp là loại đất không được quyền sử dụng cho mục đích nông nghiệp như: đất nông nghiệp, đất ở nông thôn, đất ở đô thị, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất lâm nghiệp, và một số loại đất khác có mục đích sử dụng không dùng để làm nông nghiệp.

– 8 nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm: + Nhóm 1: Đất ở gồm đất tại nông thôn, đất ở tại đô thị.

Đối với đất tại nông thôn, thì được sự phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép với đối tượng là hộ gia đình hoặc cá nhân sử dụng đất đúng theo quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn.

Đối với đất ở tại đô thị, khi được sự phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép quyền sử dụng, gồm những công trình để xây dựng nhà ở, vườn, ao, trong cùng một khu đất đã có quy hoạch của khu dân cư đô thị.

Khi mà xu hướng phát triển các khu đô thị ngày càng gia tăng, cuộc sống cư dân cùng được nâng cao hơn, thì việc quy hoạch xây dựng ở các đô thị lớn càng cần được quy định và quản lý một cách chặt chẽ và triệt để.

+ Nhóm 2: Đất xây dựng trụ sở cho cơ quan, hoặc xây dựng công trình sự nghiệp.

Đối với loại đất xây dựng trụ sở cơ quan, thì nên căn cứ vào tổ chức chính trị hoặc tổ chức chính trị xã hội.

Đối với đất xây dựng công trình sự nghiệp bao gồm các ngành về KT- XH- VH – GD, TDTT, môi trường, ngoại giao,..Nhu cầu về loại đất này đang tăng lên song song với sự. Đất xây dựng công trình sự nghiệp, hiện nay nhu cầu sử dụng đất vào mục đích này đang ngày một tăng lên song song với sự phát triển kinh tế của xã hội.

+ Nhóm 3: Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh.

Đối với loại đất này, Nhà nước có những quy định cụ thể việc thu hồi đất, trưng dụng đất vào mục đích quốc phòng an ninh theo Điều 61 Luật đất đai (2013). Đảm bảo cho việc phục vụ và bảo đảm an ninh quốc gia, cho quốc phòng của nước ta luôn trong tư thế sẵn sàng khi rơi vào khó khăn hoặc bị đe dọa vuc trang từ bên ngoài.

+ Nhóm 4: Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.

Đối tượng của nhóm này bao gồm những loại đất sau: Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm, Đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cụm chế xuất; đất thương mại, dịch vụ;

+ Nhóm 5: Đất sử dụng vào mục đích công đồng.

Đối tượng của nhóm này chú trọng đến lợi ích của công đồng bao gồm giao thông (cầu đường, sây bay, đường sắt, đường bộ,..), đất di tích, lịch sử, danh lam thắng cảnh, khu vui chơi – giải trí, đất công trình năng lượng, đất công trình bưu chính, đất bãi thải, xử lý chất thải, đất công trình công cộng,…

+ Nhóm 6: Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng

Theo đúng như mục đích là phục vụ cho những nhu cầu về tín ngưỡng, tôn giáo. Bao gồm đất thuộc chùa, nhà nguyện, thánh đường, thánh thất, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo của tôn giáo, và các cơ sở khác của tôn giáo được nhà nước công nhận và cho phép hoạt động. Với tín ngưỡng là đình, đền, miếu,..

+ Nhóm 7: Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng.

Đối với nhóm đất này phải được quy hoạch thành khu tập trung, phù hợp với những tiêu chuẩn về sử dụng đất, xa khu dân cư, đảm bảo môi trường sống và thuận tiện cho sự thăm viếng và chôn cất.

+ Nhóm 8: Đất sông ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng.

Nhóm đất này tập trung chủ yếu với đất có mặt nước chuyên dùng vào mục đích phi nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp liên kết với việc nuôi trồng và khai thác hải sản, được nhà nước giao cho tổ chức nhằm khai thác và sử dụng.

