Xu Hướng 3/2024 # Bài 10 : Cách Mạng Khoa Học # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Bài 10 : Cách Mạng Khoa Học được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Nguồn gốc và đặc điểm

– Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật ngày nay bắt nguồn từ những năm 40 của thế kỉ XX, khởi đầu ở nước Mĩ.

Xuất phát từ đòi hỏi của cuộc sống, của sản xuất, nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người, sự bùng nổ dân số thế giới, sự vơi cạn các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

– Vấn đề cấp thiết mà cuộc cách mạng này phải thực hiện hiện là sản xuất và chế tạo ra những công cụ sản xuất mới có năng suất cao, tìm ra vật liệu mới, năng lượng mới…thay thế dần nguồn tài nguyên của nhân loại đang bị cạn kiệt.

* Giai đoạn phát triển

– Từ thập kỉ 40 đến nửa đầu 70: diễn ra trên cả lĩnh vực khoa học và kĩ thuật.

– Từ 1973 đến nay: chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực công nghệ.

2. Những thành tựu tiêu biểu

Đạt được những thành tựu kì diệu trên mọi lĩnh vực.

– Lĩnh vực khoa học cơ bản:

Có những bước tiến nhảy vọt.

+ Tháng 3/1997, tạo ra cừu Đôli bằng phương pháp sinh sản vô tính.

+ Tháng 4/2003, giải mã được bản đồ gien người.

– Lĩnh vực công nghệ:

+ Tìm ra nguồn năng lượng mới : mặt trời, nguyên tử.

+ Chế tạo ra những vật liệu mới như chất Polyme.

+ Sản xuất ra những công cụ mới như : máy tính, máy tự động, hệ thống tự động.

+ Công nghệ sinh học có bước đột phá phi thường trong công nghệ di truyền, tế bào, vi sinh …

+ Phát minh ra những phương tiện thông tin liên lạc và giao thông vận tải siêu nhanh, hiện đại như : Cáp quang, máy bay siêu âm, tàu siêu tốc …

+ Chinh phục vũ trụ: đưa người lên Mặt Trăng.

Năng lượng mặt trời

Đưa người lên mặt trăng

3. Tác động

* Tích cực:

– Tăng năng suất lao động.

– Nâng cao không ngừng mức sống, chất lượng cuộc sống của con người.

– Đưa ra những đòi hỏi phải thay đổi về cơ cấu dân cư, chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục.

– Nền kinh tế – văn hóa – giáo dục thế giới có sự giao lưu quốc tế hóa ngày càng cao.

– Đưa loài người bước sang nền văn minh mới, nền văn minh lấy vi tính, máy tính điện tử, thông tin và sinh học làm cơ sở để phát triển.

*Tiêu cực: Gây ra những hậu quả mà con người chưa khắc phục được. + Tai nạn lao động, tai nạn giao thông. + Vũ khí hủy diệt. + Ô nhiễm môi trường. + Bệnh tật.

II. Xu thế toàn cầu hóa và ảnh hưởng của nó

– Từ đầu những năm 80, đặc biệt là từ sau Chiến tranh lạnh xu thế toàn cầu hóa đã xuất hiện.

– Khái niệm : Toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới.

– Biểu hiện:

+ Sự phát triển nhanh chóng của thương mại quốc tế.

+ Sự phát triển to lớn của các chương trình xuyên quốc gia.

+ Sự sáp nhập hợp nhất các công ti thành những tập đoàn khổng lồ.

+ Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mai, tài chính quốc tế và khu vực.

+ Mang lại sự tăng trưởng kinh tế cao.

+ Đặt ra các yêu cầu phải cải cách sâu rộng để nâng cao cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế.

+ Khoét sâu thêm sự bất công xã hội và hố ngăn cách giàu nghèo càng lớn.

+ Làm mọi hoạt động và đời sống con người kém an toàn hơn.

+ Nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc và độc lập chủ quyền quốc gia.

Cuộc Cách Mạng Khoa Học

Từ những năm 40 của thế kỉ XX, nước Mĩ đã đi đầu thế giới trong cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại. Với quy mô rộng lớn, nội dung sâu sắc và toàn diện, cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật lần này đã đem lại cho con người những thành tựu kì diệu, làm thay đổi cả thế giới, song cũng có mặt trái của nó. Vậy cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật lần này bắt nguồn từ đâu, nó có đặc điểm và thành tựu nổi bật gì so với trước? Phải chăng xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ từ những năm cuối thế kỉ

Chương VI: CÁCH MẠNG KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ VÀ XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ

CÁCH MẠNG KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ

VÀ XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ NỬA SAU THẾ KỈ XX

– Nắm vững nguồn gốc, đặc điểm và thành tựu chủ yếu của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ.

