Xu Hướng 2/2023 # Công Trái Là Gì ? Khái Niệm Công Trái Được Hiểu Như Thế Nào ? # Top 6 View | 2atlantic.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Công Trái Là Gì ? Khái Niệm Công Trái Được Hiểu Như Thế Nào ? # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Công Trái Là Gì ? Khái Niệm Công Trái Được Hiểu Như Thế Nào ? được cập nhật mới nhất trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Công trái là khoản nợ vay của Nhà nước hoặc của chính quyển địa phương để chỉ tiêu cho mục đích công.

Công trái là một hình thức tín dụng nhà nước. Khoản nợ công trái được ghi trên giấy g9i là “_. phiếu (Xt. Công phiếu). Việc vay của chính quế nhà nước để bù đắp chỉ tiêu được áp dụng Phố PÉ” ở các nước. Công trái được phân chia làm nhiều loại, căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, có công trái tror8 nước và công trái ngoài nước; căn cứ vào thời vn thanh toán nợ vay, có công trái ngắn hạn (duới 1năm), công trái trung hạn (từ 1 năm đến 5 năm), công trái dài hạn (từ 5 năm trở lên); căn cứ vào cấp chính quyền đứng ra tổ chức vay, có công trái của chính quyền trung ương (công trái Chính phủ), công trái của chính quyền địa phương. Trong lịch sử, công trái xuất hiện từ thời kì nhà nước chiếm hữu nô lệ. Nguyên tắc áp dụng công trái, có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc. Trong các xã hội trước đây, công trái trở thành đòn bẩy quan trọng nhất của tích luỹ nguyên thuỷ tư bản. Trong thời kì đế quốc, công trái là môi trường đầu tư có lợi cho các nhà tư bản tài chính, các nhà nước tư bản lũng loạn đều có số nợ rất lớn. Ở Việt Nam, từ năm 1896 – 1938, chính quyền thực dân Pháp đã phát hành 13 lần công trái, gọi là công thải. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, theo Sắc lệnh số 112/SL ngày 16.7.1946, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phát hành đợt công trái đầu tiên để huy động vốn cho chính quyền cách mạng. Qua các thời kì cách mạng, Nhà nước phát hành nhiều đợt công trái với các tên gọi như: công phiếu kháng chiến, công trái xây dựng Tổ quốc, trái phiếu công trình… Hiện nay, theo quy định của pháp luật, ở Việt Nam chỉ có chính quyền trung ương (Chính phú) phát hành trái phiếu (công trái). Trái phiếu được phát hành theo nguyên tắc tự nguyện, gồm có các loại sau: 4) Tín phiếu kho bạc: công trái có thời hạn dưới một năm được phát hành để huy động vốn bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước trong năm ngân sách; 2) Trái phiếu kho bạc: Công trái có thời hạn từ một năm trở lên, được ban hành để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước và chỉ đầu tư phát triển; 3) Trái phiếu công trình: công trái có thời hạn từ một năm trở lên, nguồn vốn huy động được sử dụng để đầu tư cho từng công trình cụ thể (Xí. Trái phiếu). Công trái có thể chuyển nhượng hoặc không chuyển nhượng, công trái bằng tiền hoặc bằng hiện vật.

Điều ước quốc tế đa phương quy định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên đối với các vùng biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc chủ quyền, quyển tài phán quốc gia hoặc thuộc quyền sở hữu chung của toàn thể nhân loại.

Sau nhiều năm thực hiện pháp điển hoá luật biển quốc tế, trong các năm 1958 và 1960 các hội nghị lần thứ nhất và thứ hai về luật biển họp tại Giơnevơ (Thụy Sĩ) với sự tham gia của 86 nước đã thông qua được một loạt công ước quốc tế về biển đầu tiên như Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải, Công ước về thềm lục địa, Công ước về công hải, Công ước về nghề cá và bảo vệ tài nguyên sinh z vật biển ở công hải và những vấn đề mới mà chưa có sự đồng thuận cũng đã được bàn xét tuy chưa có đáp án thích hợp.

Từ cuối thập niên 60 của thế kỉ XX, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và của hoạt động khai thác tài nguyên biển và đáy đại dương, cùng với sự xuất hiện của hàng loạt các nước đang phát triển vừa giành được độc lập, đã đưa đến yêu cầu bức xúc tạo lập một trật tự pháp lí mới quốc tế trên biển và đại dương trong khuôn khổ trật tự thế giới mới.