2. Vậy đất phi nông nghiệp có được xây nhà hay không?

Theo luật mới tại Khoản 1 Điều 6 Luật Đất đai 2013, đất phi nông nghiệp nếu muốn xây nhà ở thì phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Ngoài ra, nên tuân thủ và sử dụng đúng mục đích với từng nhóm đất như trên để không vi phạm pháp luật.

Ví dụ như, nếu là đất sản xuất hay kinh doanh phi nông nghiệp thì nên dùng để xây dựng các công trình phục vụ cho cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản, đất sản xuất vật liệu xây dựng…

Những giấy tờ mà bạn cần cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất bao gồm:

+ Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất phi nông nghiệp sang đất ở + Giấy CNQSDĐ tại Bộ TN&MT. + Sau đó Bộ TN&MT sẽ trình lên UBND cấp huyện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn

THÔNG TƯ

CỦA BỘ LÂM NGHIỆP SỐ 32/TCCB NGÀY 9 THÁNG 9 NĂM 1982 HƯỚNG DẪN XÂY DỰNG VÀ KIỆN TOÀN CÁC LỰC LƯỢNG QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG

Trong những năm qua Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy định về công tác quản lý, bảo vệ rừng.

Thi hành các văn bản của Nhà nước, công tác quản lý bảo vệ rừng trong những năm gần đây đã có những chuyển biến, tiến bộ bước đầu. Song nhìn chung, rừng và đất lâm nghiệp vẫn chưa được quản lý, bảo vệ tốt. Nhiều nơi tình trạng phá hại rừng vẫn rất nghiêm trọng. Diện tích rừng đang tiếp tục bị thu hẹp nhanh chóng. Tài nguyên rừng bị giảm sút nhiều. Một trong những nguyên nhân xảy ra tình trạng đó là công tác quản lý bảo vệ rừng chưa thể hiện được phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, lực lượng quần chúng bảo vệ rừng chưa được xây dựng rộng khắp, kiểm lâm nhân dân là lực lượng chuyên trách và nòng cốt trong việc quản lý, bảo vệ rừng, nhưng chưa được củng cố và kiện toàn về mọi mặt. Trong mấy năm gần đây, các cơ sở kinh doanh lâm nghiệp lại không có lực lượng chuyên trách làm công tác quản lý bảo vệ rừng; một số nơi tuy có đưa kiểm lâm nhân dân vào hoạt động tại lâm trường nhưng do tổ chức và lề lối làm việc chưa hợp lý nên hoạt động hiệu quả thấp.

Bộ ra thông tư này hướng dẫn việc kiện toàn các lực lượng quản lý, bảo vệ rừng nhằm khắc phụ những tồn tại thiếu sót trên, tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả hơn.

I. PHÂN LOẠI ĐỐI TƯỢNG RỪNG VÀ PHÂN ĐỊNH TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ BẢO VỆ RỪNG

a) Rừng kinh tế tập trung: Rừng này đã giao cho các tổ chức quốc doanh lâm nghiệp (như liên hiệp xí nghiệp lâm công nghiệp, lâm trường quốc doanh trực thuộc trung ương hoặc trực thuộc Sở, Ty lâm nghiệp địa phương). Trên cơ sở quy hoạch, thiết kế kinh doanh, Giám đốc các tổ chức quốc doanh lâm nghiệp chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trong phạm vi ranh giới được giao. Để giúp giám đốc thực hiện việc này, mỗi liên hiệp lâm công nghiệp, lâm trường (kể cả lâm trường trung ương và địa phương ) được thành lập phòng quản lý, bảo vệ rừng ở cơ quan liên hiệp hoặc lâm trường. Trong phạm vi đất đai được giao, liên hiệp lâm trường chia thành các phân trường, tiểu khu rừng để phù hợp với quản lý bảo vệ rừng và kinh doanh rừng. Mỗi phân trường có diện tích khoảng 1000 héc ta, mỗi tiểu khu kinh doanh đặc sản rừng trồng có thể nhỏ hơn.