– Hiểu rõ xu thế toàn cầu hóa và ảnh hưởng của nó

I. Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ

– Cách mạng khoa học – công nghệ là cuộc cách mạng có sự biến đổi về chất và sự kết hợp giữa những phát minh lớn lao trong các ngành khoa học và những phát triển trong kĩ thuật sản xuất, tạo thành một lực lượng sản xuất mạnh mẽ, trong đó nhấn mạnh yếu tố công nghệ.

– Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật ngày nay bắt nguồn từ những năm 40 của thế kỉ XX.

– Xuất phát từ đòi hỏi của cuộc sống, của sản xuất, nhằm đáp ứng yêu cầu về vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người.

– Do sự bùng nổ về dân số và sự cạn kiệt của tài nguyên thiên nhiên.

– Mọi phát minh đều bắt nguồn từ kết quả nghiên cứu khoa học.

– Trong lĩnh vực khoa học cơ bản: loài người đạt được những thành tựu kì diệu trong lĩnh vực Toán học, Vật lí, Sinh học…

– Trong lĩnh vực công nghệ:

+ Công cụ sản xuất mới: Máy tính điện tử, người máy..

+ Nguồn năng lượng mới: Năng lượng mặt trời, năng lượng nguyên tử…

+ Vật liệu mới: Polime…

+ Công nghệ sinh học: Công nghệ gen, công nghệ di truyền…

+ Thông tin liên lạc và giao thông vận tải: Điện thoại di động, tàu siêu tốc…

+ Chinh phục vũ trụ: Đưa người lên mặt trăng, thám hiểm sao hỏa…

+ Tăng năng suất lao động.

+ Nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của con người.

+ Thay đổi về cơ cấu dân cư, chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục và đào tạo nghề nghiệp.

+ Hình thành một thị trường thế giới với xu thế toàn cầu hóa.

– Hạn chế: Gây ra những hậu quả mà con người chưa khắc phục được:

+ Tai nạn lao động, tai nạn giao thông.

+ Tạo ra những vũ khí mang tính huỷ diệt cao, đe dọa đời sống con người.

+ Ô nhiễm môi trường, trái đất nóng lên băng tan.

+ Bệnh tật hiểm nghèo, các dịch bệnh lây lan nhanh…

II. Xu hướng toàn cầu hoá và ảnh hưởng của nó.

– Từ đầu những năm 80, đặc biệt là từ sau chiến tranh lạnh, xu thế toàn cầu hoá đã xuất hiện.

Toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới.

– Sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế.

– Sự phát triển và tác động to lớn của các công ty xuyên quốc gia.

– Sự sáp nhập hợp nhất các công ty thành những tập đoàn khổng lồ.

– Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế và khu vực.(IMF,WTO,EU….)

+ Thúc đẩy nhanh và mạnh sự phát triển và xã hội hóa của lực lượng sản xuất, mang lại sự tăng trưởng cao.

+ Góp phần chuyển biến cơ cấu kinh tế.

+ Đặt ra các yêu cầu phải cải cách sâu rộng để nâng cao cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế.

+ Gia tăng bất công xã hội và hố ngăn cách giàu nghèo trong từng nước, giữa các nước.

+ Làm cho mọi hoạt động và đời sống con người kém an toàn hơn.

+ Tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc và độc lập tự chủ quốc gia.

Tuy nhiên, toàn cầu hoá là xu thế tất yếu không thể đảo ngược; vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với mỗi quốc gia, dân tộc.

Nêu đặc điểm của cuộc CM KH – CN? So sánh với cuộc CM KH- KT lần thứ nhất

Trong giai đoạn sau của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại, cuộc cách mạng chủ yếu diễn ra về lĩnh vực nào?

A. Năng lượng. B. Tin học. C. Công nghệ. D. Sinh học.

3. Một hệ quả quan trọng của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại là

A. xu thế hòa hoãn Đông – Tây xuất hiện.

B. xu thế toàn cầu hóa.

C. hòa bình được củng cố.

D. xu thế đa cực.

4. Ý nghĩa then chốt, quan trọng nhất của cách mạng khoa học – công nghệ nửa sau thế kỉ XX là:

A. Tạo ra một khối lượng hàng hoá đồ sộ

B. Sự giao lưu quốc tế ngày càng được mở rộng

C. Thay đổi một cách cơ bản các nhân tồ sản xuất

D. Đưa loài người chuyển sang nền văn minh trí tuệ

5. Hạn chế cơ bản nhất của cách mạng khoa học – kĩ thuật lần 2 là gì?

A. Đã chế tạo nhiều vũ khí hiện đại, đẩy nhân loại đứng trước nguy cơ CTTG III.

B. Nạn khủng bố phổ biến, tình hình thế giới căng thẳng.

C. Nguy cơ bùng nổ chiến tranh hạt nhân hủy diệt loài người.

Khái Quát Về Cuộc Cách Mạng Khoa Học

Cách mạng Khoa học – Kỹ thuật (KHKT) là một quá trình thay đổi căn bản của hệ thống kiến thức về KHKT diễn ra trong mối quan hệ khăng khít với quá trình phát triển của xã hội loài người. Cho đến nay, loài người đã trải qua hai cuộc Cách mạng KHKT. Cuộc Cách mạng KHKT gắn với cuộc Cách mạng Công nghiệp vào thế kỷ XVIII – XIX và cuộc Cách mạng KHKT hiện đại diễn ra từ năm 1940 đến nay. Hai cuộc Cách mạng KHKT đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, tác động mạnh mẽ đến đời sống và kinh tế – xã hội của thế giới, đặc biệt là cuộc Cách mạng KHKT hiện đại. Cuộc Cách mạng KHKT hiện đại đã trải qua hai giai đoạn: giai đoạn I từ năm 1940 đến năm 1970 và giai đoạn II từ năm 1970 đến nay.

Cách mạng Khoa học – Kỹ thuật: Giai đoạn I

Tăng cường khai thác các nguồn năng lượng, mở rộng các cơ sở nguyên vật liệu;

Tăng cường cơ khí hóa, nâng cao năng suất lao động;

Chú trọng phát triển các ngành sản xuất truyền thống sử dụng nhiều nguyên liệu như: luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất và dệt;

Mở rộng phạm vi nghiên cứu ra các đại dương và khoảng không vũ trụ;

Nghiên cứu ứng dụng di truyền học như kỹ thuật gen để nâng cao năng suất cây trồng và vật nuôi nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm.

Nhờ vậy, khối lượng các sản phẩm hàng hóa tăng nhanh, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế thế giới trung bình năm khá cao (khoảng 5 – 6%). Nguồn của cải vật chất dồi dào đã làm cho đời sống của nhân dân nhiều nước được cải thiện.

Nhưng sự phát triển với tốc độ nhanh của nền kinh tế theo chiều rộng trong giai đoạn này, đặc biệt là sản xuất công nghiệp với cường độ và quy mô lớn đòi hỏi khối lượng nguyên, nhiên liệu lớn, dẫn đến tình trạng suy kiệt các tài nguyên, ô nhiễm môi trường. Thập kỷ 70 đã xảy ra cuộc khủng hoảng năng lượng và nguyên liệu, giá các loại nguyên vật liệu cũng như nhân công tăng rất cao, sự cạnh tranh thị trường giữa các nước công nghiệp diễn ra khốc liệt.

Trước tình trạng đó, buộc các nước phải chuyển hướng sang phát triển bền vững, phát triển kinh tế tri thức, tăng cường sử dụng KHKT nhiều hơn vào việc đổi mới nền sản xuất, phát triển các ngành công nghệ mới nhằm giảm bớt sự tiêu hao các nguyên vật liệu và nhân công lao động, tạo được nhiều sản phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt, giá thành hạ. Do vậy, cuộc Cách mạng Khoa học – Kỹ thuật hiện đại chuyển sang giai đoạn II.

Cách mạng Khoa học – Kỹ thuật: Giai đoạn II Thay thế và giảm bớt việc sử dụng các nguồn năng lượng, nguyên vật liệu truyền thống

Các nguồn năng lượng truyền thống vẫn được sử dụng trong sản xuất gồm: than đá, dầu mỏ, khí đốt… Các nguồn năng lượng này đều thuộc các loại tài nguyên có khả năng cạn kiệt. Việc khai thác chúng ngày càng trở nên khó khăn, tốn kém và các nguồn tài nguyên này đang bị suy kiệt. Thêm vào đó, việc sử dụng các loại năng lượng truyền thống lại gây ra tình trạng hiệu ứng nhà kính, làm cho Trái Đất nóng lên và ô nhiễm môi trường.

Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã và đang tăng cường phát triển các nhà máy điện chạy bằng năng lượng nguyên tử để thay thế cho các nhà máy nhiệt điện. Ở một số nước, nguồn điện mới này đã chiếm tới 50% tổng sản lượng điện (như ở Pháp). Những năm gần đây, công nghệ nano được nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt vào việc chế tạo, xây dựng các nhà máy điện năng lượng nguyên tử để nâng cao độ an toàn của các thiết bị, tạo ra nguồn năng lượng sạch (Pháp là nước đi đầu trong lĩnh vực này). Kế hoạch của Việt Nam năm 2024 sẽ có nhà máy điện năng lượng nguyên tử đầu tiên đi vào vận hành.