Công ước được xây dựng dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc tại Hội nghị luật biển lần thứ III của Liên hợp quốc, bắt đầu từ năm 1973 và kết thúc vào năm 1982. Công ước được 119 quốc gia chính thức kí kết (trong đó có Việt Nam) tại Môngtêgô Bây (Giamaica) vào ngày 10.12.1982 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 16.12.1994. Công ước gồm có 320 điều; ngoài ra còn có 9 phụ lục và một định ước cuối cùng của Hội nghị luật biển lần thứ III của Liên hợp quốc được đính kèm theo như bộ phận cấu thành của Công ước. Công ước quy định không cho phép bảo lưu đối với bất kì điều khoản nào.

Việt Nam kí Công ước ngay tại Hội nghị Môngtêgô Bây năm 1982. Ngày 23.6.1994, Quốc hội khoá IX kì họp thứ 5 đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn Công ước. Ngày 14.7.1994, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

Việt Nam đã gửi công hàm cho Tổng thư kí ĐIẾR HIẾP quốc chính thức thông báo về việc phê chuẩn của Việt Nam đối với Công ước.

Công ước luật biển năm 1982 là một văn giạn quốc tế tổng hợp, toàn diện, bao quát được cáp vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lí của biển và đại dương thế giới, quy định được những quyền lợi và nghĩa vụ về nhiều mặt của mọi loại quốc gia…

Ngành Là Gì ? Khái Niệm Ngành Được Hiểu Như Thế Nào ?

Ngành là tổng thể các đơn vị, tổ chức sản xuất – kinh doanh có cùng cơ cấu kinh tế – kĩ thuật hay các tổ đơn vị hoạt động với mục đích giống nhau ra cùng loại sản phẩm, thực hiện cùng t động sự nghiệp chức, (sản xuất loại dịch vụ, cùng tiến hành hoạ nhất định).

Trong đời sống xã hội, ngành là phạm trù chỉ tập hợp các đơn vị, tổ chức theo mục tiêu hoạt động hay cơ cấu sản phẩm nhất định. Sự L ngành trong đời sống xã hội là hiện tượng tất yếu khách quan, nó phản ánh những nhu cầu và GIN THấI Ji động đa dạng cũng như sự phân công, phối hợp của con người trong quá trình lao động xã hội. Ngành là khái niệm trong lĩnh vực kinh tế xã hội. Xã hội càng phát triển, sự phân công và phối hợp giữa các ngành càng hoàn thiện. Trong quản lí nhà nước, sự phân ngành cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Một mặt, nó phản ánh sự phân chia thành các loại khác nhau của đối tượng quản lí nhưng mặt khác, nó còn thể hiện sự phân công lao động trong hoạt động quản lí nhà nước nhằm tạo sự phù hợp và đạt hiệu quả cao trong hoạt động này. Tuy nhiên, sự phân ngành trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước có quy luật và yêu cầu riêng của nó, nhất là trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay ở Việt Nam thì cần phải có bộ máy nhà nước gọn nhẹ, đa năng, hiệu lực và hiệu quả, vừa giữ vững kỉ cương vừa phát huy vai trò tích cực, chủ động sáng tạo của các ngành, các cơ sở kinh tế xã hội.

Kết hợp sự quản lí theo ngành với quản lí theo: địa phương và vùng lãnh thổ là nguyên tắc quan trọng trong quản lí nhà nước.

Tuy nhiên, ngành không phải là khái niệm được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật, nó chỉ là khái niệm có ý nghĩa trong luật học.

Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

Khái Niệm Đường Bộ Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng

Đường bộ là gì? Hiểu khái niệm đường bộ như thế nào là đúng. Việc hiểu rõ các khái niệm về giao thông đường bộ sẽ giúp bạn nắm rõ nguyên tắc tham gia giao thông đường bộ, nâng cao ý thức chấp hành an toàn giao thông hơn.

1. Đường bộ là gì

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008 thì đường bộ được hiểu như sau:

Đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ.

Một số định nghĩa khác tại Luật này:

1. Công trình đường bộ gồm đường bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, rào chắn, đảo giao thông, dải phân cách, cột cây số, tường, kè, hệ thống thoát nước, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác.

2. Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ.

3. Đất của đường bộ là phần đất trên đó công trình đường bộ được xây dựng và phần đất dọc hai bên đường bộ để quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình đường bộ.

4. Hành lang an toàn đường bộ là dải đất dọc hai bên đất của đường bộ, tính từ mép ngoài đất của đường bộ ra hai bên để bảo đảm an toàn giao thông đường bộ.

2. Công trình đường bộ gồm những gì?

Công trình đường bộ gồm đường bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, rào chắn, đảo giao thông, dải phân cách, cột cây số, tường, kè, hệ thống thoát nước, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác.