Biên chế, kinh phí, phương tiện hoạt động của cán bộ quản lý, bảo vệ rừng nằm trong tổng biên chế, kinh phí và trang bị phương tiện của lực lượng kiểm lâm nhân dân do Bộ Lâm nghiệp phân bổ, giám đốc các liên hiệp, lâm trường trung ương thủ trưởng các Sở, Ty lâm nghiệp tổ chức thực hiện.

b) Rừng kinh tế ở các hợp tác xã lâm nông nghiệp là những diện tích rừng và đất rừng đã được Nhà nước giao cho hợp tác xã kinh doanh theo quy hoạch, kế hoạch và luật pháp của Nhà nước. Trên cơ sở rừng được giao, ban quản trị hợp tác xã chịu trách nhiệm bảo vệ rừng và trồng rừng trên đất lâm nghiệp trong phạm vi ranh giới được giao. Để giúp ban quản trị thực hiện việc này, mỗi hợp tác xã cần tổ chức lực lượng quần chúng bảo vệ rừng dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của ban lâm nghiệp xã và hạt kiểm lâm nhân dân cấp huyện sở tại về tổ chức nghiệp vụ.

c) Nhà nước giao rừng cho các nông trường , đơn vị, quân đội, công an nhân dân vũ trang, trường học… để quản lý kinh doanh, các đơn vị này cũng phải cử người ra để bảo vệ rừng Nhà nước giao dưới sự chỉ đạo của hạt kiểm lâm nhân dân sở tại.

Tất cả các khu rừng đã được Nhà nước quyết định khoanh cấm, phải được bảo vệ nghiêm ngặt. Lực lượng kiểm lâm nhân dân các cấp trực tiếp phụ trách việc này.

a) Những khu rừng cấm quan trọng có tính chất quốc gia, Bộ sẽ đề nghị với Hội đồng Bộ trưởng cho thành lập vườn quốc gia hoặc khu rừng cấm quốc gia trực thuộc Bộ, có ban Giám đốc quản lý rừng cấm, có lực lượng kiểm lâm nhân dân chuyên trách quản lý rừng cấm.

b) Những khu rừng cấm đã giao cho cơ quan Nhà nước quản lý như cơ quan văn hoá, du lịch v.v… thì thủ trưởng các cơ quan đó chịu trách nhiệm tổ chức lực lượng quản lý bảo vệ rừng, dưới sự hướng dẫn , giúp đỡ, kiểm tra của hạt kiểm lân nhân dân địa phương.

c) Những khu rừng cấm khác chưa giao cho một cơ quan Nhà nước quản lý, thì rừng thuộc ranh giới địa phương nào do Uỷ ban nhân dân địa phương đó chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ. Các khu rừng cấm thuộc tỉnh hoặc thuộc huyện, tuỳ theo tính chất quan trọng và quy mô mà có thể thành lập ban giám đốc khu rừng cấm hoặc trạm quản lý khu rừng cấm, có lực lượng kiểm lâm nhân dân chuyên trách quản lý. Khu rừng cấm thuộc tỉnh thì các Sở, Ty Lâm nghiệp trực tiếp quản lý. Những khu rừng cấm thuộc huyện thì các ban Lâm nghiệp quản lý, nơi nào chưa có ban lâm nghiệp thì hạt kiểm lâm nhân dân huyện trực tiếp quản lý.

3. Rừng phòng hộ và các loại rừng khác.

Rừng phòng hộ đầu nguồn trong tỉnh, trong huyện và những khu rừng và đất rừng hiện nay chưa giao cho tổ chức nào quản lý kinh doanh, nếu thuộc địa phận của cấp nào thì tổ chức lâm nghiệp cấp ấy chịu trách nhiệm bố trí kiểm lâm nhân dân cấp đó quản lý bảo vệ.

Những khu rừng cấm hoặc rừng phòng hộ nằm trong quy hoạch giao cho liên hiệp lâm công nghiệp hoặc lâm trường quản lý thì do giám đốc liên hiệp lâm trường chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý theo quy chế quản lý khu rừng cấm và rừng phòng hộ.