Song song với việc phát triển điện nguyên tử, các nhà khoa học và các nước cũng đang tăng cường nghiên cứu, ứng dụng việc sử dụng các nguồn năng lượng của thủy triều, gió, năng lượng Mặt Trời, nhiệt trong lòng đất…

Việc giảm bớt mức tiêu thụ năng lượng, nguyên vật liệu còn có nhiều thành cồng trong việc chế tạo ra các loại phương tiện, thiết bị, máy móc sử dụng ít nguyên liệu truyền thống và giảm tiêu hao năng lượng, hoặc sử dạng năng lượng mới không gây ô nhiễm…

Ngoài ra cũng đạt được nhiều thành tựu trong nghiên cứu và sử dụng các loại nguyên vật liệu nhân tạo mới, có tính năng tốt hơn như: hợp kim, chất dẻo, sợi thủy tinh, các chất tổ hợp, các chất gốm sứ chịu áp lực cao, các chất bán dẫn, siêu dẫn… giúp cho việc giảm mức tiêu thụ các loại nguyên, nhiên vật liệu, giải quyết các vấn đề phức tạp trong công nghệ và kinh doanh.

Tăng cường tự động hóa trong sản xuất công nghiệp và nhiều ngành kinh tế

Để tăng cường tự động hóa đã có nhiều nghiên cứu, ứng dụng nhằm chế tạo ra các thiết bị hiện đại như máy tính điện tử, máy điều khiển số, người máy (rôbôt)… Nhờ đó mà có thể sản xuất ra nhiều loại sản phẩm ngày càng hoàn thiện hơn. Những kết quả này đã góp phần giảm bớt hoặc thay thế cho người lao động trong những công việc đơn giản, công việc nặng nhọc hoặc nguy hiểm để tăng cường nguồn lao động có kỹ thuật cao.

Phát triển nhanh và không ngừng hoàn thiện kỹ thuật điện tử và tin học viễn thông

Đây là những ngành mới, nhưng có vai trò quan trọng, chi phối toàn bộ phương tiện kỹ thuật hiện đại. Nhờ đó, có thể phát huy tốt nhất sức mạnh và trí tuệ của con người, rút ngắn được khoảng cách về thời gian và không gian trong thu thập, xử lý thông tin, liên lạc cũng như trong nhiều lĩnh vực khác.

Phát triển công nghệ sinh học để có những sản phẩm mới, năng suất cao, chất lượng tốt

Các ngành công nghệ sinh học được phát triển trên cơ sở những khám phá, phát minh trong lĩnh vực sinh vật học, di truyền học như kỹ thuật gen, kỹ thuật nuôi cấy tế bào, công nghệ vi sinh…

Sự phát triển các ngành công nghệ này đã mở ra những triển vọng to lớn cho ngành nông nghiệp và đối với sự sống của con người, như việc nhân bản tế bào, xây dựng sơ đồ gen, men vi sinh, nuôi cấy mô… Kết quả giúp cho con người tạo ra nhiều vật chất mới, giảm sự phụ thuộc của con người vào tự nhiên, tăng khả năng chữa được nhiều bệnh nan y…

Phát triển công nghệ môi trường

Loài người sử đụng ngày càng nhiều nguyên, nhiên liệu và xả vào môi trường ngày càng nhiều chất thải. Ô nhiễm môi trường do các chất thải trở thành vấn đề đối mặt của các quốc gia và toàn thế giới.

Vì vậy, những thập kỷ gần đây có nhiều nghiên cứu, ứng dụng vào việc xử lý, tái chế các chất thải. Nước thải được thu gom, sử dụng công nghệ hóa sinh để làm sạch. Rác thải được thu gom, phân loại rồi tái chế hoặc xử lý, tạo ra nguồn năng lượng sử dụng trong các nhà máy nhiệt điện. Những nước công nghiệp phát triển đã tăng cường phát triển công nghệ này như: CHLB Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Thụy Sỹ …

Tin Học 10 Bài 20: Mạng Máy Tính

Tóm tắt lý thuyết

a. Khái niệm mạng máy tính

Mạng máy tính là tập hợp các máy tính được kết nối theo một phương thức nào đó sao cho chúng có thể trao đổi dữ liệu và dùng thiết bị.

b. Thành phần của mạng máy tính

Mạng máy tính bao gồm 3 thành phần:

Các máy tính;

Các thiết bị mạng đảm bảo kết nối máy tính với nhau;

Phần mềm cho phép thực hiện việc giao tiếp giữa các máy tính.

c. Lợi ích của mạng máy tính

Cần sao chép một lượng lớn dữ liệu từ máy này sang máy khác trong thời gian ngắn mà việc sao chép bằng đĩa mềm, thiết bị nhớ flash hoặc đĩa CD không đáp ứng được.