3. Một số khái niệm giao thông đường bộ khác

Khái niệm “làn đường”

Là một phần của đường xe chạy được chia theo chiều dọc của đường, có bề rộng đủ cho xe chạy an toàn.

Khái niệm “khổ giới hạn đường bộ”

Là khoảng trống có kích thước giới hạn về chiều cao, chiều rộng của đường, cầu, bến phà, hầm đường bộ, để các xe kể cả hàng hóa xếp trên xe đi qua được an toàn.

Khái niệm “dải phân cách”

Là bộ phận của đường để phân chia mặt đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt hoặc để phân chia phần đường của xe cơ giới và xe thô sơ.

“Vạch kẻ đường” được hiểu như thế nào là đúng?

Vạch kẻ đường là vạch chỉ sự phân chia làn đường, vị trí hoặc hướng đi, vị trí dừng lại.

Khái Niệm Kỹ Năng Thuyết Trình Được Hiểu Như Thế Nào?

Khái niệm kỹ năng thuyết trình đã trở nên quá quen thuộc với xã hội hiện nay. Đây là yếu tố chính quyết định sự thành công và mang đến sự thăng tiến nhanh chóng cho bạn nếu nắm rõ được kỹ năng này.

Kỹ năng thuyết trình trong tiếng Anh là gì?

Kỹ năng thuyết trình trong Tiếng Anh được gọi là Presentation skills. Đây là yếu tố không thể thiếu đối với một nhân viên tại các doanh nghiệp nước ngoài.

Ví dụ về kỹ năng thuyết trình: Thuyết trình có thể được thấy ở rất nhiều cơ quan, tổ chức trong các cuộc họp, báo cáo kế hoạch hàng năm, hàng tháng, đào tọa nhân viên mới,…

Một người thuyết trình tốt cần phải hội tụ đủ các đặc điểm sau:

Phù hợp với người nghe

Có mục tiêu rõ ràng

Khi thuyết trình bạn cần đặt mục tiêu thật rõ, bài thuyết trình cung cấp kiến thức hay định hướng cho người nghe….

Cấu trúc nhất quán

Ngôn ngữ là công cụ hoàn hảo để truyền tải được ý tưởng của người thuyết trình. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời nói, hành động, tốc độ nói, cử chính sẽ mang đến một bài thuyết trình hoàn hảo.

Để có kỹ năng thuyết trình tốt bạn cần chuẩn bị gì?

Chuẩn bị một bài thuyết trình tốt, bạn cần phải thực hiện những điều sau đây:

Đề ra mục tiêu cho bài thuyết trình

Mục tiêu và nội dung chính của bài thuyết trình là yếu tố quan trọng để có được kỹ năng tốt nhất. Bạn cần định hướng rất rõ mục tiêu mình đang muốn nhắm đến, kết quả sẽ nhận được sau khi buổi trình bày như thế nào.

Chuẩn bị kiến thức đầy đủ

Kiến thức là điều bạn cần có, cho dù kỹ năng trình bày của bạn có tốt như thế nào nhưng kiến thức không được chuẩn bị đầy đủ thì bạn không thể hoàn thành tốt được bài diễn thuyết. Do đó, bạn cần phải trở thành một người chuyên nghiệp trong lĩnh vực này để đảm bảo những điều bạn chia sẻ có tính chân thực nhất.

Phân tích thật kỹ đối tượng

Tạo nội dung

Cấu trúc của bài thuyết trình như thế nào? Phần mở đầu và kết thúc ra sao, bạn cần phải nhấn mạnh vào điểm chính nào? Tạo không khí hấp dẫn lôi cuốn cho người nghe như thế nào? Điều này đòi hỏi bạn phải chuẩn bị nội dung thật tốt.

Ngoài ra, bạn cũng cần phải chuẩn bị thật tốt mọi tình huống có thể phát sinh trong buổi thuyết trình. Có thể tự xây dựng tình huống và luyện tập giải quyết mọt cách hiệu quả nhất.

Luyện tập thật kỹ

Bạn cần phải luyện tập thật nhiều lần, điều này có thể giúp bạn tăng thêm sự tự tin để không phải vấp phải bất cứ lỗi sau nào. Đầu tư vào buổi thuyết trình càng kỹ thì hiệu quả mang đến càng tốt. Hãy đứng trước gương để luyện tập, nhẩm lại nội dụng trước khi ngủ và luôn chú trọng cử chỉ, hành động của mình khi diễn thuyết.

Cập nhật thông tin chi tiết về Công Trái Là Gì ? Khái Niệm Công Trái Được Hiểu Như Thế Nào ? trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!