II. VỀ TỔ CHỨC, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CÁC LỰC LƯỢNG QUẢN LÝ BẢO VỆ RỪNG

Hệ thống tổ chức quản lý bảo vệ rừng từ trung ương đến cơ sở như sau:

1. Cục kiểm lâm nhân dân: Ở trung ương có cục kiểm lâm nhân dân trực thuộc Bộ Lâm nghiệp. Nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của cục kiểm lâm nhân dân được thực hiện theo Quyết định số 11-TCh ngày 5-1-1982 của Bộ Lâm nghiệp quy định.

2. Chi cục kiểm lâm nhân dân: Ở tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương có chi cục kiểm lâm nhân dân trực thuộc Sở, Ty lâm nghiệp . Ở những nơi chưa có Sở, Ty lâm nghiệp thì chi cục kiểm lâm nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Ủ y ban nhân dân tỉnh, thành phố.

Chi cục kiểm lâm nhân dân là cơ quan có đủ tư cách pháp nhân, là đơn vị dự toán cấp III, được Sở, Ty lâm nghiệp cấp kinh phí sự nghiệp quản lý, bảo vệ rừng và xây dựng cơ bản theo chỉ tiêu kế hoạch phân bổ của Bộ Lâm nghiệp, được mở tài khoản tại Ngân hàng và được sử dụng con dấu riêng để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn.

Tổ chức của chi cục phải gọn nhẹ, bảo đảm chất lượng cán bộ, hoạt động có hiệu lực.

Chi cục được thành lập các phòng quản lý bảo vệ rừng; pháp chế kiểm thu; tổ chức hành chính kế toán tổng hợp. Tuỳ theo biên chế chung của lực lượng kiểm lâm nhân dân toàn tỉnh nhiều hay ít mà bố trí số cán bộ, nhân viên ở cơ quan chi cục cho hợp lý, tỉ lệ không quá 6% tổng số biên chế được duyệt.

Trong những trường hợp đặc biệt, tỉ lệ trên không bảo đảm công tác, thì Sở, Ty phải trình Bộ xét duyệt.

3. Hạt kiểm lâm nhân dân. Ở các huyện và thị xã nơi có rừng có hạt kiểm lâm nhân dân trực thuộc ban lâm nghiệp huyện. Nơi chưa có ban lâm nghiệp huyện thì hạt kiểm lâm nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Ủ y ban nhân dân huyện về mặt tổ chức chỉ đạo và Sở, Ty lâm nghiệp (chi cục kiểm lâm nhân dân) về chuyên môn nghiệp vụ.

Hạt kiểm lâm nhân dân cấp huyện là đơn vị sự nghiệp cấp cơ sở của Chi cục kiểm lâm nhân dân, đơn vị hạch toán báo sổ, được cấp kinh phí sự nghiệp quản lý bảo vệ rừng và các kinh phí khác, được sử dụng con dấu riêng làm nhiệm vụ.

Tổ chức ở cơ quan hạt kiểm lâm nhân dân cấp huyện phải gọn nhẹ, bảo đảm chất lượng cán bộ, hoạt động có hiệu lực. Cơ quan hạt được bố trí nhiều nhất không quá 8 người kể cả lãnh đạo hạt. Nhiệm vụ cơ bản của hạt là bố trí cán bộ, nhân viên kiểm lâm nhân dân thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng đến tận tiểu khu rừng. Hạt có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý bảo vệ rừng, hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc việc quản lý, bảo vệ rừng toàn huyện về các mặt tuyên truyền vận động quần chúng thi hành luật pháp, hoạt động nghiệp vụ kỹ thuật quản lý, bảo vệ rừng, thu nộp tiền nuôi rừng…