Nhiều máy tính có thể dùng chung dữ liệu, các thiết bị, phần mềm hoặc tài nguyên đắt tiền như bộ xử lí tốc độ cao, đĩa cứng dung lượng lớn, máy in laser màu tốc độ cao,…

a. Phương thức truyền thông (media)

Môi trường vật lí được sử dụng để kết nối các máy tính trong mạng gồm hai loại: có dây và không dây.

a. 1. Kết nối có dây (cable)

Cáp truyền thông có thể là cáp xoắn đôi, cáp đồng trục, cáp quang,… (hình 1).

Hình 1. Máy tính được kết nối bằng cáp mạng ​ Hình 2. Một số thiết bị kết nối máy tính vào mạng

Một số thiết bị mạng: Trong mạng còn có thể có các thiết bị thực hiện việc chuyển tiếp các tín hiệu, định hướng, khuếch đại tín hiệu,… như: bộ khuếch đại và chuyển tiếp (Repeater, hình 3.a), bộ chuyển mạch đơn (Hub, hình 3.b), bộ chuyển mạch (Switch, hình 3.c), bộ định tuyến (Router, hình 3.d),….

Hình 3. Một số thiết bị mạng

Kiểu bố trí các máy tính trong mạng: có 3 kiểu cơ bản: đường thẳng, vòng, sao (hình 4).

Mạng đường thẳng (Bus): Tất cả các máy đều được nối về một trục đường dây cáp chính và sử dụng đường dây cáp chính này để truyền tải tín hiệu.

Ưu điểm:

Khi có sai hỏng một máy thì không ảnh hưởng tới toàn mạng.

Mở rộng hay thu hẹp mạng rất đơn giản.

Nhược điểm:

Mạng vòng: Các máy được nối với nhau theo dạng hình tròn và thông tin truyền theo một chiều thống nhất.

Mạng hình sao: Bao gồm 1 trung tâm điều khiển và các nút (máy tính) thông tin được nối vào trung tâm này.

Ưu điểm:

Nếu một đường cáp nối từ một máy tính nào đó tới Hub bị hỏng thì chỉ riêng máy tính đó không liên lạc được, các máy tính khác vẫn liên lạc bình thường trong mạng.

Dễ chỉnh sửa và bổ sung máy tính mới, theo dõi và quản lý tập trung.

Nhược điểm:

Hình 4. Các kiểu bố trí mạng cơ bản

a. 2. Kết nối không dây

Phương tiện truyền thông: có thể là sóng radio, bức xạ hồng ngoại hay sóng truyền qua vệ tinh.

Tổ chức mạng không dây đơn giản cần:

Điểm truy cập không dây WAP: là một thiết bị có chức năng kết nối các máy tính trong mạng, kết nối mạng không dây với mạng có dây;

Có vỉ mạng không dây (card mạng).

Người ta thường dùng Bộ định tuyến không dây (Wireless Router) (hình 5) ngoài chức năng như WAP nó còn có chức năng định tuyến đường truyền.

Hình 5. Bộ định tuyến không dây

Ưu điểm và nhược điểm của kết nối không dây:

Ưu điểm: Cài đặt linh động (kết nối ở mọi nơi, mọi thời điểm).

Nhược điểm:

Khả năng nhiểu cao.

Tính bảo mật thấp.

Trao đổi thông tin giữa 2 thiết bị đầu cuối phức tạp.

a.3. Các yếu tố cần quan tâm khi thiết kế mạng

Số lượng máy tính tham gia mạng;

Tốc độ truyền thông trong mạng;

Địa điểm lắp đặt mạng;

Khả năng tài chính.

b. Giao thức truyền thông (Protocol)

Giao thức truyền thông là bộ các quy tắc phải tuân thủ trong việc trao đổi thông tin trong mạng giữa các thiết bị nhận và truyền dữ liệu.

Giao thức dùng phổ biến nhất hiện này là TCP/IP.

Dưới góc độ địa lí, mạng máy tính có thể được phân thành: mạng cục bộ, mạng diện rộng, mạng toàn cầu,…

a. Mạng cục bộ (LAN-Local Area NetWork)

Khái niệm: Là mạng kết nối các máy tính ở gần nhau, chẳng hạn như 1 phòng ,1 tòa nhà, 1 xí nghiệp, 1 trường học…

Đặc điểm:

Giới hạn trong phạm vi nhỏ

Tốc độ truyền dữ liệu cao…

Hình 6. Mạng cục bộ ở một văn phòng nhỏ

b. Mạng diện rộng (WAN-Wide Area NetWork)

Khái niệm: Là mạng nối các máy tính có thể cách xa nhau một khoảng lớn. Thường là liên kết các mạng cục bộ.

Đặc điểm:

Không giới hạn khoảng cách các máy tính.

Tốc độ truyền thường thấp hơn mạng cục bộ.

Xét theo chức năng của các máy tính trong mạng, có thể phân mạng thành hai mô hình chủ yếu sau:

a. Mô hình khách – chủ (Client-Server)

Khái niệm:

Máy chủ là máy tính đảm bảo việc phân chia tài nguyên cho các máy khách với mục đích sử dụng chung.

Máy khách là máy sử dụng tài nguyên do máy chủ cung cấp.

Ưu điểm:

Dữ liệu quản lý tập trung;

Chế độ bảo mật tốt;

Phù hợp với mô hình mạng trung bình và lớn.

Hình 8. Mô hình khách-chủ

b. Mô hình ngang hàng (peer to peer)

Đặc điểm:

Trong mô hình này tất cả các máy đều có vai trò như nhau.

Trong mạng ngang hàng các máy tính vừa đóng vai trò Server là dùng chung tài nguyên vừa đóng vai trò là Client sử dụng trực tiếp nguồn tài nguyên của các máy khác trong mạng.

Ưu điểm: Xây dựng và bảo trì đơn giản.

Nhược điểm:

Phù hợp với quy mô nhỏ;

Tài nguyên quản lý phân tán;

Chế độ bảo mật kém.

Hình 9. Mô hình ngang hàng

Tin Học 10 Bài 1: Tin Học Là Một Ngành Khoa Học

Tóm tắt lý thuyết

Hình 1. Sự hình thành và phát triển của tin học từ năm 1890 đến nay

Tin học được hình thành và phát triển thành một ngành khoa học độc lập, có nội dung, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu riêng.

Tin học có ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người.

Ngành tin học gắn liền với việc phát triển và sử dụng máy tính điện tử.

Tóm lại: Ngành Tin học hình thành và phát triển thành một ngành khoa học độc lập nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin của con người, được gắn liền với một công cụ lao động mới là Máy tính điện tử

a. Đặc tính

Máy tính có thể “làm việc không mệt mỏi” trong suốt 24/24 giờ

Tốc độ xử lí thông tin của máy tính rất nhanh và ngày càng được nâng cao. Chỉ trong vòng sáu mươi năm, tốc độ của máy tính đã tăng lên hàng triệu lần

Máy tính là một thiết bị tính toán có độ chính xác cao

Máy tính có thể lưu trữ một lượng lớn thông tin trong một không gian rất hạn chế. Chẳng hạn, một đĩa CD (Compact Disk) mỏng, lớn không quá một bìa sách có thể lưu trữ được nội dung của hàng vạn trang sách. Những thiết bị lưu trữ thông tin của máy tính ngày càng được cải tiến để có dung lượng lớn hơn, tiện sử dụng hơn.

Hình 2. Máy vi tính

Giá thành máy tính ngày càng hạ nhờ những tiến bộ vượt bậc của kĩ thuật. Đây là một yếu tố quan trọng làm cho việc sử dụng công cụ này ngày một trở nên phổ biến hơn.

Máy tính ngày càng gọn nhẹ và tiện dụng.

Các máy tính có thể liên kết với nhau thành một mạng và các mạng máy tính tạo ra khả năng thu thập và xử lí thông tin tốt hơn. Các mạng máy tính lại có thể liên kết với nhau thành một mạng lớn hơn, thậm chí trên phạm vi toàn cầu.

b. Vai trò

Là một công cụ lao động do con người sáng tạo ra để trợ giúp trong công việc, hiện không thể thiếu trong kỉ nguyên thông tin và ngày càng thêm nhiều khả năng kì diệu.

Tiếng Anh: Informatics

Tiếng Pháp: Informatique

Tiếng Mĩ: Computer Science

Tin học là một ngành khoa học

Đối tượng nghiên cứu: Thông tin

Công cụ: Máy tính điện tử

Tóm lại: Tin học là một ngành khoa học có mục tiêu phát triển và sử dụng máy tính điện tử để nghiên cứu cấu trúc, tính chất thông tin, phương pháp thu thập, lưu trữ, tìm kiếm, biến đổi, truyền thông tin và ứng dụng vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.

Bài Học: Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học

Nội dung

KẾT QUẢ CẦN ĐẠT – Nắm vững các khái niệm văn bản khoa học, phong cách ngôn ngữ khoa học và các đặc trưng của phong cách ấy. – Có kĩ năng phân biệt phong cách ngôn ngữ khoa học với các phong cách ngôn ngữ khác và biết sử dụng ngôn ngữ khoa học trong các trường hợp cần thiết. I – VĂN BẢN KHOA HỌC VÀ NGÔN NGỮ KHOA HỌC 1. Văn bản khoa học a)