4. Hạt kiểm soát lâm sản được thành lập để làm nhiệm vụ kiểm soát lâm sản ở những đầu mối giao thông quan trọng (đường thuỷ, đường sắt, đường bộ). Hạt phải bố trí các trạm kiểm soát lâm sản, hoạt động có hiệu lực, tập trung vào các vùng trọng điểm có tệ mua bán, vận chuyển, tàng chữ trái phép lâm sản. Hạt kiểm soát lâm sản là đơn vị sự nghiệp cấp cơ sở của chi cục kiểm lâm nhân dân, đơn vị kế toán báo sổ, được chi cục cấp kinh phí sự nghiệp quản lý, bảo vệ rừng và các kinh phí khác, được sử dụng con dấu riêng để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được giao. Trạm kiểm soát lâm sản của hạt do chi cục bố trí, Sở, Ty lâm nghiệp phê duyệt; việc bố trí này có kết hợp với các trạm kiểm soát khác ở các tỉnh và vùng lân cận để bảo đảm việc kiểm soát, tránh trùng, sót, tràn lan.

Biên chế của cơ quan hạt kiểm soát lâm sản không quá 6 người kể cả lãnh đạo hạt, để đưa phần lớn cán bộ , nhân viên của hạt đến các trạm làm việc trực tiếp tại hiện trường.

5. Phòng quản lý, bảo vệ rừng trong liên hiệp, lâm trường, có nhiệm vụ giúp giám đốc tổ chức thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng trong phạm vi đất đai mà liên hiệp, lâm trường đã được Nhà nước giao cho để tổ chức quản lý, kinh doanh. Lực lượng quản lý bảo vệ rừng trong liên hiệp, lâm trường phải được bố trí xuống các tiểu khu rừng. Phòng quản lý, bảo vệ rừng có các nhiệm vụ cụ thể như sau:

– Nắm vững tình hình rừng và đất lâm nghiệp.

– Đưa công tác quản lý, bảo vệ rừng vào việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, thiết kế kinh doanh rừng.

– Kiểm tra việc thực hiện đúng thiết kế khai thác, tu bổ, trồng rừng… trong sản xuất kinh doanh.

– Tổ chức thực hiện việc phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng trừ sâu hại rừng, phát hiện và ngăn ngừa việc phá rừng trái phép, lấn chiếm đất rừng, săn bắt chim thú rừng trái phép.

– Trong khi thi hành nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra việc thi hành các chế độ, thể lệ về quản lý bảo vệ rừng, nếu phát hiện có các vụ vi phạm thì lập biên bản, tạm giữ tang vật phạm pháp để đề nghị giám đốc giải quyết.

Những trường hợp không thuộc quyền giám đốc giải quyết thì phòng lập hồ sơ chuyển sang hạt kiểm lâm nhân dân, chi cục kiểm lâm nhân dân giải quyết.

– Phòng quản lý bảo vệ rừng phải quan hệ chặt chẽ với tổ chức hạt kiểm lâm nhân dân, với các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã, trường học, bệnh viện, cửa hàng… gần nơi liên hiệp, lâm trường đóng và hoạt động, để cùng phối hợp làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng.

– Quyền hạn: Lực lượng quản lý, bảo vệ rừng trong liên hiệp, lâm trường, có quyền kiểm tra, ngăn chặn và lập biên bản bắt giữ tang vật xử phạt kinh tế những người vi phạm luật lệ bảo vệ rừng thuộc liên hiệp, lâm trường quản lý. Việc xử phạt hành chính phải thông qua hạt, Chi cục kiểm lâm nhân dân sở tại.

– Chế độ: lực lượng quản lý bảo vệ rừng của liên hiệp, lâm trường được trang bị đồng phục, trang bị chuyên dùng và hưởng các chế độ chính sách đã quy định cho lực lượng kiểm lâm nhân dân.

6. Lực lượng quần chúng bảo vệ rừng, là lực lượng nhân dân, cán bộ, công nhân viên, được tổ chức thành đội, tổ quần chúng bảo vệ rừng:

– Mỗi hợp tác xã nơi có rừng, mỗi thị trấn hoặc địa phương thuộc thành phố, thị xã nơi có rừng thành lập một tổ hoặc đội quần chúng bảo vệ rừng.