Lịch sử Việt Nam xưa nay là lịch sử của một dân tộc và một đất nước thống nhất. Nếu có sự chia rẽ thì chỉ là thoáng qua, rồi sau đó thống nhất lại ngay Ngay cả cuộc tranh giành giữa Trịnh và Nguyễn dù có kéo dài một trăm năm mươi năm, chỉ là sự tranh giành chính quyền giữa hai tập đoàn Trịnh, Nguyễn. Nhân danh đất nước thống nhất, nhân danh quyền lực duy nhất của vua Lê, cả hai đều chấp nhận niên hiệu, quan chức, thể chế và chỉ có một nước, một vua chung. Do đó, đặc điểm khu biệt của lịch sử Việt Nam là: Từ khi Ngô Quyền dựng nước năm 938 trở đi, đã là một nước thống nhất và mãi mãi thống nhất. (Theo Phan Ngọc, Cách giải thích văn học bàng ngôn ngữ học, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2000)

b)

Định nghĩa: Vectơ là một đoạn thẳng có hướng, nghĩa là trong hai điểm mút của đoạn thẳng, đã chỉ rõ điểm nào là điểm đầu, điểm nào là điểm cuối.

c)

Tại Việt Nam, theo điều tra của Viện Dinh dưỡng, cứ 4 trẻ dưới 5 tuổi thì có một trẻ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và gần một phần ba số trẻ bị suy dinh dưỡng thể thấp chiều cao theo tuổi (suy dinh dưỡng mãn tính). Tre bị suy dinh dưỡng do nhiều nguyên nhân, nhưng đa số chế độ ăn hằng ngày không cung cấp đủ năng lượng, do khả năng hấp thu kém hoặc do rối loạn tiêu hoá lâu ngày dẫn đến suy dinh dưỡng. Trẻ ăn nhiều vẫn bị suy dinh dưỡng có thề do luồng thức ăn đưa nào nhiều nhưng không cung cấp đủ chất dinh dưỡng cần thiết hoặc cơ thể không hấp thu được chất dinh dưỡng. Hơn nữa, ăn nhiều và thường xuyên một loại thức ăn nào đó khiến cho cơ thể thiếu cơ hội thu nhận các thực phẩm khác dẫn đến thiếu chất và không có sự tăng trưởng toàn diện. […] Để giải quyết tình trạng trên và cải thiện khả năng tiêu hoá của trẻ, chúng ta cần bổ sung cho trẻ một số vi khuẩn sống có ích cho đường ruột, một số vitamin, men amilaza,… giúp cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột để tránh sự tăng sinh của các vi khuẩn gây bệnh, đồng thời tăng khả năng tiêu hoá thức ăn nhờ tác dụng của các men vi sinh.[…] (Theo Lê Thị Hải, Trẻ ăn nhiều vẫn… suy dinh dưỡng, báo Khoa học và đời sống, số 6 (2064), ngày 12 – 1 – 2008)

Các văn bản trên thuộc văn bản khoa học. Văn bản khoa học gồm ba loại chính: – Các văn bản khoa học chuyên sâu bao gồm: chuyên khảo, luận án, luận văn, tiểu luận, báo cáo khoa học,… Loại văn bản này thường mang tính chuyên ngành khoa học cao và sâu (ví dụ: Văn bản a), dùng để giao tiếp giữa những người làm công việc nghiên cứu trong các ngành khoa học. – Các văn bản khoa học giáo khoa bao gồm: giáo trình, sách giáo khoa, thiết kế bài dạy,… về các môn Khoa học Tự nhiên, Khoa học Công nghệ, Khoa học Xã hội và Nhân văn (ví dụ: Văn bản b). Những văn bản này ngoài yêu cầu về khoa học còn có yêu cầu về sư phạm, tức là phải trình bày nội dung từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, phù hợp với trình độ học sinh theo từng cấp, từng lớp; có định lượng kiến thức từng tiết, từng bài, có phần trình bày kiến thức, có phần thực hành: câu hỏi và bài tập. – Các văn bản khoa học phổ cập (khoa học đại chúng) bao gồm các bài báo và sách phổ biến khoa học kĩ thuật,… nhằm phổ biến rộng rãi kiến thức khoa học cho đông đảo bạn đọc, không phân biệt trình độ chuyên môn.

Yêu cầu của loại văn bản này là viết dễ hiểu, hấp dẫn. Vì vậy, có thể dùng lối miêu tả, dùng cách ví von so sánh sao cho ai cũng có thể hiểu được để đưa khoa học vào cuộc sống (ví dụ: Văn bản c). 2. Ngôn ngữ khoa học Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là trong các văn bản khoa học: Khoa học Tự nhiên (Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học,…), Khoa học Xã hội và Nhân văn (Ngữ văn, Triết học, Tâm lí học, Lịch sử,…), Khoa học Công nghệ (Công nghệ Điện tử, Công nghệ Vi sinh, Công nghệ Thông tin,…). Ở dạng viết, ngoài việc sử dụng từ ngữ, ngôn ngữ khoa học còn thường dùng các kí hiệu, công thức của các ngành khoa học hay sơ đồ, bảng biểu để tổng kết, so sánh, mô hình hoá nội dung khoa học. Ở dạng nói, ngôn ngữ khoa học có yêu cầu ở mức độ cao về phát âm chuẩn, về diễn đạt mạch lạc, chặt chẽ; người nói thường dựa trên cơ sở một đề cương viết trước. Dù ở dạng nào, ngôn ngữ khoa học cũng đều có những đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ khoa học. II – ĐẶC TRƯNG CỦA PHONG CÁCH NGƠN NGỮ KHOA HỌC Phong cách ngôn ngữ khoa học có ba đặc trưng cơ bản: tính khái quát, trừu tượng; tính lí trí, lôgíc; tính khách quan, phi cá thể. Các đặc trưng ấy thể hiện ở cách sử dụng từ ngữ và cú pháp, đặc biệt là cách trình bày, lập luận trong một văn bản khoa học. 1. Tính khái quát, trừu tượng Đặc trưng này biểu hiện không chỉ ở nội dung khoa học mà cả ở các phương tiện ngôn ngữ, trước hết là các thuật ngữ khoa học. Trong văn bản khoa học có sử dụng một số lượng lớn các thuật ngữ khoa học. Ví dụ: vectơ, đoạn thẳng (Hình học); thơ, thơ cũ, thơ mới, thơ tự do,… (Nghiên cứu văn học). Thuật ngữ khoa học là những từ ngữ chứa đựng khái niệm của chuyên ngành khoa học, là công cụ để tư duy khoa học. Các khái niệm khoa học là kết quả của quá trình khái quát hoá và trừu tượng hoá của con người. Vì thế các thuật ngữ biểu hiện chúng cũng mang tính trừu tượng, khái quát cao. Những thuật ngữ đó có thể được xây dựng từ những từ ngữ thông thường, như trong Hình học có: điểm, đường thắng, đoạn thẳng, góc,…; cũng có thể được vay mượn từ hệ thống thuật ngữ khoa học tiếng nước ngoài như: ôxi, hiđrô, canxi cacbonat (Hoá học),…

Trên cơ thể người có những cơ quan thoái hoá, tức là di tích của những cơ quan xưa kia khá phát triển ở động vật có xương sống. Ruột thừa là vết tích ruột tịt đã phát triển ở động vật ăn cỏ. Nếp thể nhô ở khoé mắt là dấu uất mi một thứ ba ở bò sát trà chim. Mấu lồi ở mép vành tai phía trên của người là di tích đầu nhọn của vành tai thú. (Sinh học 12, NXB Giáo dục, 2006)

Đoạn văn trên có 4 câu, thể hiện một lập luận chặt chẽ theo kết cấu diễn dịch. Câu thứ nhất trình bày luận điểm, ba câu sau nêu ba luận cứ, mỗi luận cứ là một chứng tích trong hiện thực. Nhờ thế, luận điểm có tính thuyết phục cao. Tóm lại, đặc trưng tính lí trí, lôgíc của phong cách ngôn ngũ khoa học thể hiện ở tất cả các phương tiện ngôn ngữ: từ ngữ, câu văn, đoạn văn, văn bản. 3. Tính khách quan, phi cá thề Nét phổ biến của ngôn ngữ khoa học là sử dụng ngôn ngữ khách quan, phi cá thể. Ngôn ngữ trong văn bản khoa học, đặc biệt là văn bản khoa học chuyên sâu, văn bản khoa học giáo khoa, rất hạn chế sử dụng những biểu đạt có tính chất cá nhân. Do vậy, từ ngữ và câu văn trong văn bản khoa học có màu sắc trung hoà, ít biểu lộ sắc thái cảm xúc. Tính khách quan, phi cá thể trong sử dụng ngôn ngữ là đặc trưng thứ ba của ngôn ngữ khoa học, trái với phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, những phong cách ngôn ngữ mang dấu ấn cá thể của người sử dụng. GHI NHỚ – Văn bản khoa học gồm ba loại chính: các văn bản khoa học chuyên sâu, các văn bản khoa học giáo khoa, các văn bản khoa học phổ cập. – Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là trong các văn bản khoa học. – Phong cách ngôn ngữ khoa học có ba đặc trưng cơ bản: tính khái quát, trừu tượng; tính lí trí, lôgíc; tính khách quan, phi cá thể. Các đặc trưng đó thể hiện ờ các phương tiện ngôn ngữ như từ ngữ, câu, đoạn văn, văn bản. LUYỆN TẬP

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài 10 : Cách Mạng Khoa Học trên website 2atlantic.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!