– Mỗi nông trường, công trường, xí nghiệp, cơ quan đóng ở trong rừng, hoặc ven rừng thành lập một tổ hoặc đội quần chúng bảo vệ rừng.

– Các đơn vị quân đội nhân dân, công an nhân dân vũ trang, cảnh sát nhân dân ở những nơi có rừng, có nhiệm vụ bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ bảo vệ rừng trong đơn vị mình và tham gia công tác bảo vệ rừng ở địa phương.

Các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng do thủ trưởng các đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo thực hiện. Các hạt và trạm kiểm lâm có trách nhiệm hướng dẫn việc triển khai tổ chức và hoạt động. Các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng có nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ rừng, bảo đảm thực hiện quy ước bảo vệ rừng ở địa phương và đơn vị mình thực hiện việc phòng cháy, chữa cháy rừng và ngăn ngừa việc chặt phá rừng trái với luật lệ của Nhà nước.

III. CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Bộ chịu trách nhiệm chỉ đạo thống nhất công tác quản lý bảo vệ rừng trong cả nước, quản lý thống nhất kinh phí, trang bị kỹ thuật, phân bổ biên chế; quy định việc bổ nhiệm và điều động cục trưởng theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Các Sở, Ty lâm nghiệp căn cứ các văn bản của Nhà nước và Thông tư hướng dẫn này rà soát lại hệ thống tổ chức và biên chế hiện có. Tổ chức bộ máy của hệ thống kiểm lâm cần gọn nhẹ, đưa đại bộ phận cán bộ, nhân viên kiểm lâm vào phụ trách các tiểu khu rừng dựa trên nguyên tắc chung, bình quân cứ 1000 héc ta rừng có một người quản lý. Những khu rừng xung yếu, giá trị kinh tế cao được bố trí tăng cường hơn; ngược lại vùng ít xung yếu, có thể bố trí ít người hơn.

Trong điều kiện tổng số kinh phí và biên chế hạn chế, ngoài cán bộ quản lý bảo vệ rừng chuyên trách, có thể sử dụng cán bộ xã, hợp tác xã (kể cả cán bộ đã nghỉ hưu) ký hợp đồng một năm hoặc nhiều năm để quản lý bảo vệ tốt những khu rừng.

Những cán bộ nhân viên không đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực, sức khoẻ để làm nhiệm vụ thì bố trí sang công tác khác hoặc cho nghỉ hưu, mất sức, thôi việc theo Nghị quyết số 16-HĐBT ngày 8-2-1982 của Hội đồng Bộ trưởng.

Bổ sung các cán bộ trung học và đại học lâm nghiệp vào lực lượng quản lý bảo vệ rừng. Đẩy mạnh việc bồi dưỡng nghiệp vụ kỹ thuật cho cán bộ đương chức tại cơ sở hoặc gửi đi bồi dưỡng tại các trường kỹ thuật và quản lý của ngành. Hướng phấn đấu trong vài năm tới tất cả cán bộ làm công tác quản lý bảo vệ rừng từng tiểu khu rừng đều phải có trình độ trung học kỹ thuật lâm nghiệp và được bồi dưỡng thêm về chuyên môn nghiệp vụ.

Đi đôi với biện pháp tổ chức phải làm tốt công tác chính trị tư tưởng, đẩy mạnh việc tuyên truyền vận động quần chúng tham gia công tác quản lý bảo vệ rừng.

Căn cứ vào những điều quy định và hướng dẫn trong Thông tư này, Cục kiểm lâm nhân dân Sở, Ty lâm nghiệp, các chi cục, hạt kiểm lâm nhân dân, giám đốc các liên hiệp lâm công nghiệp, lâm trường, các vụ chức năng có trách nhiệm triển khai thực hiện.

Những văn bản hướng dẫn của Bộ đã ban hành trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ.

Cập nhật thông tin chi tiết về Định Nghĩa Subsistence Farming / (Nền) Nông Nghiệp Tự Túc; Nông Nghiệp Sinh Tồn Là Gì? trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!